Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ - 0trang

tiễn, đó là những tình huống phức hợp đòi hỏi người giải quyết phải có năng lực

thực tiễn. Học khơng chỉ dừng lại ở mức hiểu mà phải ở mức độ biết áp dụng,

phân tích, tổng hợp và đánh giá những kiến thức đã lĩnh hội. Theo chiều hướng

này quan điểm tích hợp nhằm đáp ứng lại một trong những thách thức của xã hội

chúng ta là đảm bảo cho mỗi HS có khả năng huy động hiệu quả những kiến

thức, năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất

hiện và nếu có thể, để đối phó với những khó khăn bất ngờ, tình huống chưa

từng gặp.

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu cơ sở

lý luận về tích hợp và các biện pháp nhằm vận dụng tích hợp vào q trình giảng

dạy thực tiễn. Khi nghiên cứu về sư phạm tích hợp, đã có nhiều cơng trình được

cơng bố, nhiều cuộc hội thảo được tổ chức.

Ở cấp THCS cũng có đề tài nghiên cứu tích hợp các mơn Khoa học Tự

nhiên và Khoa học Xã hội của PGS.TS.Nguyễn Thị Minh Phương ở Viện khoa

học giáo dục Việt Nam với đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu thử nghiệm bước đầu tài

liệu tích hợp một số môn Khoa học Tự nhiên – Khoa học Xã hội trong nhà

trường THCS”.

Gần đây nhất, vào năm 2015, Trường ĐHSP Hà Nội cũng đã triển khai

biên soạn và xuất bản bộ sách bồi dưỡng GV, trong đó bộ sách “DHTH phát

triển năng lực HS” gồm 2 quyển: Quyển 1: Khoa học tự nhiên; Quyển 2: Khoa

học xã hội. Bộ sách giúp GV có tài liệu tham khảo, dễ dàng hơn trong việc lựa

chọn nội dung và chủ đề tích hợp góp phần tích cực vào đổi mới phương pháp

dạy học ở trường phổ thơng.

Một số cơng trình nghiên cứu về DHTH khác như: Đào Trọng Quang với

bài “Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, cơ sở lý luận và một số

kinh nghiệm” in trên Tạp chí nghiên cứu giáo dục năm 1997 đã đề cập bản chất

của sư phạm tích hợp, quan điểm tích hợp, một số nguyên tắc chỉ đạo tích hợp,

một số kỹ thuật tích hợp.



5



Trong cuốn “Đổi mới dạy và học ngữ văn ở THCS” của Đỗ Ngọc Thống

được NXB Giáo dục xuất bản năm 2002 đã nêu ra một hệ thống quan điểm tích

hợp và dạy học theo hướng tích hợp. Tác giả đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa

cộng gộp các kiến thức (Combinaison) và tích hợp kiến thức (Integration).

Trong cơng trình “Sử dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị trong giảng

dạy bộ mơn lịch sử THPT theo quan điểm tích hợp liên mơn”, Phạm Văn Thiên

đã vận dụng quan điểm liên môn để đề xuất cách sử dụng kiến thức văn học, địa

lý, chính trị vào giảng dạy môn lịch sử và đề xuất một số bài mẫu theo quan

điểm này.

Đối với cơng trình nghiên cứu “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy

học các vấn đề văn hóa trong SGK lịch sử THPT” của Trần Viết Thụ (1997), tác

giả đã vận dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị vào q trình giảng dạy bộ

mơn lịch sử theo quan điểm liên mơn.

Trong cơng trình “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải

phẫu sinh lý người ở lớp 9 THCS”, tác giả Lê Trọng Sơn đã nhấn mạnh giáo dục

dân số là vấn đề quan trọng, việc tích hợp giáo dục dân số vào mơn Sinh học 9

là thích hợp đối với nội dung môn học cũng như độ tuổi của HS.

Như vậy, việc vận dụng những quan điểm tích hợp vào giảng dạy đã và

đang thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục cũng như GV. Những cơng

trình nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục và GV đã khẳng định việc vận dụng

quan điểm tích hợp vào dạy học là một trong những xu hướng dạy học tất yếu

hiện nay.

