Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM SINH HỌC

CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM SINH HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Kỹ năng soạn bài nâng cao, kỹ năng thể

5. TTSP



1.1 – 1.10



hiện bài giảng nâng cao, kỹ thuật dạy học

tích cực



8



- Mức độ cần đạt kỹ năng: Phối hợp

Ghi chú: Tham khảo thêm khung chuẩn đầu ra khối ngành sư phạm [7]

Thang phân loại của Bloom (1956) về lĩnh vực nhận thức.

Thang phân loại của của Dave (1972) về lĩnh vực kỹ năng [10

Vai trò của học phần: Học phần này dành cho các SV năm 4 và được học vào

học kì 8. Đây như là một học phần cụ thể trong chương trình dạy phổ thơng. Học

phần này được học sau khi các SV được học Tâm lí học, Giáo dục học và LLDH

Sinh học nên được kế thừa cũng như có kiến thức nhất định về ba học phần đó. Mỗi

Sv cũng đã nắm rõ được tâm lý lứa tuổi HS THPT qua học phần Tâm lí học; hiểu rõ

quy luật của quá trình giáo dục – dạy học thông qua phọc phần Giáo dục học; nội

dung môn Sinh học ở trường PT, PP dạy của GV và PP học của học sinh qua học

phần LLDHSSH. Qua 2 phần PPDHSH 10 và 11, mỗi SV cũng tích lũy cho mình

thêm kiến thức và rèn luyện kỹ năng dạy học cơ bản. Học phần PPDHSH 12 là học

phần cuối cùng về rèn luyện kỹ năng trước khi các SV chính thức thực tập tại các

trường THPT. Đó cũng là lý do để mỗi SV cố gắng để hoàn thiện mình hơn nữa.

Trong học phần này mỗi sinh viên không chỉ tiếp tục rèn luyện các kỹ năng dạy học

mà cần phải chuẩn hóa các kỹ năng và thực hiện được các kỹ năng nâng cao. Mỗi

SV cần biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học của mình vào mỗi bài

giảng cũng như cách xử lý tình huống lớp học. Theo đúng mục tiêu lấy người học

làm trung tâm, trong học phần này các SV không chỉ được học lý thuyết về PPDH

Sinh học 12 mà SV được rèn luyện nhiều kỹ năng như thông qua các hoạt động

DHVM, thiết kế các tập san Tiến hóa sau khi tổ chức tham quan Bảo tàng thiên

nhiên Việt Nam,được trao đổi kinh nghiệm dạy học với GV lâu năm, yêu nghề.

Trong các hoạt động cụ thể, SV được nghe, được dạy học, được đánh giá, được làm,

được tham gia các kỹ thuật dạy học như kỹ thuật “chạm”, hoạt động theo nhóm. Đó



39



cũng là những hoạt động sau này dạy học mỗi SV – những GV tương lai áp dụng

trong dạy học.

2.2. Xác định các kỹ năng dạy học cần đo của sinh viên Sinh học trường

ĐHSPHN

Theo tác giả Trần Bá Hoành, kỹ năng dạy học Sinh học gồm có 4 nhóm kĩ

năng cơ bản, bao gồm (1) Nhóm kĩ năng chuẩn bị lên lớp: xác định mục tiêu bài

học, phân tích chương trình và SGK, nghiên cứu đặc điểm trình độ HS, xây dựng kế

hoạch dạy học, soạn giáo án, chuẩn bị các phương tiện dạy học; (2) Nhóm kĩ năng

lên lớp: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, thực hiện bài mới, củng cố bài học, hướng dẫn

tự học, ra bài tập về nhà; (3) Nhóm kĩ năng thực hiện các hình thức dạy học khác: tổ

chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan, thực tập; (4) Nhóm kĩ năng kiểm tra,

đánh giá kết quả dạy học: làm đề kiểm tra, làm đáp án và thang điểm, tổ chức kiểm

tra – thi, trả bài [16].

