Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Về nội dung phản ánh

b. Về nội dung phản ánh

Tải bản đầy đủ - 0trang

đức Nho gia. Do vậy, nội dung phản ánh của truyện có phần mở rộng hơn so với

TTDT của tác giả Lê Thánh Tông.

Xét ở giai đoạn văn học thế kỷ XVIII trở đi, hai tác giả Đoàn Thị Điểm và

Vũ Trinh sống ở giai đoạn cuối của thời đại lịch sử suy vi trầm trọng. Con người

thời đại đó cũng khơng còn sống theo lý tưởng trung qn ái quốc mà họ biết sống

vì mình, sống cho cá nhân mình. Bởi họ nhận ra xã hội mà trước đây họ một lòng

tơn thờ thì nay khơng còn nên họ sẵn sàng bứt bỏ, đứng lên đòi giải phóng cái tơi cá

nhân, đi theo tiếng gọi con tim, xóa bỏ những tư tưởng cổ hủ với cái nhìn phóng

khống, cởi mở hơn. Điều đó được phản ánh rõ nét trong hai tập truyện của hai tác

giả Đoàn Thị Điểm với TKTP và Vũ Trinh với LTKVL.

Ở TKTP, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm không đi sâu phản ánh những số phận bị kịch

của người phụ nữ mà tác giả đi khắc sâu uy lực của người phụ nữ qua những thắng

lợi hết lần này đến lần khác và hạ thấp vai trò của nam giới. Có thể nói, vai trò của

người phụ nữ đến TKTP đã được nhìn nhận ở mức độ coi trọng, đề cao nhân vật. Điều

mà các tác giả trước tuy có quan tâm tới nhưng khơng dám khẳng định. Ở sáng tác của

Nguyễn Dữ, nhân vật nữ được ca ngợi dưới góc nhìn như những liệt nữ thì đến Đồn

Thị Điểm bà còn nâng lên một tầm mới nhìn họ như là thánh nữ. Họ khơng chỉ có vai

trò trong gia đình mà họ còn là những người có tài trí khơng kém gì bậc nam nhi.

Còn LTKVL tác giả Vũ Trinh, ông mở rộng ra ở rất nhiều đề tài như: phê phán tệ

nạn xã hội, đề tài giáo dục thi cử, đề tài tình cảm gia đình trong đó có đề tài viết về

người phụ nữ. Ở đề tài này, Vũ Trinh một mặt phê phán các tệ nạn phân biệt đẳng

cấp trong xã hội, mặt khác tác giả đi bênh vực, đòi lại những quyền lợi chính đáng

cho người phụ nữ yếu đuối dưới thời đại đó. Đây là một điểm cách tân mới mẻ mà

trước đây tác giả Nguyễn Dữ đã bất lực khi tìm hướng giải thốt cho nhân vật.

Viết về người phụ nữ với tình u đơi lứa, Vũ Trinh đã dựng lên một bức

tranh tương phản: “Tư tưởng phong kiến hạ thấp người phụ nữ trong truyện của Vũ

Trinh thì phẩm chất của họ lại sáng ngời và nổi bật hơn ai hết” [47]. Xã hội phong

kiến ln có quan niệm định kiến với những người làm nghề ca xướng, vì vậy

người làm nghề “con hát” ln bị xã hội khinh bỉ. Chính Nguyễn Dữ trong TKML

đã có lần thốt lên quan điểm định kiến ấy trong Chuyện nàng Túy Tiêu như sau:

“Túy tiêu là một ả ca xướng chẳng là người chính chuyên”. Ngược lại, trong truyện



65



Ca kỹ họ Nguyễn, tác giả đặt cô ca kỹ trong khung cảnh xã hội xưa khi quan niệm

phong kiến về nghề ca hát còn rất khắt khe, nghề đó bị coi là mạt hạ nhất . Người

làm nghề này bị xếp tận cùng xã hội, không được tôn trọng cho dù họ có chân

chính, nhan sắc thế nào. Và lẽ dương nhiên vì thế nên “thiếp khơng có phúc được

làm vợ chàng thì những thứ tiền bạc này đâu có phúc để nhận”. Trong lời bàn cuối

truyện, Lan trì ngư giả cho rằng: “Trái tim kiên trinh, khí tiết hào hiệp, con mắt tinh

đời, cơ gái trong truyện trên đều có đủ cả, vô luận là trong đám quần thoa hay bậc

mày râu cũng khơng có thiếu” [50,70]. Ở đây Vũ Trinh đã để cho nhân vật tự ý thức

về mình, ý thức về thân phận mình, kiếp sống của mình mà khơng hề ốn trách

Khâm Lân, ốn trách con Tạo gây ra cho kẻ hồng nhan bạc mệnh – là nét tiến bộ

trong sáng tác của ông so với đương thời. Nàng Túy Tiêu của Nguyễn Dữ khơng có

được điều đó.