1.2 Các khái niệm

1.2.1 Khái niệm tích hợp

Tích hợp là một hoạt động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ, huy động các

yếu tố, có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết một vấn đề, qua

đó đạt được nhiều mục tiêu khác nhau.

1.2.2 Dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh

những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy

6



động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều đó cũng

có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được

trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành

một người cơng dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực. Dạy học

tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống

của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa

đối với học sinh. Với cách hiểu như vậy, DHTH phải được thể hiện ở cả nội

dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình

thức tổ chức dạy học. Như vậy, thực hiện DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng

thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò

của người chủ gia đình, người cơng dân, người lao động tương lai.[6]

Theo Xavier Roegiers, “khoa sư phạm tích hợp” là một quan niệm về một

quá trình học tập, trong đó tồn thể các q trình học tập góp phần hình thành ở

HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm

phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc hòa nhập HS vào cuộc sống

lao động. Trong thực tiễn vận dụng, có thể hiểu DHTH là một phương pháp sư

phạm, trong đó người học huy động nhiều nguồn lực để giải quyết một tình

huống có vấn đề trong thực tiễn.[4]

1.2.3 Chủ đề tích hợp

Chủ đề tích hợp là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai

hay nhiều mảng khác nhau của một môn học hay nhiều môn học khác nhau thể

hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự

nhiên hay xã hội. [6]

Chủ đề tích hợp phải gắn với thực tiễn nên sinh động và cụ thể đối với HS,

có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS. Với các chủ đề

tích hợp HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các

tình huống thực tiễn, tránh việc ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó

năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển.



7



1.2.4 Năng lực

Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn

có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các

kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí,…

thực hiện thành cơng một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn

trong những điều kiện cụ thể.

Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm kỹ năng, thái

độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình

huống đa dạng của cuộc sống (Québec- Ministere de l’Education,2004).

Năng lực là những khả năng nhận thức và kĩ năng vốn có hoặc học được

của cá thể nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động

cơ, ý trí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề trong

những tình huống thay đổi một cách thành cơng và có trách nhiệm (Weinert,

2001).[2]

1.2.5 Khái niệm về năng lực thực nghiệm

Năng lực thực nghiệm là một dạng năng lực nhận thức khoa học, được

hiểu là năng lực nghĩ ra PATN khả thi cho phép đề xuất hoặc kiểm tra những

giả thuyết hay phỏng đoán khoa học và thực hành được TN thành công để

rút ra kết luận cần thiết (chứ không phải chỉ đơn thuần là năng lực thao tác

TN, hiểu theo nghĩa là năng lực thực hiện được các thao tác bằng tay, quan

sát, đo đạc).[7]

Năng lực thực nghiệm của học sinh phổ thông là sự làm chủ những hệ

thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí để

thực hiện thành cơng nhiệm vụ thực tế trong q trình học tập ở trường phổ

thơng.



8



* Tiêu chí đánh giá năng lực thực nghiệm [7]