Rèn luyện kỹ năng bằng phương pháp dạy học vi mô mỗi sinh viên cần phát

huy tính độc lập, sáng tạo trong quá trình vận dụng tri thức và kỹ xảo vốn có của

mình để giải quyết các tình huống mới trong dạy học. Sau mỗi lần giảng bài, sinh

viên nghe nhận xét từ SV khác và xem lại video bài giảng của mình nên cần nắm

được thơng tin phản hổi để tìm ra chỗ tốt, chỗ chưa tốt của KN đã thực hiện. Sau

đó, mỗi sinh viên sẽ điều chỉnh động tác hay các công cụ và luyện tập để đạt được

kết quả tốt hơn.Và trong các nhóm kỹ năng chính nêu trên thì chỉ có nhóm (2)

Nhóm kĩ năng lên lớp: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, thực hiện bài mới, củng cố bài

học, hướng dẫn tự học, ra bài tập về nhà là có thể áp dụng được PPDHVM. Bởi vì

các kỹ năng trong nhóm (2) này mới là “hành động dạy học” có thể thực hiện ghi

hình và phân tích đánh giá dễ dàng được theo nguyên tắc của DHVM.

Với mỗi sinh viên, việc rèn luyện kỹ năng là điều cần thiết. Mỗi sinh viên

sẽ phải rèn luyện cho mình rất nhiều kỹ năng để dạy học: kỹ năng thuyết trình, kỹ

năng giải thích, kỹ năng mở đầu, kỹ năng nhận xét, kỹ năng viết bảng, kỹ năng đặt

câu hỏi… Sự thành thạo các kỹ năng dạy học sẽ góp phần rất lớn và sự thành cơng

của bài học. Với phương pháp DHVM chúng tôi tiến hành phân tích hiệu quả rèn



40



luyện của phương pháp này đối với nhóm SV. Thơng qua thực tế tìm hiểu các kỹ

năng cơ bản nhất của SV và những kỹ năng mà chúng tơi nhận thấy có thể quan

sát rõ ràng nhất sự thay đổi của các SV thông qua các video bài dạy. Chúng tơi

tiến hành phân tích 3 kỹ năng của sinh viên: Kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đặt câu

hỏi, kỹ năng viết bảng có những lí do sau:

- Với mơn Sinh học, tác giả Wallace (1980) có u cầu đối với giáo viên môn

Sinh học về kỹ năng cũng như lĩnh vực sư phạm về: sự dễ dàng đặt câu hỏi, sự trợ

giúp bằng hình ảnh, sự lặp lại, sự sửa sai, sự sử dụng các trò chơi, sự sử dụng các quy

tắc, sự xác thực về ngôn ngữ, sự tái giao tiếp và sự chuẩn bị các bài dạy học [1].

- Đây là 3 kỹ năng cơ bản mà chúng tôi thấy cần thiết phải rèn luyện cho sinh

viên.

- Tiến hành DHVM đối với 3 kỹ năng này đều có thể quan sát và đánh giá

được. Đoaa là những kỹ năng dễ dàng nhận thấy ở SV

- Có thể xây dựng được các tiêu chí đánh giá cho cả ba kỹ năng này thông

qua dạy học vi mơ

2.2.1. Kỹ năng sử dụng bảng

Vai trò của bảng viết

- Chính xác hóa nội dung bài học, lưu lại lâu hơn bằng lời nói, trực quan hóa

nơi dung bài học

- Học sinh dễ nhớ bài khi giáo viên sử dụng hình vẽ, sơ đồ,… tạo hứng thú,

khích lệ trí tưởng tượng và óc thẩm mỹ

- Học sinh hiểu bài hơn, dễ theo dõi tiến trình bài giảng

- Trình bày bảng, gọn gàng, khoa học sẽ hình thành cho học sinh tính cẩn

thận, tính cẩn thận, chính xác.

- Đơi khi giáo viên dùng động tác viết bảng để điều khiển lớp

- Viết bảng đẹp sẽ gây thiện cảm với học sinh

Việc ghi và trình bày bảng nói chung ln đòi hỏi những yêu cấu về tính

khoa học nội dung chính xác), tính sư phạm (có những tác dụng giáo dục) và tính

thấm mỹ (viết chữ trình bày đẹp). Muốn thực hiện tốt những yêu cầu trên người



41



giáo viên cần thường xuyên có ý thức luyện tập, rút kinh nghệm trong việc viết chữ

và trình bày bảng sao cho hiệu quả nhất. Để luyện viết đẹp trên bảng lớp, ngoài

những điều kiện khách quan (chất lượng của bảng, phấn, thước kẻ, tầm nhìn và

bảng viết,…) người giáo viên cần chú ý những yêu cầu về kĩ thuật dưới đây.