Nếu như nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bênh vực người phụ nữ bằng cách ngợi ca

những phẩm chất tốt đẹp của họ, thì Vũ Trinh lại đi sâu phản ánh những tác động

bên ngồi đối với người phụ nữ. Do đó, những câu chuyện trong LTKVL của Vũ

Trinh chủ yếu nói lên bi kịch của nữ giới phần nhiều có ý nghĩa xã hội. Khi viết tác

phẩm này, Vũ Trinh đã ít nhiều nói lên một quan niệm: tác phẩm văn chương không

chỉ để mở rộng hiểu biết và chiêm nghiệm lẽ đời, lẽ trời, để bổ sung cho sử sách, mà

còn để giáo huấn, để bày tỏ nỗi lòng. Nếu nhân vật bị phê phán của Nguyễn Dữ là

giai cấp thống trị thì nhân vật bị chê trách của Vũ Trinh lại là những con người bình

thường trong xã hội. Khơng phải tác giả Vũ Trinh khơng nhìn thấy những hạn chế

của giai cấp thống trị mà có lẽ rằng những va đập của cuộc đời, những sai lầm trên

bước đường chính trị đã khiến nhà văn chới với trước những biến động của thời

cuộc. Vì vậy mà sáng tác của tác giả Vũ Trinh chủ yếu lấy cảm hứng từ con ngừơi

trong đời thường, chỉ ra những hạn chế ấy của họ với một thái độ nhẹ nhàng và

mong muốn họ thay đổi để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Qua đó thể hiện

một cái nhìn đầy ý nghĩa nhân văn của tác giả ln vì con người, luôn quan tâm tới

con người.

2.3. Lý giải sự khác biệt

Các tác giả truyền kỳ khi nhìn nhận và xây dựng hình tượng người phụ nữ

trong truyện, giữa họ có sự khác biệt là do hai nguyên nhân chính:



66



Thứ nhất, nguyên nhân thời đại lịch sử: Mỗi một thời đại lịch sử khác nhau

sẽ có một lớp nhà văn, sáng tác ra những sản phẩm tinh thần khác nhau. Truyện

truyền kỳ cũng tương tự như vậy. Giai đoạn đầu thế kỷ XV - XVI là giai đoạn lịch

sử với nhiều biến động, thăng trầm. Thế kỷ XV đánh dấu sự huy hồng của dân tộc

dưới sự trị vì của vua Lê Thánh Tơng. Ơng là người đầu tiên đưa Nho giáo lên vị trí

độc tơn nhưng ngược lại ơng khơng q khắt khe, bảo thủ với những tín điều khơ cứng

của Nho gia mà dung hòa nó theo một hướng nhìn cởi mở hơn. Việc quan tâm đến con

người cũng là một điểm mới trong lối tư duy của tác giả so với các nhà văn khác. Tác

giả được coi là người đánh dấu mốc đổi mới trong việc tách khỏi những cách ghi chép

thuần túy của văn học dân gian, lịch sử thay vào đó là sự sáng tạo nghệ thuật mới trong

tư duy người cầm bút. Tác giả bắt đầu quan tâm đến con người và đưa con người trở

thành đối tượng trung tâm phản ánh nghệ thuật.