Mức độ 1

Đề xuất vấn đề Tiếp nhận vấn đề



Biểu hiện

Mức độ 2

Phát biểu vấn đề dựa



Mức độ 3

Tự lực phát biểu



nghiên cứu



trên quan sát theo hướng



vấn đề quan sát



2



Nêu dự đoán



Tiếp nhận dự



dẫn của GV

Lựa chọn dự đoán



Tự lực nêu dự



3



khoa học

Suy ra HQLG



đốn

Tiếp nhận



Suy ra HQLG có gợi ý



đốn

Tự lực suy ra



4



từ dự đoán

Xây dựng



Tiếp nhận PATN



của GV

Xây dựng PATN dưới sự



HQLG

Tự lực xây dựng



5



PATN

Tiến hành



Bắt chước



hướng dẫn của GV

Tiến hành TN dưới sự



PATN

Tự lực tiến hành



6



TNKT

Xử lí số liệu



Làm theo mẫu



hướng dẫn của GV

Xử lí số liệu dưới sự



TN

Tự lực xử lí số



hướng dẫn của GV



liệu



Rút ra kết luận theo



Tự lực rút ra kết



TT

1



Tiêu chí



TN

7



Rút ra kết luận



Tiếp nhận kết



luận

hướng dẫn của GV

1.3 Vận dụng dạy học tích hợp trong dạy học



luận



1.3.1 Đặc điểm của DHTH

Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lý

thuyết và dạy thực hành, qua đó ở người học hình thành một năng lực nào đó

hay kỹ năng hành nghề nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Dạy học phải làm

cho người học có các năng lực tương ứng với chương trình. Do đó, việc dạy kiến

thức lý thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ

trợ cho sự phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học.

Trong dạy học tích hợp, lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học chuyên

ngành về những vấn đề cơ bản, về những quy luật chung của lĩnh vực chuyên

ngành đó. Hơn nữa, việc dạy lý thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lý thuyết

sng, kiến thức sách vở khơng mang lại lợi ích thực tiễn. Do đó, cần gắn lý

thuyết với thực hành trong q trình dạy học. Thực hành là hình thức luyện tập

để trau dồi kỹ năng, kỹ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững

9



kiến thức lý thuyết. Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lý giáo dục học đi

đôi với hành,lý luận gắn với thực tiễn. Thực hành phải có đủ phương tiện, kế

hoạch, quy trình luyện tập gắn ngay với vấn đề lý thuyết vừa học. Để hình thành

cho người học một kỹ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy

động hợp lý các nguồn lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ). Như vậy,

người dạy phải định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên hoạt động

của người học. Sự định hướng của người dạy góp phần tạo ra mơi trường sư

phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát triển của người học mà mục

tiêu bài học đặt ra và cách giải quyết chúng. Người dạy vừa có sự trợ giúp vừa

có sự định hướng để giảm bớt những sai lầm cho người học ở phần thực hành;

đồng thời kích thích,động viên người học nảy sinh nhu cầu, động cơ hứng thú để

tạo ra kết quả mới, tức là chuyển hóa những kinh nghiệm đó thành sản phẩm của

bản thân.

Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của

đời sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết

nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những

điều mình chưa rõ chứ khơng phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo

viên sắp xếp. Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe,

nhìn,...và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ

bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng. Từ đó, người học vừa nắm được kiến

thức vừa nắm được phương pháp thực hành. Như vậy, người dạy không chỉ đơn

thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành.

1.3.2 Các mức độ tích hợp

Theo Xavier Roegies, có 4 cấp độ tích hợp trong dạy học:

+ Tích hợp trong nội bộ mơn học

+ Tích hợp đa mơn

+ Tích hợp liên mơn

+ Tích hợp xun mơn

1.3.2.1 Tích hợp trong nội bộ môn học (Intradisciplinary Approach):



10



Theo phương án này, các môn, các phần vẫn được học riêng rẽ, nhưng

trong q trình giảng dạy, tích hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những

nội dung trùng lắp, khai thác sự hỗ trợ giữa các phân môn, giữa các phần trong

một phân mơn/mơn học. Tích hợp những nội dung của các phân môn, các lĩnh

vực nội dung môn thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài cụ

thể nhất định .Tích hợp đọc, viết và giao tiếp ngơn ngữ nói trong mơn Ngơn ngữ

là một ví dụ. Giáo viên tích hợp lịch sử, địa lý, kinh tế, và chính quyền trong nội

bộ chương trình mơn học Nghiên cứu xã hội. Thơng qua kiểu tích hợp nội bộ

mơn học này, người học được trông đợi đạt được hiểu biết về các mối quan hệ

giữa những phân môn khác nhau và mối quan hệ giữa chúng với thế giới.