Sử dụng phấn

Cách cầm phấn: Cầm phấn viết bảng bằng 3 ngón tay ( ngón cái, ngón trỏ,

ngón giữa) như cầm bút, nhưng khác cầm bút ở những điểm sau: Cả 3 ngón tay

đều tham gia vào việc giữ và điều khiển viên phấn (ngón giữa khơng khơng dùng

làm điểm tựa như cầm bút); Đầu ngón cái cách viên phấn khoảng 1cm (khơng

cầm sát viên phấn); Cầm phấn với độ chắc vừa phải (không cầm chặt quá hay

lỏng quá sẽ khó điều khển nét phấn).

Điều khiển viên phấn: Tùy theo hướng di chuyển của đầu phấn mà có thể

tăng thêm độ nhấn của ngón cùng hướng (VD: điều khiển nét viết sang bên phải thì

độ tăng nhấn của ngón cái nhiều hơn); Khi đưa đầu phấn lên, cầm nhẹ tay (tạo nét

thanh) nhưng khi đưa đầu phấn xuống, nên " miết " đầu phấn mạnh hơn một chút

tạo nét đậm cho con chữ, nhưng phải từ từ, tránh đột ngột, cố gắng tránh xóa chữ

viết để viết hay tô lại nét chữ vừa viết như vậy dù gì thì nhìn chữ vẫn khơng đẹp,

tạo thói quen xấu khi viết. Ln chú ý xoay đầu phấn để nét viết được đều đặn:

tránh viết tiếp khi đầu phấn bị mòn vẹt, tạo thành nét viết quá đậm và thô.

Tư thế đứng khi viết bảng.

- Khi viết ở tầm ngang bảng hoặc thấp dưới mặt của giáo viên, Người viết

cần nghiêng người về bên trái để HS nhìn rõ chữ viết của GV đang viết (khơng nên

cứ úp mặt vào bảng, che chữ đang viết, cô viết cứ viết, trò ngồi xem lưng cơ) .

- Tránh viết ở tầm bảng quá cao hay quá thấp, khó điều khiển phấn để viết

cho rõ chữ. Nếu bảng quá thấp, giáo viên có thể khom lưng hay gập chân thấp thấp

xuống để tạo được tầm viết ngang mặt.

Các yêu cầu khi viết bảng

Viết đúng (ngữ pháp – chính tả - qui luật, quy ước của ngôn ngữ sinh học)

- Viết rõ (kích thước đủ lớn, nét chữ rõ ràng)



42



- Viết thẳng hàng

- Viết đẹp: Đường nét cân đối; Bố cục hài hòa

- Viết nhanh (thời gian viết hợp lý)

- Tư thế viết bảng thoải mai (không úp mặt vào bảng, hơi nghiêng ngươi,

tránh tư thế cúi khom người hoặc ngồi khi viết bảng).

Một số chú ý khi viết bảng







Nội dung phải được dự kiến trước

Những ý chính, quan trọng giáo viên cần ghi lên bảng để học sinh ghi chép chính















xác

Những học sinh ghi chậm nhất cũng ghi được vào vở

Không viết lên bảng quá nhiều vấn đề

Không viết lửng, viết dở dang để học sinh hiểu được ý

Đánh đề mục cần nhất quán trong cả bài

Nét phấn không quá mờ q đậm, biết cách xoay phấn khơng mòn vẹt một bên.

Dùng phấn màu để nhấn mạnh hay phân biệt sự khác nhau. Màu phấn phải phù

hợp với màu bảng (bảng đen hợp với mọi loại bảng, bảng trắng hợp màu đen



hoặc xanh…)

• Chia bảng thành cột, có một phần giữ đến cuối giờ ghi nội dung quan trọng, có phần

để nháp.

• Giữ bảng ln sạch sẽ, xóa ngay phần không cần thiết để học sinhh tránh bị phân

tán tư tưởng.

