Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Về đối tượng phản ánh

a. Về đối tượng phản ánh

Tải bản đầy đủ - 0trang

vật nữ - đối tượng phản ánh của tác giả vẫn còn trộn lẫn chất thần và thường kết

thúc có hậu nên truyện ít nhiều vẫn mang màu sắc giống truyện cổ tích dân gian.

Sang thế kỷ XVI, trước những biến động rối ren của lịch sử, kết thúc thời đại

thịnh trị của vị vua anh minh Lê Thánh Tông. Đất nước bước vào thời kỳ khủng

hoảng liên miên bởi những vị vua bất tài không chịu chăm lo triều chính, mải chơi

hoang dâm nên dẫn tới cảnh tranh giành quyền lực đẩy người nông dân vào bể khổ.

Chứng kiến những cảnh đau thương ấy, Nguyễn Dữ đã lấy cảm hứng sáng tác ra

áng văn “thiên cổ kỳ bút”- TKML để phản ánh lại bức tranh thu nhỏ thối nát, suy

đồi của hiện thực xã hội bấy giờ. Qua đó, tác phẩm còn tố cáo xã hội phong kiến

đẩy những người dân vơ tội vào vòng bế tắc, oan khiên nhất là người phụ nữ. Do

vậy, một trong những nhân vật nhà văn quan tâm nhất lúc này chính là số phận và bi

kịch những người phụ nữ.

Nếu trước đây có vị vua anh minh soi sáng, bảo vệ cho họ thì nay vua khơng

ra vua, bề tơi khơng ra bề tôi, cùng nhau xâu xé, tranh giành quyền lực. Người nơng

dân chính là những người chịu hậu quả nặng nề nhất của cuộc chèn ép ấy. Nho giáo

lúc này đã có sự lung lay nhưng vẫn ăn sâu vào tiềm thức những giai cấp thống trị.

Họ vẫn lấy những luật lệ, giáo điều đểáp đặt lên số phận những người phụ nữ nhỏ

bé, đáng thương. Do vậy, dưới chế độ phong kiến biết bao cảnh ngang trái, vô lý đè

nặng trên đôi vai người phụ nữ mà họ chỉ biết cam chịu khơng biết kêu ai. Chính

điều đó, đã động tới sâu thẳm trái tim nhân đạo, thương người như thể thương thân

của nhà văn Nguyễn Dữ - vốn xuất thân từ nhà Nho, lại là người khác giới nên dẫu

có bênh vực cho người phụ nữ thì tác giả cũng chỉ dám bày tỏ thông qua yếu tố kỳ

ảo để phản ánh lại thực tại xã hội chứ không thể vượt ra khuôn khổ bênh vực họ

một cách trực diện. Bởi vậy, so với TTDT đối tượng phản ánh của TKML đã có sự

mở rộng phạm vi: khơng chỉ miêu tả qua đối tượng thần tiên mà đến đây cả ma quỷ,

hồn hoa và những con người bình dân cũng được tác giả đưa vào trang văn với tất

cả lòng cảm thơng, chia sẻ qua những bi kịch về cuộc đời nhân vật như: nàng tiên

nữ Giáng Hương (Từ thức lấy vợ tiên), hồn hoa nàg Đào - Liễu (Cuộc kỳ ngộ ở trại

Tây), người phụ nữ bình dân Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), con

gái quan nàng Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), hồn ma Thị

Ngh (Chuyện cây gạo)…Và tác giả còn đi sâu hơn Lê Thánh Tơng ở chỗ: khơng chỉ



62



đi ca ngợi nhân vật một chiều mà ông đã có những cái nhìn nhận, đánh giá mới

trong quan niệm về người phụ nữ. Ơng có sự phân loại về các loại nhân vật nữ và

theo đó có cách đánh giá riêng ở mỗi loại. Với nhân vật nữ theo đạo cương thường

nhà văn dành hết lời ngợi ca, coi họ như là những liệt nữ tiêu biểu: nàng Vũ Nương,

nàng Nhị Khanh, nàng Lệ Nương... còn với những nhân vật vượt khỏi đạo đức

cương thường thì bị coi là nguyên nhân tạo ra loạn lạc trong xã hội thì nhà văn phê

phán rất gay gắt như: Hàn Than, Thị Nghi, Túy Tiêu.