Tiếp sang giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVI - XVII. Đây là giai đoạn chế độ

phong kiến Việt Nam đã bước qua đỉnh cao thịnh trị ở thế kỷ XV và có những dấu

hiệu suy thối, khủng hoảng. Ngun nhân là do các bậc vua chúa mải mê ăn chơi,

hưởng lạc, khơng làm tròn trách nhiệm của bậc “ thế thiên hành đạo” đối với nhân

dân. Hơn nữa, họ còn cùng nhau tranh giành quyền lợi, ngơi vị đế vương dẫn đến

các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên khiến cho đời sống nhân dân đã khổ cực lại

càng khổ cực hơn. Chính sự rạn vỡ ấy kéo theo những giá trị văn hóa, tư tưởng của

thời đại cũng bị ảnh hưởng sâu sắc. Nho giáo đã bắt đầu lung lay nhường chỗ cho

sự trở lại của Phật giáo. Con người trước đây một lòng theo đạo trung quân ái quốc

thì nay lý tưởng ấy khơng còn được coi trọng. Con người biết sống vì mình, biết đòi

hỏi những quyền lợi riêng tư cá nhân đáng có của bản thân. Và họ nhận ra chính cái

lý tưởng sống một thời trung quân ái quốc kia lại là nguyên nhân gây nên đau khổ

cho họ. Nho giáo khơng còn vị trí độc tơn, sự xuất hiện của Phật giáo đã hài hòa

được những tư tưởng cổ hủ thay vào đó là cái nhìn có phần tiến bộ, phóng khống.

Văn hóa dân gian, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình lại phát triển mạnh. Và một trong

những tín ngưỡng dân gian rất phát triển là tín ngưỡng phồn thực. Những uy quyền

của thần quyền và pháp quyền phong kiến giờ đây khơng còn đủ sức trói buộc ý chí

và bàn tay người nghệ sĩ dân gian. Người ta ca ngợi nhu cầu tự nhiên của con

người, sự sinh sôi nảy nở của tạo vật như là một lẽ phát triển tự nhiên của vạn vật.



67



Những hình ảnh yêu đương và ân ái dưới con mắt của nhà Nho bị xem là dung tục,

tầm thường, suồng sã trong TKML lại tỏ ra rất gần gũi với những hình ảnh tạo hình

dân gian như các cảnh trai gái tình tự, vuốt ve nhau, thiếu nữ tắm khỏa thân... Với

những điều trên, TKML xứng đáng là tác phẩm văn học mở đầu cho phong cách

nghệ thuật phản ánh những cái bình thường, thơng tục, phản ánh những bi kịch của

con người trần thế.

Sang đến thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tình hình đất nước càng thể hiện rõ

sự biến động khủng hoảng trên mọi phương diện. Các cuộc tranh chấp của vua chúa

diễn ra gay gắt, người nông dân ngày càng khổ cực điêu đứng hơn bao giờ hết. Văn

hóa lúc này với sự hài hòa, tồn tại của Nho - Đạo - Phật đã tạo nên thời kỳ “tam

giáo đồng nguyên” đưa các giá trị truyền thống phục hưng trở lại tiêu biểu nhất là

tục thờ thánh Mẫu. Sự phát triển của các loại hình nghệ thuật truyền thống như đúc

tượng Phật ngày càng chiếm ưu thế. Do vậy, trong sáng tác của mình các tác giả nối

tiếp thế kỷ trước cũng đi ca ngợi nhiều hơn về quyền cá nhân tự do, bắt đầu phản

ánh những cái có thực “tai nghe mắt thấy hàng ngày” vào văn học. Cùng với sự trở

lại của phong trào Thực học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà văn lúc này

đặc biệt quan tâm và có hứng thú viết về những vấn đề thực tiễn của xã hội. Họ

quan tâm ghi chép những sự việc, những số phận diễn ra trong cuộc sống hàng ngày

phản ánh vào văn học. Chính điều này đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho lịch sử văn

học nước nhà, đưa chủ nghĩa nhân đạo trong văn học lên tới đỉnh cao của sự phát

triển. Điều đó lí giải vì sao khi viết truyện TKTP, tác giả Đồn Thị Điểm khơng còn

chịu nhiều sự ràng buộc của tư tưởng phong kiến. Xuyên suốt những trang viết về

tình u của tác giả là cái nhìn cởi mở, phóng khoáng, tiến bộ vượt lên những quan

điểm của đạo đức Nho giáo. Do vậy người đọc không chỉ bị cuốn vào những câu

chuyện tình say đắm, mãnh liệt, gắn kết bền chặt của lứa đơi u nhau mà còn bất

ngờ trước tư tưởng tự do yêu đương, yêu công khai của các nhân vật. Truyện Nữ

Thần ở Vân Cát là một ví dụ: Cái lạ ở câu chuyện khơng phải xuất phát từ mơtíp

chuyện tình người trần - tiên nhân mà ngay ở tư tưởng tự do yêu đương của các

nhân vật, nhất là ở nhân vật chính Liễu Hạnh - người phụ nữ dám sống, dám yêu hết

mình bất chấp các quy tắc, lễ nghi phong kiến. Liễu Hạnh khi đến với Đào Sinh

chẳng cần đến những lễ nghi lặt vặt, chỉ cần “trơng lên mặt trăng đính ước, hướng