• Xóa bảng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, chờ học sinh ghi xong mới xóa

• Kết hợp ghi bảng với lời nói để bài giảng khơng bị đứt đoạn, rời rạc. Viết bảng cần

nhanh để kịp với tiến trình bài giảng. Nếu viết bảng quá lâu, thời gian sẽ chết nhiều

gây cho lớp học khơng khí nặng nề

• Kiểm tra lại nhanh để kịp thời sửa lỗi nếu có

• Quy định viết tắt trước khi viết

Các bước thực hiện bảng phấn

Bảng 2.2. Các bước lưu ý trình bày bảng

Các bước



Nội dung



1. Quan sát và



Mặt bảng sạch



kiểm tra bảng



Vững chắc, an toàn



43



Chia bảng thành 3 thành phần đều bằng đường nét mờ nét

thẳng hoặc gợn sóng

Trên cùng, giữa bảng ghi tên bài

2. Bố cục bảng



Bên trái ghi dàn ý, cố định, khơng xóa

Phần giữa bảng dùng để giải thích, vẽ, phân tích, xóa

thường xun.

Phần bên phải bảng ghi từ khóa, cơng thức hoặc ý tưởng

quan trọng của chủ đề, học sinh làm bài tập.

Phần bên trái: Viết dàn ý, giữ cố định (khơng xóa) trong



3. Sử dụng bảng



suốt q trình giảng bài

Phần bên phải: ghi từ khóa, cơng thức, ý tưởng quan trọng

của chủ đề, học sinh làm bài

Đúng chính tả

To, rõ nét, dễ nhìn

Ghi tập trung, bám lấy trọng tâm



4. Cách ghi



Nội dung ghi tóm tắt nhưng phải thống nhất với hành văn,

tốt nhất nên ghi theo mệnh đề

Đề mục viết to, các mục viết nhỏ dễ quan sát thấy

Theo thứ tự I, 1, a, “-”, “+”, “.”.



5. Cách viết



Đứng xa bảng khoảng 20 cm và đứng sang 1 bên khi viết để

tận dụng được ánh sáng, đảm bảo cho người học dễ quan

sát, ghi chép và quan sát được học sinh khi viết

Cầm phấn thoải mái, khi viết xoay đầu phấn theo chiều kim

đồng hồ để cho nét chữ được đẹp.

Chữ viết và hình vẽ phải rõ ràng, thuật ngữ, định nghĩa,



44



công thức phải viết đủ lớn để mọi người quan sát được

6. Vẽ trên bảng



Vẽ phác trước

Vẽ hình đơn giản dễ hiểu



7. Lau bảng



Lau theo vệt dài

Lau từ trái sang phải bảng (vì lau trước sẽ khơ trước

Giáo viên quay mặt ra ngồi bảng và đi lùi khi lau



2.2..2. Kỹ năng thuyết trình

Trong cuốn “Lý luận dạy học hiện đại” có định nghĩa: “Thuyết trình là

phương pháp dạy học đặc trưng bởi sự phối hợp giữa truyền đạt tri thức mang tính

thơng báo của GV và việc tiếp thu mang tính tiếp thụ động của người học, thơng

qua đó, người học tiếp nhận thơng tin, xử lí về mặt nhận thức và phát triển các q

trình trí nhớ” [25].

Vai trò của thuyết trình

Những giả định về phương định thuyết trình: Thuyết trình là phương pháp tối

ưu để truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn trong một thời gian ngắn. Khi nghe

được càng nhiều thông tin thì học sinh càng học được nhiều. Học sinh có thể tập

trung được trong một thời gian dài. Với mục đích là truyền đạt được nhiều thơng tin

càng tốt, nên giáo viên dành tất cả thời gian để trình bày thay vì đặt câu hỏi, họ

cũng chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm của họ. Giáo viên truyền đạt rõ ràng

và dễ hiểu cho mọi học sinh do vậy không nhất thiết giáo viên phải kiểm tra kiến

thức tất cả các học sinh trên lớp. Khi thuyết trình giáo viên được toàn quyền quyết

định nội dung bài giảng do vậy không mất nhiều thời gian để chuẩn bị bài giảng. Có

thể sử dụng một bài giảng dùng trong nhiều năm. Thêm vào đó, phương pháp thuyết

trình mang lại hiệu quả, chất lượng cao và tiết kiệm chi phí.

Phương pháp thuyết trình là phương pháp cơ bản và quan trọng sử dụng để

truyền đạt kiến thức và thông tin. Trong một khoảng khơng gian ngắn, phương pháp

thuyết trình có thể cung cấp một lượng thông tin, kiến thức lớn cho nhiều người. Để



45



tăng hiệu quả của phương pháp thuyết trình thì kết hợp với các phương pháp dạy

học khác là điều cần thiết như: đóng vai, thảo luận, làm việc nhóm, tình huống.