1.3.2.2 Tích hợp đa mơn (Multidisciplinary)

Khi HS nghiên cứu về một vấn đề nào đó, các em được đồng thời tiếp cận

từ nhiều mơn học khác nhau. Ví như, chủ đề Truyền thống yêu nước của nhân

dân Việt Nam, HS có thể được tiếp cận trong môn Lịch sử, môn Văn học, môn

GDCD, Âm nhạc. Từ cách tiếp cận đa môn này, GV không cần thay đổi nhiều

nội dung môn học, nội dung và đánh giá vẫn theo bộ môn, HS có thể tạo ra

những kết nối giữa các bộ mơn để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, theo quan điểm

này, những môn học vận được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một

số thời điểm trong q trình nghiên cứu các chủ đề, chính vì vậy mà các mơn

học chưa thực sự được tích hợp.

1.3.3.3 Tích hợp liên môn (Interdisciplinary)

Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có các chủ đề, các

vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn. Chương trình liên mơn tạo

ra những kết nối rõ rệt giữa các mơn học. Chương trình xoay quanh các chủ đề/

vấn đề chung nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh

giữa các môn chứ không phải trong từng mơn riêng biệt.

Tích hợp liên mơn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều mơn

học liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ

đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp. Ví dụ như địa lý, lịch sử, sinh học,

xã hội, cơng dân giáo dục, hố, lý, được tích hợp thành mơn “Nghiên cứu xã hội

11



và mơi trường” ở chương trình giáo dục bậc tiểu học tại Anh, Úc, Singapore,

Thái Lan.

1.3.4.4 Tích hợp xun mơn (Transdisciplinary)

Cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với HS mà

không xuất phát từ các khoa học tương ứng với mơn học, từ đó xây dựng nên các

môn học mới khác với môn học truyền thống. Cac tiếp cận này bắt đầu từ ngữ

cảnh cuộc sống thực. Điều được quan tâm nhất ở đây chính là sự phù hợp đối với

HS. Điểm khác tích hợp liên mơn ở chỗ: nó xuất phát từ ngữ cảnh cuộc sống thực

và sở thích của HS.Ví dụ: Xuất phát từ bối cảnh “Ơ nhiễm mơi trường và cần làm

trong sạch môi trường thành phố”, nhà trường đưa ra một chương trình tích hợp

phong phú, HS lựa chọn các vấn đề về môi trường và tiến hành thu thập thông tin,

nghiên cứu và đề xuất các biện pháp làm trong sạch mơi trường.

1.3.3 Vận dụng dạy học tích hợp trong dạy học vật lí nhằm phát triển năng

lực thực nghiệm của HS

Mơn Vật lí ở trường THCS có nhiệm vụ đóng góp vào thực hiện mục tiêu

giáo dục phổ thơng. Mục tiêu giáo dục xuyên suốt vẫn là giáo dục toàn diện, coi

trọng trí, thể, mỹ, đức, tạo ra những con người lao động mới có trí tuệ, có nhân

cách, năng động, sáng tạo, chủ động thích ứng với nền kinh tế tri thức và sự phát

triển của thời đại.

Dạy học vật lí là một q trình rèn luyện tồn diện, gắn liền với sự phát

triển trí tuệ của HS trong môi trường kinh tế - xã hội nhất định. Thông qua dạy

học vật lí, HS lĩnh hội được hệ thống kiến thức cơ bản, vững chắc ở mức độ hiện

đại của vật lí học, phát triển tư duy và năng lực sáng tạo, hình thành thế giới

quan duy vật biện chứng, giúp HS u thích tìm tòi khoa học, có ý thức vận

dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống. Do các mục tiêu trên nên việc vận

dụng DHTH trong trường THCS là rất cần thiết. Trong quá trình dạy học, các

mạch nội dung cần được tổ chức sao cho vừa tích hợp theo nguyên lí của tự

nhiên, vừa đảm bảo logic bên trong của từng mạch nội dung.

Bên cạnh đó, vật lí là mơn khoa học có sự kết hợp nhuần nhuyễn lí thuyết

với thực nghiệm. Vì vậy, thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành, phòng

12



học bộ mơn, ngồi thực địa có vai trò và ý nghĩa quan trọng, là hình thức dạy

học đặc trưng của mơn học này. Qua đó, năng lực tìm tòi, khám phá của học sinh

được hình thành và phát triển. Nhiều kiến thức vật lí rất gần gũi với cuộc sống

hằng ngày của học sinh, đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức cho học sinh trải

nghiệm, nâng cao năng lực nhận thức kiến thức khoa học, năng lực tìm tòi,

khám phá và vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn.