68



lên trời lạy tạ” là có thể cùng sống với nhau. Mượn môtip truyện dân gian, mượn

câu chuyện về các nhân vật chính sử, bằng tài năng của mình tác giả TKTP đã sáng

tạo nên những câu chuyện tình yêu ly kỳ, mà vẫn giàu chất liệu hiện thực đời sống.

Đôi lứa yêu nhau trong TKTP đến với nhau xuất phát từ tình cảm tự do yêu đương,

tự do kết bạn, không bị câu thúc bởi lễ giáo phong kiến. Các nhân vật trong truyện

khi đã yêu đều xem tình yêu là cuộc đời, là lẽ sống duy nhất, những trở lực bên

ngồi khơng có khả năng ngăn cách họ.

Vũ Trinh trong LTKVL cũng lí giải tại sao khi viết về con người nhất là hình

tượng nhân vật nữ, ơng có sự ảnh hưởng từ trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn

học. Ơng nhìn người phụ nữ như nạn nhân của chế độ nam quyền khác với người

liệt nữ hay thánh nữ theo cái nhìn của tác giả Nguyễn Dữ hay Đoàn Thị Điểm. Ở

tác phẩm, Vũ Trinh cho thấy một tấm lòng đầy yêu thương, trân trọng, nâng niu

những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật. Tác giả thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ mà họ

phải gánh chịu. Đó cũng là khát vọng lớn lao của chính tác giả về một xã hội

công bằng, con người được công lý và pháp luật bảo vệ. Trong xã hội đó, con

người nhất là người phụ nữ sẽ được sống trong hạnh phúc với những mối tình

trong sáng, đẹp đẽ và tự do.

Thứ hai, nguyên nhân trong chính hệ tư tưởng của các nhà văn. Tác giả Lê

Thánh Tông thế kỷ XV được coi là một vị vua anh minh, tài giỏi nhất lịch sử bấy

giờ và là người không quá khắt khe, bảo thủ trước những giáo điều khô cứng của

Nho gia. Ơng khơng chỉ quan tâm tới vấn đề chính sự quốc gia lớn lao mà bắt đầu

chú ý đến đời sống con người. Dẫu là một người đưa Nho giáo lên vị trí độc tơn

nhưng tác giả lại khơng máy móc như các nhà văn trước mà đặt Nho giáo trong mối

quan hệ cởi mở hơn. Khi viết về hình tượng người phụ nữ, tác giả Lê Thánh Tơng

trong TTDT có nêu gương những liệt nữ theo chuẩn mực “khuôn vàng thước ngọc”

của đạo đức Nho gia nhưng lại để cho nhân vật được tự do, phóng khống chủ động

tìm đến tình u mà khơng theo sự sắp đặt của cha mẹ.

Nguyễn Dữ vốn là một bề tôi trung thành của nhà Lê, cương quyết không

thờ hai vua chống nhà Mạc đến cùng. Ông chọn cách cáo quan về ở ẩn với lý do

phụng dưỡng mẹ già để giữ phẩm giá sạch thơm. Đó cũng là lí do mà nhân vật trong

truyện ít nhiều bị ảnh hưởng do tư tưởng của chính ơng. Hơn nữa, lại là một tác giả



69



khác giới khi nhìn nhận về người phụ nữ điểm nhìn của tác giả có phần hạn chế

hơn. Trong TKML, Nguyễn Dữ phân chia nhân vật của mình thành hai tuyến: với

những cơ gái chính chun như Vũ Nương, Nhị Khanh, Lệ Nương ông ca ngợi hết

lời, coi họ như những liệt nữ của thời đại. Còn ngược lại, với những cô gái lẳng lơ,

dám vượt qua lễ giáo để tìm đến với tình yêu thì tác giả lại lên án gay gắt, coi họ

như là yêu nghiệt gây nên sự loạn lạc của xã hội, tiêu biểu như: cô ca kỹ Hàn Than,

nàng Túy Tiêu.

