Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Một số công cụ đánh giá năng lực

2 Một số công cụ đánh giá năng lực

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



Đánh giá qua việc nhìn lại quá trình dựa trên một số cơ sở sau: HS cần có sức

mạnh nội tâm, cần biết tin vào chính mình, chấp nhận thất bại, khơng phấn đấu nếu

thấy mình khơng có khả năng. Trong quá trình học, HS cần được khen đúng lúc,

đúng chỗ và cần những thơng tin phản hồi tích cực về hành vi, hành động của chúng.

HS xây dựng lòng tự trọng trên cơ sở tự đánh giá. Tự đánh giá của HS sẽ mang yếu

tố tích cực khi dựa trên cảm xúc của mọi người yêu thương và tôn trọng. Nhận thức

của HS càng chin chắn thì những khái niệm về bản thân sẽ vượt ra ngoài sự tự đánh

giá vì nó được xây dựng trên cơ sở nhận thức đa chiều, từ nhiều góc nhìn khác nhau.

Tự tin là bước cần thiết đầu tiên để tự điều chỉnh hành vi có hiệu quả.

Bước tiếp theo để đạt đến sự trưởng thành là tự đánh giá chính xác và tự phê

bình. HS cần được giúp đỡ để phát triển sự tự nhận thức đúng đẵn về bản thân, biết tự

đánh giá trung thực, chính xác về điểm mạnh, yếu của bản thân, biết nhận ra những

giới hạn của mình. Từ đó khuyến khích HS vượt lên những lĩnh vực còn yếu, biết tơn

trọng NL của những người xuất sắc trong những lĩnh vực mà HS không thể đạt được.

Tự đánh giá trong học tập là một hình thức đánh giá mà HS tự liên hệ phần

nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học. HS sẽ học cách đánh giá

các nỗ lực và tiến bộ cá nhân, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi

để hoàn thiện bản thân. Những thay đổi có thể là một cách nhìn tổng quan mới về nội

dung, yêu cầu giải thích thêm, thực hành các kĩ năng mới để đạt đến mức độ thuần

thục. Tự đánh giá khơng chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá

những nỗ lực, quá trình và kết quả. HS cần tham gia vào quá trình quyết định những

tiêu chí có lợi cho việc học. Tự đánh giá có mức độ cao hơn nhìn lại quá trình.

1.2.3. Đánh giá qua hồ sơ

Hồ sơ học tập là tài liệu minh chứng cho sự tiến bộ của HS, trong đó HS tự

đánh giá bản thân mình, nêu những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích của mình, tự ghi

lại kết quả học tập trong quá trình học tập, tự đánh giá, đối chiếu với mục tiêu học tập

đã đặt ra để nhận ra sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộ, tìm nguyên nhân và cách khắc phục

trong thời gian tới… Để chứng minh cho sự tiến bộ, chưa tiến bộ, HS tự lưu giữ

những sản phẩm minh chứng cho kết quả đó cùng với những lời nhận xét của GV và

bạn học. Hồ sơ học tập cũng giống như một bằng chứng để xác định và điều chỉnh

quá trình học tập của HS cũng như để đánh giá hoạt động và mức độ đạt được của

HS. Tùy vào mục tiêu dạy học, GV có thể yêu cầu HS thực hiện tự xây dựng các loại

18



18



19



hồ sợ học tập khác nhau nhằm mục đích để HS tự xây dựng kế hoạch học tập, xác

định động cơ nhiệm vụ học tập, mục tiêu cần hướng tới đồng thời các em tự kiểm

sốt, tự đánh giá q trình học tập của mình về sự tiến bộ hay giảm sút về kiến thức,

kĩ năng, thái độ học tập.

Trên cơ sở kết quả đạt được trong quá trình học tập, HS tự điều chỉnh cách học,

động cơ học tập và mục tiêu cần hướng tới trong các giai đoạn tiếp theo. Các loại hồ

sơ học tập như : hồ sơ tiến bộ, hồ sơ quá trình, hồ sơ mục tiêu, hồ sơ thành tích. Đánh

giá qua hồ sơ học tập là sự theo dõi trao đổi ghi chép được của chính HS, những gì

các em nói, hỏi, làm, cũng như thái độ, ý thức của HS với quá trình học tập của mình

hay như đối với mọi người… nhằm làm cho HS thấy được những tiến bộ rõ rệt của

chính mình cũng như GV thấy được khả năng của từng HS để từ đó GV có thể đưa ra

hoặc điều chỉnh.

1.2.4. Đánh giá đồng đẳng.

Đánh giá đồng đẳng giúp HS làm việc hợp tác, tự đánh giá công việc của nhau,

học cách áp dụng các tiêu chí một cách khách quan. Đánh giá đồng đẳng đòi hỏi kĩ

năng giao tiếp tốt. Các em cần đưa ra phản hồi cho các bạn cũng với những nhận định

mang tính tích cực. Đánh giá đồng đẳng là một q trình trong đó các nhóm HS cùng

độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫn nhau. Một HS sẽ theo dõi bạn học của

mình trong suốt q trình học, do đó sẽ biết thêm các kiến thức cụ thể về cơng việc của

mình khi đối chiếu với GV. Phương pháp đánh giá này có thể được dùng như một biện

pháp đánh giá kết quả, nhưng chủ yếu được dùng để hỗ trợ HS trong quá trình học. HS

đánh giá lẫn nhau dựa theo các tiêu chí được định sẵn. Các tiêu chí này cần được diễn

giải bằng những thuật ngữ cụ thể và quen thuộc. Đánh giá đồng đẳng không nên được

coi là một giải pháp tiện lợi để giúp GV tiết kiệm thời gian. Chúng ta không nên để HS

quyết định tất cả việc đánh giá, Vai trò của GV là hướng dẫn HS thực hiện đánh giá

đồng đẳng và coi đó như một phần của quá trình học tập.