Một số gợi ý để thực hiện bài thuyết trình thành cơng

- Đầu tiên, chuẩn bị cho bài thuyết trình cần xác định đối tượng HS, HS

khơng phải là chiếc bình để mơic giáo viên rót kiến thức vào. Học sinh chỉ có thể

tâp trung nghe GV giảng trong khoảng 20 phút đầu. GV cần xem xét độ tuổi, học

vấn, kinh nghiệm… của HS. Xác định được nhu cầu, mong muốn của HS với chủ

đề dạy học.

- Vấn đề tiếp theo là xác định mục tiêu bài giảng. Khi đã xác định được mục

tiêu bài giảng giúp GV lựa chọn được cách thức trình bày bài giảng có hiệu quả, đáp

ứng nhu cầu của HS và thúc đẩy HS dễ dàng tham gia vào các hoạt động của bài

giảng.

- Không thể thiếu là xác định nội dung bài học: Sắp xếp nội dung bài học có

giá trị, đáp ứng phù hợp với nguyện vọng của HS, phù hợp với thời gian cho phép.

Không nên tham nội dung mà bỏ những nội dung cốt lõi của bài học dựa vào mục

tiêu. Chuẩn bị một số câu hỏi để huy động kinh nghiệm của học sinh về nội dung

bài giảng.

- Cấu trúc của bài thuyết trình cần sắp xếp ra sao? Với các thơng tin ghi nhớ

qua thính giác bằng 20%, thông tin được ghi nhớ qua đọc bằng 30%, thơng tin ghi

nhớ qua nghe và trực quan hóa 50%. Khơng nên sử dụng phương tiện giảng dạy để

trình diễn, trang trí; cũng khơng nên nghĩ việc áp dụng các phương tiện hiện đại vào

giảng dạy là việc áp dụng phương pháp mới. Cần lập kế hoạch cụ thể chi tiết có thời

gian cho 1 bái thuyết trình có mở đầu, thân, kết thúc nội dung

Bảng 2.3. Các dạng thuyết trình

Dạng thuyết trình

Báo cáo/ Thơng tin



Nội dung

Trình bày khách quan về nội dung cũng như quá trình

theo trình tự thời gian, cũng như thông báo các nội dung



Mô tả/ Kể

Giải



thích/



thời sự.

Trình bày được nhấn mạnh về mặt cảm xúc bao gồm thái

độ và đánh giá của người dạy

Giảng Trình bày khách quan về các đối tượng hay quá trình



46



giải

Giới thiệu/ làm mẫu



trong các mối quan hệ và đặc điểm cơ bản

Giới thiệu các ngun mẫu, mơ hình, tài liệu và những

giải thích của chúng cũng như giới thiệu ảnh chiếu,…



Tiến trình bài thuyết trình

Nhập đề: Đánh thức hứng thú và kích thích động cơ; làm rõ mục tiêu thuyết trình

Trình bày: Thơng báo các thành phần cơ bản của nội dung, sử dụng các dạng

thuyết trình

Liên hệ: Liên hệ nội dung với cái đã biết; Minh họa nội dung qua các ví dụ

Kết thúc: Chỉ dẫn ứng dụng, khả năng chuyển giáo, bài tập; Truyền đạt viễn

cảnh của chủ đề

Những vấn đề thường gặp khi thực hiện phương pháp thuyết trình: Nghe

thuyết trình trong một thời gian dài khiến người nghe mệt mỏi. Khơng khuyến khích

được tính tích cực chủ động của học sinh. HS không được tham gia ý kiến, do vậy

Gv khơng thể có thơng tin phản hổi để điều chỉnh nội dung. Có khi giáo viên trình

ày lại những điều học sinh đã biết. Học sinh nhớ được ít thơng tin GV cung cấp

hoặc nhớ được nhưng chưa chắc đã trình bày và vận dụng được.

Trong khóa học, nếu chỉ sử dụng mỗi phương pháp thuyết trình sẽ khơng

thực sự đem lại hiệu quả cao vì những khuyết điểm mà phương pháp này đem lại.

