Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Nhân vật người phụ nữ với bản lĩnh đấu tranh cho hạnh phúc bản thân

c. Nhân vật người phụ nữ với bản lĩnh đấu tranh cho hạnh phúc bản thân

Tải bản đầy đủ - 0trang

mình thốt khỏi cõi chết. Đơi cánh kỳ ảo được các tác giả sử dụng để tạo nên

một thế giới tốt đẹp hơn dành cho những người phụ nữ bất hạnh. Dẫu rằng, dựa

vào thế giới kỳ ảo thì sự tranh đấu kia chỉ mang tính cải lương nhưng dù sao ở

thế giới ấy, những người phụ nữ vô tội còn có thể được giải oan và bày tỏ nỗi

thống khổ của mình.

Cách mà các tác giả để cho nhân vật đấu tranh giành lại hạnh phúc, công

bằng cho bản thân thể hiện rõ nhất là sau khi chết đi họ được đầu thai hoặc được

trở về nhân gian ẩn lấp dưới bóng hình ma qi sống tiếp cuộc sống của con người

hoặc được một đối tượng nào đó giúp đỡ minh oan… Khác với các truyện truyền

kỳ khác, trong TTDT của Lê Thánh Tông, các nhân vật nữ dù gặp bi kịch cuộc

đời, xa cách người yêu hay bị người chồng hiểu lầm là thất tiết thì cái kết cuối

cùng họ đều được giải oan, vợ chồng lại đoàn tụ bên nhau. Lí giải về điều này có

thể thấy thời đại tác phẩm ra đời là thời đại trị vì của vua Lê Thánh Tơng - một

ơng vua có tiếng là anh minh, nhân từ nhất trong lịch sử Việt Nam. Trong xã hội

đó, con người ln được sống trong sự ấm no, được bảo vệ và lẽ công bằng cho họ

là điều tất yếu.

Đến thời đại Nguyễn Dữ trở đi, đất nước mất đi vị vua giỏi, nhân từ thay vào

đó là một bày “vua lợn, vua quỷ” chỉ mải ăn chơi, hoang dâm dẫn đến tình hình

chính trị đất nước khủng hoảng, rối ren, tôn ti trật tự xã hội đảo lộn, đời sống nhân

dân rơi vào lầm than khổ cực. Những thân phận nhỏ bé “con ong cái kiến” kia làm

sao dám mơ tưởng về sự công bằng mà xã hội ban thưởng cho họ. Chẳng vậy mà,

người phụ nữ hiếu hạnh như Vũ Nương, đẹp người tốt nết là thế mà vẫn phải chết

oan bởi thảm cảnh của quyền lực, người chồng phải ra trận, hai người xa nhau.

Trương sinh đa nghi, cả ghen. Chi tiết kỳ ảo cuối truyện, Vũ Nương được người

chồng lập đàn giải oan chỉ có thể làm cho kết thúc câu chuyện bớt đi tính bi kịch và

phần nào khẳng định phẩm hạnh sáng trong của nàng còn bản thân nàng không thể

sống lại được. Nhị Khanh đoan trang, thủy chung là vậy mà người chồng Trọng

Quỳ không biết trân trọng, chỉ mải lêu lổng cờ bạc đến khi thua thì sẵn sàng mang

người vợ gán nợ khiến nàng phải tìm đến cái chết vì khơng muốn sinh ra một kiếp

phải thờ hai chồng.