Sang thế kỷ XVIII với hai tác giả truyền kỳ tiêu biểu Đoàn Thị Điểm và Vũ

Trinh cũng cho thấy những cách tân mới mẻ khi nhìn nhận về nguời phụ nữ. Đồn

Thị Điểm - bản thân bà vốn là nữ giới nên khi viết về giới mình, bà có cái nhìn thấu

hiểu sâu sắc, hiểu rõ về vai trò, thiên chức của người phụ nữ. Bên cạnh việc đề cao

vai trò của nhân vật nữ, tác giả còn đi tới khẳng định tài năng của họ và hạ thấp vai

trò của nam giới. Nhân vật nữ dưới góc nhìn của nữ sĩ như là những thần nữ. Tác

giả Vũ Trinh - một nhà văn nam khi nhìn về nữ giới ơng cũng nhìn người phụ nữ

với cái nhìn cởi mở hơn. Tác giả nhìn người phụ nữ trong sự hài hòa cân đối hơn

các tác giả trước, ông viết về những người phụ nữ bình dân, ca ngợi nhân vật và

bênh vực cho họ. Tác giả đưa ra lời khẳng định nhân vật nữ chính là nạn nhân của

chế độ nam quyền.

Có thể, hai nguyên nhân trên đã phần nào kiến giải cho sự khác biệt trong

cách nhìn và hướng sáng tác của các tác giả truyện truyền kỳ giai đoạn văn học

thế kỷ XV - XVIII.

Tiểu kết Chương 2:

Như vậy, ở Chương 2 này chúng tôi chỉ ra sự vận động trong hình tượng

người phụ nữ trong truyện truyền kỳ ở hai khía cạnh: tương đồng và khác biệt cụ

thể: Ở TTDT - Lê Thánh Tông viết về nhân vật nữ không phải là chủ đề chính mà

người phụ nữ xuất hiện trong sáng tác của tác giả chỉ nhẳm hướng tới tư tưởng tải

đạo, phục vụ mục đích dăn dạy, giáo dục con người. Đến TKML của tác giả Nguyễn

Dữ, nhân vật người phụ nữ đã trở thành đề tài chính trong tác phẩm. Tác giả quan

tâm trực tiếp đến họ qua những tâm tư thầm kín, khát vọng, tính cách, đời sống nội

tâm và cả bi kịch cuộc đời.



70



Hai tác giả cuối thế kỷ XVIII Đoàn Thị Điểm và Vũ Trinh viết về người phụ

nữ lại nâng lên một bước phát triển mới. Đoàn Thị Điểm trong TKTP, đưa nhân vật

nữ trở thành nhân vật chính duy nhất trong tác phẩm của mình. Tác giả ca ngợi họ

khơng chỉ trong vai trò người vợ trong gia đình mà còn ca ngợi họ cả về tài năng

sánh ngang với nam nhi. Tổng hợp những sự kế thừa của các tác giả đi trước, Vũ

Trinh trong LTKVL, tác giả nhìn người phụ nữ ở mức độ cao hơn. Ơng nhìn người

phụ nữ dưới góc nhìn văn hóa và đặt họ trong mối quan hệ giữa con người với con

người khiến cho người đọc thấy họ như những con người với những câu chuyện có

thực ở đời. Đồng thời, tác giả còn chỉ ra: người phụ nữ trong xã hội đó là nạn nhân

của chế độ nam quyền.

Cuối cùng để chỉ ra sự vận động của hình tường người phụ nữ trong sáng tác

của các tác giả chúng tôi đi lý giải sự khác biệt đó qua hai nguyên nhân: thời

đại và tư tưởng của mỗi nhà văn. Tất cả các yếu tố đó đã minh chứng rõ cho sự

phát triển của hình tượng người phụ nữ trong tiến trình văn học truyền kỳ trung

đại thế kỷ XV - XVIII.