1.2.5. Đánh giá qua các bài kiểm tra

Bài kiểm tra là một phép lượng giá cụ thể mức độ, khả năng, thể hiện hành vi

trong lĩnh vực nào đó của một người. Đánh giá qua các bài kiểm tra được chia thành

ba loại gồm:

Quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, kĩ năng thực hành, nhận thức,

phản ánh vô thức.

19



19



20



Kiểm tra vấn đáp: Có tác dụng đánh giá khả năng, đáp ứng câu hỏi được nêu

trong một tình huống.

Bài viết: kiểm tra một lúc được nhiều HS, giúp đánh giá HS ở trình độ cao

gồm có câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm.

1.3 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

1.3.1. Năng lực vận dụng kiến thức

Theo tác giả Phan Thị Thanh Hội và Nguyễn Thị Tuyết Mai: “ Vận dụng kiến thức

vào thực tiễn là quá trình đem tri thức áp dụng vào những hoạt động của con người

nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội” [18]

- Năng lực VDKTVTT của HS là khả năng của HS có thể vận dụng

những kiến thức đã học để có thể giải quyết tốt các tình huống học tập

và những tình huống thực tiễn.

+ Các tình huống học tập như: tình huống xây dựng kiến thức mới dựa

trên việc vận dụng những kiến thức đã học từ trước; tình huống luyện

taaoj và giải các bài tập có vận dụng kiến thức đã học.

+ Các tình huống thực tiễn là các tình huống thực được gắn liền cuộc

sống, gắn liền với hoạt động sống của con người.

1.3.2. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

1.3.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh: “NLVDKT là khả năng của

bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu

quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt

động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. NLVDKT

thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn

nhu cầu chiếm lĩnh tri thức” [12]

Năng lực VDKTVTT của HS có thể hiểu là khả năng của bản thân người học

huy động, sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc qua trải nghiệm

thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa

dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó. Năng

lực VDKTVTT thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt

động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức [20]

1.3.2.2. Các năng lực thành tố và biểu hiện của năng lực VDKTVTT

20



20



21



Để thể hiện rõ về năng lực VDKTVTT, cần xác định rõ về các năng lực thành tố

của năng lực để từ đó chỉ ra biểu hiện phù hợp của từng năng lực thành tố. Khi gặp

tình huống thực tiễn, HS cần quan sát, nghiên cứu để có để phát hiện được vấn đề từ

thực tiễn cần giải quyết. Từ những vấn đề thực tiễn, nghiên cứu xem có thể sử dụng

kiến thức nào đã được học để giải quyết. để từ những nghiên cứu có thể đưa ra được

hướng giải quyết vấn đề và khả năng thực hiện giải pháp đưa ra. Và từ kết quả thu

được sau quá trình thực hiện thì HS có thể tự đánh giá được tính khả thi.

Hay như trong khi dạy học một kiến thức vật lí, GV có thể dẫn dắt, khơi gọi cho

HS có thể thấy được rằng kiến thức sẽ được vận dụng như thế nào trong đời sống hằng

ngày, để từ đó có để giúp HS phát hiện, khám phá ra những vấn đề mới. Muốn vậy thì

HS cần phải có khả năng phát hiện, phân tích và liên hệ với thực tiễn, ngồi ra còn phải

biết xử lí tình huống thực tiễn để có thể phát triển được năng lực VDKTVTT.

Từ những phân tích trên, những nghiên cứu đi trước về dạy học theo hướng

phát triển NL vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn đối với HS THPT về phát triển

năng lực VDKTVTT theo tôi đã hệ thống lại các NL thành tố và biểu hiện sau:

Bảng 1.1: Bảng mô tả các năng lực thành tố và biểu hiện của năng lực VDKTVTT

Năng lực thành tố

Phát hiện và làm rõ vấn



Biểu hiện

Mô tả được hiện tượng vật lí



đề cần nghiên cứu



Trình bày được các đặc điểm của vấn đề thực tiễn

Phát hiện và diễn đạt được các đặc điểm của vấn đề bằng



Chuyển vấn đề thực tiễn



ngôn ngữ khoa học



thành dạng có thể khám



Khả năng thu thập và xử lí thơng tin, diễn đạt vấn đề cần giải



phá giải quyết



quyết theo ngơn ngữ vật lí từ đó đưa ra các phương án giải

quyết vấn đề đó bằng những kiến thức vật lí.

Thu thập và xử lý thơng tin liên quan đến vấn đề

Đề xuất các phương án giải quyết



Năng lực đề xuất giải

pháp



Đánh giá tính khả thi của phương án đưa ra. Chọn phương án

tối ưu

Xây dựng kế hoạch và thống nhất kế hoạch

Khả năng tiếp cận, nhận thức, phát hiện được vấn đề trong



Thực hiện giải pháp đã

21



nội dung bài học, trong bài tập có liên quan với thực tiễn;

Phân công nhiệm vụ, tiến hành thực hiện giải pháp theo kế

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Một số công cụ đánh giá năng lực

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×