58



Bên cạnh những nhân vật nữ chỉ biết cam chịu, nhẫn lại, không dám phản

kháng, đấu tranh còn có những nhân vật nữ hồn tồn đối lập, khơng cam chịu mà

ln tìm cách giành lại sự sống, giành lại hạnh phúc vốn thuộc về mình. Đó là nàng

Dương Thị vợ của Trịnh Thái Thú trong Chuyện đối tụng ở Long Cung, tại họa đến

bắt nguồn từ chính sắc đẹp của nàng khiến cho thần Thuồng luồng say mê sinh ý

muốn chiếm đoạt. Những ngày tháng sống dưới thủy cung cùng kẻ thù, nàng vừa

căm phẫn, khổ đau lại vừa chịu đựng nỗi nhớ thương quê nhà, nhớ thương chồng

nên bi kịch càng tăng lên gấp bội. Nhưng khơng vì thế mà nàng qn đi hi vọng sẽ

có ngày được trở về. Bởi trái tim nàng hiểu được ở dương gian kia vẫn có người

chồng đang mong ngóng hàng ngày, hàng giờ nên lòng ham sống và sự đấu tranh

của nàng càng mãnh liệt hơn. Lời nói của nàng gửi đến chồng đã cho thấy nỗi

khát khao cháy bỏng mong được trở về dương gian: “Người vợ xấu số ở bến

nước xa xăm, lúc nào cũng vẫn thương nhớ đến chàng, chàng cố xoay sở cách

nào để cho được phượng lại trong mây, ngựa về trên ải, đừng khiến tôi phải già

đời ở chốn cung nước làng mây này” [7,273]. Và may mắn đã đến với hai vợ

chồng nàng, do có sự giúp đỡ của Bạch Long Hầu . Trịnh Thái Thú xuống thủy

cung kiện thần Thuồng luồng và phần thắng thuộc về chính nghĩa, kẻ ác phải

nhận tội và chịu hình phạt giam vào ngục tối. Dương Thị được trở về trần gian

sống hạnh phúc cùng chồng.

Mãnh liệt hơn cả là nàng Đào Thị trong Nghiệp oan của Đào thị vì nhan sắc

xinh đẹp lại thường xuyên qua lại nhà quan Hành khiển khiến cho vợ y nghi ngờ

đánh ghen, xỉ nhục nàng rất thậm tệ. Trước tình cảnh ê chề đó, nàng đã suy nghĩ sẽ

có ngày nàng quay lại trả mối nhục kia. Nàng tìm đến chùa Lệ Kỳ nương nhờ cửa

Phật và ở nơi đây tình yêu trong nàng lại trỗi dậy mãnh liệt cùng sư bác Vô Kỷ. Hai

người yêu nhau say đắm khiến cho sư bác Vơ Kỷ khơng màng gì đến kinh kệ chỉ

mải quấn quýt bên nàng như hình với bóng. Cuối cùng, hành động gian dâm nơi cửa

Phật của nàng đã phải trả cái giá đau đớn: chết trên giường cữ. Khát khao tình u

ln cháy bỏng trong lòng cô gái son trẻ Hàn Than nên không cam chịu cảnh cơ

đơn và chưa thỏa tình chăn gối. Nàng hiện về báo mộng và lơi Vơ Kỷ chết theo

mình để cả hai lại được bên nhau như hình với bóng. Nghĩ tới mối thù chưa trả

được, nàng và Vô Kỷ quyết đầu thai vào nhà quan Hành khiển để thực hiện âm mưu



59



trả thù, đòi lại cơng bằng. Chi tiết kỳ ảo xuất hiện chứng tỏ ở nhân vật lòng khát

khao yêu, khát khao sống và khát khao hạnh phúc vô cùng mãnh liệt, táo bạo, vượt

qua hẳn bức tường Nho gia, phạm vào những điều cấm kỵ của nhà Phật. Nàng vẫn

quyết đấu tranh đến cùng giành lại quyền tự do của bản thân không chỉ khi sống mà

ngay cả khi chết đi rồi nhân vật cũng không ngừng khát khao.

Tiếp đến hai tác giả Đoàn Thị Điểm với TKTP và Vũ Trinh trong LTKVL

cũng miêu tả rõ thái độ đấu tranh của những nhân vật nữ để giành lấy sự sống và

hạnh phúc thông qua sự phù trợ của yếu tố kỳ ảo. Điển hình như nàng Bích Châu

trong Đền thiêng ở cửa bể, sau khi chết nàng hiện lên trước thuyền rồng của vua Lê

Thánh Tông đời sau “vừa lạy vừa khóc mà rằng: “Thiếp là cung nhân đời Trần Duệ

Tơng… chỉ vì hồng nhan bạc mệnh, chiếc bóng một mình rơi vào tay u qi...

May sao ngày nay gặp Thánh hoàng, dám xin cả gan tâu bày, mong được ra tay

tế độ, vớt kẻ trầm luân, để cho tiện thiếp lại được trông thấy ánh sáng mặt

trời” [9,55]. Nghe những lời nói đó, vua Lê Thánh Tơng đã giúp nàng giải nỗi

oan khiên nên Bích Châu không phải ở với lũ quỷ hôi tanh mà được đăng tiên

về chốn thiên giới.