71



CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH

TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ

Thuộc thể loại truyền kỳ, các tác phẩm TTDT, TKML, TKTP và LTKVL

cũng mang trong mình những dấu ấn đậm nét, chịu sự chi phối của đặc trưng thể

loại, mà một trong những nghệ thuật nòng cốt đó phải kể đến nghệ thuật xây dựng

hình tượng nhân vật (đặc biệt là nhân vật nữ chiếm đại đa số các tập truyện). Nghệ

thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ được các tác giả truyền kỳ tập trung khai

thác trên các phương diện:

3.1.1. Miêu tả ngoại hình

Ngoại hình nhân vật tuy khơng phải là yếu tố quan trọng nhất trong việc thể

hiện giá trị tư tưởng, chủ đề tác phẩm nhưng nó lại giữ vai trò quyết định ở việc xây

dựng hình tượng nhân vật và hé lộ ý đồ sáng tác của nhà văn. Do đó, hầu như những

nhân vật nữ trong truyện truyền kỳ đều được các tác giả xây dựng dựa trên bút pháp

ước lệ chung là những người phụ nữ có ngoại hình rất xinh đẹp. Nhìn chung các tác

giả thường khơng q đi sâu vào miêu tả ngoại hình nhân vật, chỉ dành cho họ vài

ba câu văn miêu tả khái quát dáng vẻ bề ngoài nhưng cũng đủ giúp cho người đọc

hình dung ra họ là những cơ gái có nhan sắc. Trong TTDT, tác giả Lê Thánh Tơng

miêu tả nhân vật nữ là những cô gái đẹp người, tốt nết như: nàng Mộng Trang,

Ngọa Vân, hay Ngư Nương… Vẻ đẹp của Mộng Trang “tuyết hờn thua trắng, ngọc

thẹn kém trong, ngón tay búp măng thon thon, hàm răng hạt bầu nho nhỏ. Nếu

không là gái dưới trăng Dao Đài, thì cũng là tiên trên núi Quần Ngọc” [34,532].

Yêu nữ Châu Mai được ví: “mắt long lanh như nước mùa thu, mơi đỏ như son vẽ,

tóc mây mặt hoa, cười nói duyên dáng, làm cho người ta phải động lòng” [34,507].

Đến thế kỷ XVI với tác phẩm TKML, Nguyễn Dữ vẫn dựa trên nền tảng kế

thừa truyền thống. Tác giả dành sự quan tâm, chú ý nhiều hơn đến số phận, bi kịch

cuộc đời nhân vật, còn về ngoại hình tác giả cũng chỉ dừng lại ở những nét phác họa

thống qua để thấy rằng: dưới ngòi bút của tác giả truyền kỳ các nhân vật nữ đều là

những con người khơng chỉ đẹp ở bề ngồi mà vẻ đẹp ấy còn tốt lên ở phẩm chất

đức hạnh, hiếu tình, thủy chung của chính nhân vật. Đó là nàng Vũ Nương (Chuyện



72



người con gái ở Nam Xương) được miêu tả là cô gái “thùy mị nết na lại thêm tư

dung tốt đẹp”, nàng Đào thị (Nghiệp oan của Đào thị) nhờ tài năng và sắc đẹp đã

được tuyển vào làm cung nữ. Khi đến chùa Lệ Kỳ xin náu mình nơi cửa phật,

sư cụ Pháp Vân đã nhận xét nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên: “ Tuổi đã trẻ trung,

sắc lại lộng lẫy, ta e lòng thiền khơng phải đá, sắc đẹp đê mê người…” Và

đúng là sắc đẹp của nàng đã làm cho sư bác Vô Kỷ mê đắm trong bể tình ái

chẳng màng gì đến kinh kệ. Hay vẻ đẹp của nàng Nhị Khanh (Chuyện cây gạo)

cũng khiến cho Trình Trung Ngộ mê mẩn ngay từ lần gặp đầu tiên. Chàng liếc

mắt trông thấy một giai nhân tuyệt sắc và từ đó đem lòng say mê người đẹp

cuối cùng phải trả giá bằng cả tính mạng.