Đến TKTP của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm và LTKVL của tác giả Vũ Trinh thế kỷ

XVIII, ta thấy ở hai tác phẩm lại có sự đổi thay và mở rộng trong đối tượng phản

ánh. Xã hội lúc này đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mọi giá trị đạo

đức suy yếu và Nho giáo lúc này khơng còn chiếm vị trí độc tơn, thay vào đó là sự

hưng thịnh của Phật giáo và sự phát triển của Đạo giáo. Mọi giá trị truyền thống bắt

đầu được phục hưng trở lại - nhất là những truyền thống văn hóa dân gian như đạo

thờ thánh Mẫu. Nghệ thuật điêu khắc phát triển, con người không quá coi trọng tư

tưởng trung qn, khơng còn cam chịu vì cái chung mà đã biết quan tâm tới hạnh

phúc cá nhân riêng. Trong xã hội những tư tưởng cổ hủ, lạc hậu dần bị xóa bỏ. Điều

đó dẫn đến hướng viết và tư duy của nhà văn có sự đổi mới.

Đồn Thị Điểm trong TKTP, nữ sĩ chủ yếu tập trung vào đối tượng là thế

giới phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc trung lưu. Ngoại trừ nhân vật Hà Giáng Kiều từ

cõi tiên bước thẳng xuống trần gian không qua một trung gian trần thế nào, còn các

nhân vật còn lại như: cung nữ Bích Châu, người Đinh phu nhân ở An Ấp đều có

nguồn gốc xuất thần từ con quan. Riêng nàng Giáng Tiên vốn là con nhà thường

dân nhưng rồi Đoàn Thị Điểm cũng nâng địa vị của nàng bằng cách cho nàng làm

con nuôi của Trần Công “dòng dõi nhà Trần”.

Còn đến LTKVL của tác giả Vũ Trinh, đối tượng phản ánh không chỉ là

những người thuộc tầng lớp trên, trung lưu hay các nhân vật kỳ lạ, mà bao gồm mọi

tầng lớp trong xã hội. Ở họ sáng ngời phẩm chất cao đẹp của tình mẫu tử thiêng

liêng, của lòng nhân hậu bao la, của tình yêu thủy chung và niềm khát khao hạnh

phúc lứa đôi. Đó là những cơ gái dệt vải (Sống lại), là người mẹ xấu số chết khi

mang thai bảy, tám tháng (Đẻ lạ), là cô con gái của quan Thượng thư (Liên hồ Quận

cơng), là con gái phú ơng (Chuyện tình ở Thanh Trì) nhưng cũng có thể là những



63



con người bình thường dưới đáy xã hội như cơ gái (Ca kỹ họ Nguyễn)… Do đó mà

với LTKVL, lần đầu tiên hình ảnh người phụ nữ bình dân được đưa vào thi đàn văn

học truyện truyền kỳ với đủ cung bậc, sắc màu. Hơn thế nữa, người phụ nữ trong

sáng tác của Vũ Trinh, dù thuộc tầng lớp nào, làm nghề gì thì họ cũng sáng ngời

phẩm chất cao đẹp, đặc biệt trong tình u. Họ ln chủ động, mạnh dạn, u say

đắm và hết lòng lo cho người mình u. Nhưng trớ trêu thay, cuộc đời họ đều có kết

cục bi đát.

Có thể nói, với đề tài viết về người phụ nữ, Vũ Trinh đã góp phần vào việc

khẳng định thành tựu của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học giai đoạn này bên cạnh

các tên tuổi lớn khác như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái…

Như vậy, các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đồn Thị Điểm và Vũ

Trinh dẫu có sự khác biệt trong thế giới nhân vật - đối tượng phản ánh ở mỗi tác

phẩm nhưng lại có điểm chung: lấy con người với số phận và bi kịch của họ làm đối

tượng trung tâm của sáng tạo nghệ thuật, góp phần xây dựng chủ nghĩa nhân văn

trong văn học và tạo nên cuộc cách mạng trong văn xi tự sự thế kỷ XVIII, làm

nền móng cho việc hướng tới thể loại truyện ký hiện đại sau này.

b. Về nội dung phản ánh

Cũng như đối tượng phản ánh đã trình bày ở trên, xét theo góc độ nội dung

phản ánh truyện truyền kỳ ở mỗi giai đoạn với từng thời điểm lịch sử khác nhau

cũng mang những đặc trưng khác nhau. Đặc biệt văn học thế kỷ XV – XVIII sự

khác biệt trong từng tác giả được thể hiện rõ ràng nhất.