Trong Chuyện tình ở Thanh Trì, cơ gái chủ động đến với tình u, khi biết

cha mình chê anh lái đò nghèo. Nàng đã tiến sang liều lĩnh ăn cắp vàng của cha,

giúp đỡ người yêu để mong được cha chấp thuận. Nhưng người cha vì tham lam,

đòi hỏi sự mơn đăng hộ đối nên đã chối bỏ hôn sự và dẫn đến cái chết của cô gái.

Nhờ đôi cánh kỳ ảo, Vũ Trinh thêm vào cuối truyện mà nỗi sầu hận của nàng được

bày tỏ. Hình ảnh một vật cứng như khối đá đỏ như máu, bên trong có hình ảnh

chàng trai và con đò là minh chứng sâu sắc cho sự thủy chung và minh chứng cho

nỗi khổ đau uất nghẹn trong tâm hồn cơ gái. Chi tiết trái tim hóa đá ấy, chỉ tan chảy

khi có giọt nước mắt khổ đau của chàng trai thương xót cho người con gái mình u

là biểu tưởng ẩn dụ đầy ý nghĩa nhân văn về sự hội ngộ dù là bi kịch đau đớn nhưng

ít nhiều cũng đã được đồng cảm và tương phùng. Đây cũng là cách mà nhà văn

dành sự cảm thông, an ủi, chia sẻ đối với nhân vật.

Thái độ đấu tranh giành lấy hạnh phúc của nhân vật còn thể hiện ở việc họ

chủ động, dám bước qua cả những cấm kỵ của Nho giáo như:cô gái trong Tháp Báo

Ân vượt qua lễ giáo để ân ái với người lạ là sự thể hiện một quan niệm mới mẻ, táo



60



bạo về hạnh phúc khơngchỉ tự do trong tình u mà còn u hết mình và hưởng thụ

hết những giây phút có được trong tình yêu.

Như vậy, qua các nhân vật nữ tiêu biểu kể trên có thể thấy được dưới ngòi

bút của các tác giả truyền kỳ những cô gái ấy luôn săn chảy trong mình khát khao

sống, khát khao về mái ấm gia đình hạnh phúc, khát khao yêu và được yêu mãnh

liệt. Cho nên, các nhân vật dù bất hạnh, dù ở hồn cảnh đáng thương hay đáng trách

thì họ vẫn luôn thể hiện thái độ đấu tranh chống lại những luật lề hà khắc, những bất

công vô lý để giành lấy hạnh phúc, nắm giữ hạnh phúc trong tầm tay.

2.2.2. Điểm khác biệt

a. Về đối tượng phản ánh

Như đã trình bày ở trên, truyện truyền kỳ ra đời trước bối cảnh lịch sử xã hội

rối ren, văn học chịu sự chi phối mạnh mẽ của các tư tưởng chính trị nhất là tư

tưởng chính thống Nho giáo. Mỗi tác giả văn học sáng tác truyện truyền kỳ ở mỗi

giai đoạn, thời điểm khác nhau lại đưa ra những cách đánh giá, nhìn nhận riêng biệt.

Bởi lẽ, lịch sử qua các thời đại ln biến động nên đòi hỏi người sáng tác phải đáp

ứng những yêu cầu mới, phù hợp với đổi thay của thời đại. Vậy nên, người sáng tác

truyện truyền kỳ nói riêng và văn học trung đại nói chung cũng phải tuân theo quy

luật đó. Các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đồn Thị Điểm và Vũ Trinh là

những cây bút tiêu biểu đánh dấu sự phát triển và đổi mới của thể loại truyện truyền

kỳ từ lúc ra đời cho đến khi kết thúc.

Và điều chúng ta thấy rõ qua việc các tác giả không ai có cách tiếp cận vấn

đề trùng nhau mà ở mỗi thời điểm văn học họ lại có những cách nhìn nhận, tư

duy đánh giá khác nhau. Do đó, đối tượng phản ánh cũng là một trong những yếu

tố riêng cho thấy rõ sự khác biệt của mỗi nhà văn.