Bước sang thế kỷ thứ XVIII, chủ nghĩa nhân văn trên đà phát triển mạnh, các

tác giả truyền kỳ nhìn nhận, đánh giá về vị trí, vai trò của người phụ nữ có phần tiến

bộ hơn trước. Và nhân vật nữ dưới ngòi bút của các nhà văn vẫn được xây dựng là

những cô gái xinh đẹp như một cách thể hiện thái độ trân trọng, nâng niu, cảm

thông, ngợi ca của tác giả dành cho nhân vật. Điển nhìn là nàng Giáng Tiên (Vân

Cát nữ thần) được miêu tả với vẻ đẹp rạng rỡ: “da trắng như sáp đọng, tóc sáng

như gương soi, lông mày cong như mặt trăng mọc, mắt long lanh như sóng mùa

thu” [9,97], tới cơ ca nữ (Ca kỹ họ Nguyễn) “nhan sắc xinh đẹp, tài nghệ tuyệt vời”

[50,66], hay cô con gái Quận công (Liên Hồ quận công) cũng được miêu tả là cô gái

“rất xinh đẹp, mái tóc như mây, da trắng như tuyết, mắt rất sáng, môi đỏ như son,

người đời không ai sánh kịp” [50,136]…

Nhưng có thể thấy những người phụ nữ dưới thời đại bấy giờ có điểm chung

đều gặp phải bi kịch cuộc đời. Số phận bất hạnh đã là mẫu số chung dành cho họ

nên ở khía cạnh nào họ cũng ln khổ đau. Lí giải về điều này có thể xem một trong

những nguyên nhân gây ra bất hạnh cho người phụ nữ ấy chính là luật lệ hà khắc

của Nho giáo coi trọng nam quyền và xem thường giới nữ như những kẻ tiểu nhân.

Xã hội ấy nhìn người phụ nữ chỉ là những kẻ ăn bám, phụ thuộc và khơng có bất cứ

quyền hành gì trong gia đình cũng như xã hội. Chính vì lẽ đó, người đàn ơng trở

thành người độc quyền, có mọi quyền lực trong tay. Họ xem phụ nữ chẳng khác gì

những trò mua vui, giải trí rẻ tiền khi cần thì dùng đến khơng thì sẵn sàng chà đạp.

Cho nên có biết bao cơ gái có nhan sắc đã phải bất hạnh vì chính nhan sắc của



73



mình, trở thành miếng mồi cho bọn vua chúa, quan lại, những kẻ có tiền xâu xé.

Giống như là một thứ triết lý muôn thuở “hồng nhan bạc mệnh có chừa ai đâu”,

những người phụ nữ đẹp bao giờ cũng gắn liền với hạnh phúc và bất hạnh. Đó cũng

là lý do khơng phải ngẫu nhiên mà người đàn bà đẹp thường xuyên xuất hiện trong

văn học. Điều mà sau này nhà văn hào Nguyễn Du đã khái quát thành triết lý chung

trong Truyện Kiều về số phận người phụ nữ:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

3.1.2. Tính cách

Đa phần là những nhân vật nữ trong truyện truyền kỳ xuất hiện đều là những

người có tính cách chủ động, mạnh dạn và khá quyết liệt. Những nhân vật nữ đặc

biệt là những nhân vật núp bóng dưới vỏ bọc truyền kỳ hiện thân là ma quái trong

TTDT và TKML đều chủ động tìm đến tình u, hạnh phúc của mình. Hạnh phúc

đó có thể là người chồng, người tình năm xưa trong (Chuyện yêu nữ Châu Mai,

Chuyện nghiệp oan của Đào thị), có thể là mối duyên mới (Chuyện cây gạo,

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện yêu quái ở Xương Giang)… Yêu nữ Châu Mai

lưu luyến lại trần gian bao nhiêu năm, chịu bao khổ cực, tai tiếng nhuốc nhơ cũng

chỉ mong gặp lại người chồng năm xưa. Cho nên, nàng không chỉ chủ động đến với

tình u mà còn thủy chung, son sắt đầy tình nghĩa. Tính cách mạnh mẽ, cương

quyết của nàng cũng bắt nguồn từ sự thủy chung mà ra. Nàng Ngư Nương cũng vậy,

trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc dài lê thê, tủi hờn vì cơ đơn, lạnh lẽo nhưng

nàng khơng nản chí, vẫn một mực giữ gìn sự trong trắng và tấm lòng thủy chung

với người mình u. Đó cũng chính là cách mà nàng bảo vệ phẩm giá sạch thơm

của bản thân trước mọi cám dỗ của đời sống.