Xét ở giai đoạn văn học thế kỷ XV - XVI ta thấy ở hai tác giả Lê Thánh

Tông và Nguyễn Dữ nội dung phản ánh trong hai tập truyện khác nhau: ở TTDT nội

dung chủ yếu của truyện là đi ca ngợi đất nước thịnh trị, yên bình dưới sự trị vị của

vị vua anh minh Lê Thánh Tông. Nhân vật người phụ nữ khơng phải là nội dung

phản ánh chính của truyện mà chỉ là đối tượng được nói đến nhằm mục đích truyền

đạo lý, nếu gương sáng để mọi người học tập theo. Sang TKML của tác giả Nguyễn

Dữ, lúc này đất nước đã có những dấu hiệu suy thối, lung lay nên nội dung của

truyện hướng tới: phản ánh những mảnh đời, số phận nghèo khổ trong xã hội đặc

biệt là những người phụ nữ “thấp cổ bé họng”; tố cáo tầng lớp thống trị, quan lại;

quan tâm đến số phận con người; dăn dạy con người đi theo những chuẩn mực đạo



64



đức Nho gia. Do vậy, nội dung phản ánh của truyện có phần mở rộng hơn so với

TTDT của tác giả Lê Thánh Tông.

Xét ở giai đoạn văn học thế kỷ XVIII trở đi, hai tác giả Đoàn Thị Điểm và

Vũ Trinh sống ở giai đoạn cuối của thời đại lịch sử suy vi trầm trọng. Con người

thời đại đó cũng khơng còn sống theo lý tưởng trung qn ái quốc mà họ biết sống

vì mình, sống cho cá nhân mình. Bởi họ nhận ra xã hội mà trước đây họ một lòng

tơn thờ thì nay khơng còn nên họ sẵn sàng bứt bỏ, đứng lên đòi giải phóng cái tơi cá

nhân, đi theo tiếng gọi con tim, xóa bỏ những tư tưởng cổ hủ với cái nhìn phóng

khống, cởi mở hơn. Điều đó được phản ánh rõ nét trong hai tập truyện của hai tác

giả Đoàn Thị Điểm với TKTP và Vũ Trinh với LTKVL.

Ở TKTP, nữ sĩ Đồn Thị Điểm khơng đi sâu phản ánh những số phận bị kịch

của người phụ nữ mà tác giả đi khắc sâu uy lực của người phụ nữ qua những thắng

lợi hết lần này đến lần khác và hạ thấp vai trò của nam giới. Có thể nói, vai trò của

người phụ nữ đến TKTP đã được nhìn nhận ở mức độ coi trọng, đề cao nhân vật. Điều

mà các tác giả trước tuy có quan tâm tới nhưng khơng dám khẳng định. Ở sáng tác của

Nguyễn Dữ, nhân vật nữ được ca ngợi dưới góc nhìn như những liệt nữ thì đến Đồn

Thị Điểm bà còn nâng lên một tầm mới nhìn họ như là thánh nữ. Họ khơng chỉ có vai

trò trong gia đình mà họ còn là những người có tài trí khơng kém gì bậc nam nhi.

Còn LTKVL tác giả Vũ Trinh, ơng mở rộng ra ở rất nhiều đề tài như: phê phán tệ

nạn xã hội, đề tài giáo dục thi cử, đề tài tình cảm gia đình trong đó có đề tài viết về

người phụ nữ. Ở đề tài này, Vũ Trinh một mặt phê phán các tệ nạn phân biệt đẳng

cấp trong xã hội, mặt khác tác giả đi bênh vực, đòi lại những quyền lợi chính đáng

cho người phụ nữ yếu đuối dưới thời đại đó. Đây là một điểm cách tân mới mẻ mà

trước đây tác giả Nguyễn Dữ đã bất lực khi tìm hướng giải thốt cho nhân vật.

Viết về người phụ nữ với tình u đơi lứa, Vũ Trinh đã dựng lên một bức

tranh tương phản: “Tư tưởng phong kiến hạ thấp người phụ nữ trong truyện của Vũ

Trinh thì phẩm chất của họ lại sáng ngời và nổi bật hơn ai hết” [47]. Xã hội phong

kiến ln có quan niệm định kiến với những người làm nghề ca xướng, vì vậy

người làm nghề “con hát” ln bị xã hội khinh bỉ. Chính Nguyễn Dữ trong TKML

đã có lần thốt lên quan điểm định kiến ấy trong Chuyện nàng Túy Tiêu như sau:

“Túy tiêu là một ả ca xướng chẳng là người chính chuyên”. Ngược lại, trong truyện



65



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Về đối tượng phản ánh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×