Nếu tác giả Lê Thánh Tông là người đánh dấu bước mở đầu cho thể truyền

kỳ của văn học Việt Nam với tác phẩm tiêu biểu TTDT và đối tượng phản ánh của

tác giả lúc này chưa hẳn tập trung vào những người phụ nữ mà người phụ nữ chỉ là

nét thống qua. Tác giả viết về người phụ nữ khơng phải là đề tài chính mà nhằm

mục đích giáo huấn, tải đạo. Các cơ gái trải qua bao khó khăn, thử thách vẫn được

trở về đồn tụ với gia đình. Trường hợp khơng thể quay về được vì một lí do nào đó

thì họ lại được trở về cõi tiên. Điều đặc biệt có thể thấy, ở trong thiên truyện nhân



61



vật nữ - đối tượng phản ánh của tác giả vẫn còn trộn lẫn chất thần và thường kết

thúc có hậu nên truyện ít nhiều vẫn mang màu sắc giống truyện cổ tích dân gian.

Sang thế kỷ XVI, trước những biến động rối ren của lịch sử, kết thúc thời đại

thịnh trị của vị vua anh minh Lê Thánh Tông. Đất nước bước vào thời kỳ khủng

hoảng liên miên bởi những vị vua bất tài không chịu chăm lo triều chính, mải chơi

hoang dâm nên dẫn tới cảnh tranh giành quyền lực đẩy người nông dân vào bể khổ.

Chứng kiến những cảnh đau thương ấy, Nguyễn Dữ đã lấy cảm hứng sáng tác ra

áng văn “thiên cổ kỳ bút”- TKML để phản ánh lại bức tranh thu nhỏ thối nát, suy

đồi của hiện thực xã hội bấy giờ. Qua đó, tác phẩm còn tố cáo xã hội phong kiến

đẩy những người dân vơ tội vào vòng bế tắc, oan khiên nhất là người phụ nữ. Do

vậy, một trong những nhân vật nhà văn quan tâm nhất lúc này chính là số phận và bi

kịch những người phụ nữ.

Nếu trước đây có vị vua anh minh soi sáng, bảo vệ cho họ thì nay vua khơng

ra vua, bề tơi khơng ra bề tôi, cùng nhau xâu xé, tranh giành quyền lực. Người nơng

dân chính là những người chịu hậu quả nặng nề nhất của cuộc chèn ép ấy. Nho giáo

lúc này đã có sự lung lay nhưng vẫn ăn sâu vào tiềm thức những giai cấp thống trị.

Họ vẫn lấy những luật lệ, giáo điều đểáp đặt lên số phận những người phụ nữ nhỏ

bé, đáng thương. Do vậy, dưới chế độ phong kiến biết bao cảnh ngang trái, vô lý đè

nặng trên đôi vai người phụ nữ mà họ chỉ biết cam chịu khơng biết kêu ai. Chính

điều đó, đã động tới sâu thẳm trái tim nhân đạo, thương người như thể thương thân

của nhà văn Nguyễn Dữ - vốn xuất thân từ nhà Nho, lại là người khác giới nên dẫu

có bênh vực cho người phụ nữ thì tác giả cũng chỉ dám bày tỏ thông qua yếu tố kỳ

ảo để phản ánh lại thực tại xã hội chứ không thể vượt ra khuôn khổ bênh vực họ

một cách trực diện. Bởi vậy, so với TTDT đối tượng phản ánh của TKML đã có sự

mở rộng phạm vi: khơng chỉ miêu tả qua đối tượng thần tiên mà đến đây cả ma quỷ,

hồn hoa và những con người bình dân cũng được tác giả đưa vào trang văn với tất

cả lòng cảm thơng, chia sẻ qua những bi kịch về cuộc đời nhân vật như: nàng tiên

nữ Giáng Hương (Từ thức lấy vợ tiên), hồn hoa nàg Đào - Liễu (Cuộc kỳ ngộ ở trại

Tây), người phụ nữ bình dân Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), con

gái quan nàng Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), hồn ma Thị

Ngh (Chuyện cây gạo)…Và tác giả còn đi sâu hơn Lê Thánh Tơng ở chỗ: khơng chỉ



62



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Nhân vật người phụ nữ với bản lĩnh đấu tranh cho hạnh phúc bản thân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×