Nếu như những nhân vật nữ trong TTDT của Lê Thánh Tơng là những cơ gái

vẫn còn e dè, kín đáo và chọn cách chờ đợi để chứng minh lòng thủy chung trong

tình u thì nhân vật nữ ở TKML của Nguyễn Dữ lại chủ động tìm đến tình yêu với

một khát khao cháy bỏng, quyết liệt hơn bao giờ hết. Chẳng thế mà, ngay từ lần gặp gỡ

đầu tiên, Nhị Khanh đã không ngần ngại bày tỏ mong muốn hoan lạc ân ái cùng Trình

Trung Ngộ: “Nghĩ đời người ta chẳng khác gì giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống



74



ngày nào, nên tìm lấy những thú vui kẻo một sớm chết đi… dù có muốn tìm cuộc hoan

lạc ái ân, cũng khơng thể được nữa” [7,230]. Tính cách của nàng đã thể hiện trong suy

nghĩ và hành động. Nàng không những quyến rũ được Trung Ngộ mà còn lơi kéo

chàng cả chàng xuống âm tuyền hội ngộ cùng.

Tính cách quyết liệt hơn cả còn là Đào Hàn Than trong Nghiệp oan của Đào

thị. Nàng bị vợ quan Hành khiển đánh ghen, cuộc sống đầy đau khổ, bị ức hiếp

nhưng nàng không hề cam chịu mà vẫn quyết định trả thù, mong muốn vươn tới

cuộc sống hạnh phúc nơi trần thế ngay cả khi đã chết đi rồi.

Sang đến TKTP, tác giả Đồn Thị Điểm khắc họa tính cách nhân vật qua

việc nữ sĩ để cho nhân vật của mình tự do, phóng khống làm những gì họ cho là

hợp lý và u thích chứ khơng bó buộc nhân vật trong khn khổ phạm vi gia đình.

Thế nên, nhân vật Giáng Tiên trong Vân Cát nữ thần, qua hai lần tái thế xuống trần

gian với vai trò là chúa Liễu Hạnh đã tự do vung vẩy khắp nơi và gặp gỡ ứng khẩu

văn chương không thua kém nam nhi. Chính tính cách phóng khống ấy, ngay cả

trong tình yêu nàng cũng không ngần ngại đưa ra một cái nhìn, một quan niệm vơ

cùng mới mẻ: Tình u đó là quyền tự do của mỗi cá nhân, vì thế cá nhân có quyền

tự quyết định hơn nhân của mình. Liễu Hạnh đã chủ động tìm đến tình yêu của

mình bằng cách cố gắng thuyết phục chàng thư sinh hãy để nàng ngủ lại một đêm

tại nhà chàng. Đây rõ là một quan điểm đi ngược lại với quan niệm tình yêu theo

chuẩn mực của Nho giáo. Nghĩa là người con gái khơng được chủ động trong tình

u mà phải kín đáo, giữ mình thì Liễu Hạnh đã lật nhào, phá bỏ quan niệm đó, tự

chủ động tìm đến với người mình u. Và tiến xa hơn nữa, nàng còn chủ động đề

nghị với Đào Sinh về cuộc hôn phối. Nàng nhấn mạnh việc kết hôn không cần đến

nghi thức rườm rà và khơng cần phải có sự chứng kiến của cha mẹ. Chỉ với vài chi

tiết đó cũng đủ thấy một Liễu Hạnh có tính cách mạnh mẽ, táo bạo dường nào.

Nếu nhân vật nữ của Đoàn Thị Điểm chủ động, phóng khống trên con

đường đi tìm kiếm hạnh phúc của mình là vậy thì tới LTKVL của Vũ Trinh, nhan

vật nữ lại có phần tiến xa hơn. Họ khơng chỉ chủ động đến với người mình u mà

các cô gái sẵn sàng dâng hiến, hi sinh cho người mình u tiêu biểu như: cơ gái

trong Tháp Báo Ân từ khi mắc bệnh phong, không được sống gần ai, nay bỗng gặp

chàng trai họ Nguyễn trẻ tuổi tài hoa trên đường đi thi, gõ cửa xin ngủ nhờ. Hai



75



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Về nội dung phản ánh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×