Như vậy, cần thiết phải vận dụng dạy học tích hợp trong dạy học vật lí để

phát triển năng lực thực nghiệm của HS.



13



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn vận dụng DHTH vào dạy học vật

lí nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho HS có thể rút ra một số kết luận

như sau:

1. DHTH là một quan niệm trong đó tồn thể các q trình học tập góp

phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, nhằm phục vụ quá trình học tập

tương lai, hòa nhập cuộc sống lao động, làm cho q trình học tập có ý nghĩa

2. DHTH đã được nghiên cứu và vận dụng trên thế giới, ở Việt Nam đang

được nghiên cứu và vận dụng với nhiều mơn học trong đó có dạy học vật lí.

Nhiều cơng trình nghiên cứu và vận dụng giáo dục DHTH đối với mơn vật lí đã

bước đầu thành cơng và có hiệu quả.

3. Sự cần thiết của việc vận dụng DHTH trong dạy học vật lí ở THCS: cần

vận dụng quan điểm DHTH vào dạy học vật lí để học sinh có thể vận dụng kiến

thức của mình vào tình huống có ý nghĩa, tức là phải quan tâm đến dạy học theo

định hướng phát triển năng lực, ở đây khóa luận đề cập đến năng lực thực

nghiệm của HS.



CHƯƠNG 2

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC TÍCH HỢP THIẾT KẾ KẾ

HOẠCH DẠY HỌC KIẾN THỨC THUỘC CHỦ ĐỀ “ĐIỆN TỪ HỌC”

NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC NGHIỆM CỦA HS THCS



14



2.1 Quy trình thiết kế chủ đề tích hợp [6]

Bước 1: Nghiên cứu lí luận về dạy học tích hợp.

Bước 2: Phân tích chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung dạy

học gần giống nhau có gắn kết chặt chẽ tự nhiên với nhau trong các môn học của

chương trình, hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn đề thời sự của địa

phương, đất nước và có thể là những vấn đề nóng đang được quan tâm của tồn

cầu để xây dựng chủ đề/bài học tích hợp.

Bước 3: Xác định chủ đề tích hợp, bao gồm tên bài học và lĩnh vực thuộc

mơn học nào, đóng góp của các mơn đó vào bài học. Dự kiến thời lượng cho chủ

đề tích hợp.

Bước 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: kiến thức, kĩ

năng, thái độ, định hướng năng lực hình thành và phát triển cho HS.

Bước 5: Xây dựng các nội dung chính trong bài học tích hợp. Căn cứ vào

thời gian dự kiến, mục tiêu, đặc điểm HS để xây dựng nội dung cho phù hợp.

Bước 6: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng và các hướng dẫn về nguồn tài

liệu bổ trợ, các phương tiện kĩ thuật cho HS thực hiện nội dung các chủ đề tích

hợp. Bước 7: Xây dựng các tiêu chí đánh giá nội dung các chủ đề tích hợp đã

xây dựng và tính hiệu quả của chúng trong việc hình thành và phát triển năng

lực cho HS trong dạy học. Đề xuất các cải tiến cho phù hợp với thực tế

2.2 Quy trình thiết kế bài dạy tích hợp

Xác định bài dạy tích hợp

- Xác định các bài dạy tích hợp thơng qua hoạt động phân tích bài dạy, các

bài dạy tập trung hướng đến hình thành các năng lực, phần lí thuyết trong bài

dạy là phần kiến thức lí thuyết mới, phục vụ cho việc thực hành kỹ năng.

Biên soạn giáo án tích hợp

- Xác định mục tiêu của bài học: Xác định các chuẩn kiến thức, kỹ năng và

thái độ và năng lực

- Xác định nội dung bài học.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×