Có nên thôi sử dụng phương pháp này trong dạy học? Tuy có nhiều khuyết điểm

nhưng chúng ta cũng khơng nên phủ định những ưu điểm của phương pháp thuyết

trình. Vấn đề ở chỗ chúng ta nên áp dụng phương pháp này như thế này như thế nào

để mang lại hiệu quả và chất lượng hiệu quả trong dạy học

Bảng 2.4. Thực hiện bài thuyết trình

Các bước



Mở đầu



Trình

bày nội



Nội dung

Trò chơi khởi động, câu chuyện, câu hỏi hướng vào mục tiêu

bài học

Thông báo mục tiêu bài học, vị trí bài giảng, trực quan hóa bài

giảng



Ngơn Âm lượng vừa đủ (khơng nhanh, khơng chậm)

ngữ

Tốc độ vừa phải (không nhanh, không chậm)



47



dung



Ngữ điệu thay đổi có nhấn vào những ý quan trọng

Ngơn ngữ sinh động, giàu hình ảnh (có thể minh họa ln bằn

hình ảnh)

Sử dụng câu văn ngắn, rõ nghĩa, không hàm ý

Ngôn Trang phục phù hợp, mơ phạm

ngữ

Nét mặt có sự biến đổi nhất là khi giao tiếp: mỉm cười, gật



đầu, nhăn mày… (Trong cuộc trò chuyện nên duy trì tiếp xúc

thể

bằng mắt 50 -60% thơi gian nói, 75-85% thời gian nghe)

Thể hiện quan tâm hứng thú

- Sự nghiêng xuống của cơ thể phía trên như gật đầu kèm điệu

bộ

- Có cái nhìn vui vẻ, tán thành

- Cách tay mở và giữ lại bàn tay

- Chuyển động của cánh tay hoặc bàn tay lên trên hoặc phía

dưới cơ thể

Thể hiện từ chối, nghi ngờ

- Ngả về phía sau một cách tự phát

- Bắt chéo của cánh tay trước ngực

- Cằm ép bên cổ

- Đầu lúc lắc

- Lơng mày nhíu lại

Thể hiện đáp lại tiêu cực

- Cánh tay bắt chéo

- Hai bàn tay đút trong túi

- Nghịch bút hoặc kính

- Mắt lảng tránh

- Gãi đầu



48



- Gõ tay

- Ít nói

- Hay nhìn đồng hồ

Củng cố kiến thức với kinh nghiệm của GV

Củng cố lại



Trình bày logic các phần đã dạy

Nêu câu hỏi, bài tập củng cố

Tổng kết lại nội dung giảng



2.2.3. Kỹ năng sử dụng câu hỏi

Với kỹ năng sử dụng câu hỏi thì phương pháp chủ chốt được dùng là phương

pháp “đàm thoại”. Theo cuốn Lý luận dạy học hiện đại thì “đàm thoại” là phương

pháp dạy học được đăc trưng bởi việc trao đổi giữa giáo viên và người học hoặc

giữa người học với nhau để cùng phát triển bài dưới sự điều khiển của giáo viên

thông qua việc đặt câu hỏi phù hợp với nội dung dạy học để từ đó, lĩnh hội được nội

dung bài học. Đàm thoại có chức năng giáo dục quan trọng. Nó giúp cho mỗi học

sinh giải quyết tốt hơn các vấn đề, tình huống gặp phải trong cuộc sống. Đàm thoại

được hiểu đơn giản là cuộc đối thoại giữa GV và HS; trong đó động cơ chủ yếu xuất

phát từ câu hỏi của GV. Đàm thoại được cấu trúc:

Khởi động: Một câu hỏi xuất phát hay đặt vấn đề

Phát triển: kinh nghiệm, quan sát, kiến thức có trước về đối tượng cũng như

vấn đề được tập hợp với nhau. Các xung đột làm sống động cuộc đàm thoại được

tạo ra.

Sắp xếp: những ý kiến được sắp xếp, qua đó có các cơ sở chung cho việc

trình bày các câu hỏi hay cho việc giải quyết các vấn đề cần tạo ra.

Ở đây, ta xem xét đến vấn đề đặt câu hỏi. Quyết định: các lập luận có thể

được so sánh và cân đối với nhau. Các thử nghiệm được tiến hành. Để trả lời các

câu hỏi gần như triệt để cũng như để giới hạn và giải quyết các vấn để [25]. Trình tự

đặt câu hỏi: Ra câu hỏi cho cả lớp chờ vài giây  đảm bảo mọi người đểu hiểu câu

hỏi  chỉ định vài HS trả lời  tìm kiếm sự nhất trí câu trả lời đúng.



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM SINH HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×