Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Nhân vật người phụ nữ với những khát vọng và bi kịch

b. Nhân vật người phụ nữ với những khát vọng và bi kịch

Tải bản đầy đủ - 0trang

những điều đó trên trang văn nên tác giả Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông đã mượn yếu

tố kỳ ảo qua các nhân vật nữ là thần tiên, ma quái, hồn hoa như một phương tiện

hữu hiệu để truyền tải những khát khao cháy bỏng của người phụ nữ thời bấy giờ.

Đó là những cơ gái trong TTDT tuy có nguồn gốc khác nhau nhưng đều mang trong

mình khát vọng được sống, được yêu, được hạnh phúc... Và ở họ luôn có ý thức

vươn lên chiếm lĩnh cuộc sống, làm chủ số phận của mình như: Chuyện chồng dê,

Một dòng chữ đổi lấy gái thần, Chuyện tinh chuột, Duyên lạ nước hoa. Đây là tác

phẩm đầu tiên khai mở cho vấn đề nữ quyền trong văn học được nhà văn quan tâm

trực tiếp, không né tránh những ước mơ chân thực, đời thường, bản năng của con

người đặc biệt là người phụ nữ.

Trong Chuyện chồng dê, tác giả đã đưa người đọc đến với một câu chuyện

tình đầy cảm động. Vì thương người mẹ góa khơng người phụng dưỡng, trơng coi

nên người vợ đã khước từ mọi lời ong bướm, lả lơi của các đấng mày râu. Song bản

năng yêu và khao khát được u thì vẫn ln âm ỉ trong trái tim nàng và chỉ chờ cơ

hội thích hợp sẽ bùng cháy dữ dội. Tiết xuân đến, vạn vật sinh sôi nảy nở, đâm chồi

nảy lộc, mùa của tuổi trẻ tình yêu và hạnh phúc thì cũng là lúc nàng chợt nhận ra

“mình năm nay đã 21 tuổi, con gái khó lòng ở vậy một mình”. Giây phút đó như

một sự thức tỉnh khao khát về tình yêu, khao khát cảnh vợ chồng đơi lứa, về hạnh

phúc gia đình ấm êm. Chính sự khao khát gắn bó ấy, mà khi gặp chàng dê cơ gái đã

tình nguyện cùng chàng vượt qua mọi rào cản để đến được với nhau dẫu một bên là

tinh vật, một bên là chúa hoa “người trời lấy nhau, giao cảm bằng tình”. Hay trong

Chuyện lạ nhà thuyền chài kể về cuộc tình đầy chủ động, mãnh liệt của Thúc Ngư

và cô gái. Họ đến với nhau bằng tình yêu thương chân thành, tự nguyện của hai con

người khao khát hạnh phúc gia đình, khao khát yêu và được yêu nên không phải đợi

chờ sự ướm hỏi của cha mẹ, họ tự tìm đến và yêu nhau… Điểm tinh tế trong ngòi

bút của Lê Thánh Tơng nằm ở chỗ nhà văn đã mạnh chỉ ra những khát vọng đời

thường khi ca ngợi tình yêu tự do, thủy chung của con người, sẵn sàng trao thân gửi

phận cho người mình u mà khơng cần đủ đầy hơn lễ.

Trong xã hội phong kiến, lễ giáo cứng nhắc, tư tưởng cổ hủ “cha mẹ đặt đâu

con ngồi đấy” hay “nam nữ thụ thụ bất thân” hồn tồn trói buộc người phụ nữ. Họ

khơng có quyền tự sắp đặt, tự định vị cho cuộc sống cũng như hạnh phúc của bản



45



thân mình thì ở TTDT, tác giả Lê Thánh Tơng đã cho nhân vật của mình cái quyền

tự do mà khơng phải bị gò ép dưới vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến. Bằng

cách viết và cách thể hiện quan điểm rất mới của mình đối với quan niệm về người

phụ nữ, chứng tỏ ở Lê Thánh Tông đã có cái nhìn hồn tồn mới mẻ, rất phóng

khống, bao dung, tiến bộ và đi trước thời đại đối với người phụ nữ thời bấy giờ.

Phụ nữ Việt Nam thời phong kiến được giáo dục cách sống chỉ biết phục

tùng, an phận, ít có người phụ nữ nào dám vươn lên giành quyền lực của mình trong

cái xã hội “trọng nam khinh nữ” ấy. Tuy vậy, trong thể truyền kỳ qua các giai đoạn

lại có một số nhân vật nữ ln giữ trong mình những khát vọng hạnh phúc chỉ chờ

có cơ hội là họ sẵn sàng bứt phá giành lấy. Nhưng ước vọng sống mạnh mẽ, ý chí

vươn lên giành quyền sống, quyền làm người của họ lại đối lập với cái xã hội đương

thời không cho phép người phụ nữ làm vậy. TKML của tác giả Nguyễn Dữ ra đời

trong thế kỷ XVI, là tác phẩm đầu tiên đưa hình ảnh người phụ nữ bình dân nổi loạn

vào trong văn học với một loạt những quan niệm mới mẻ về hạnh phúc cũng như

tình u lứa đơi.

Nhân vật trong TKML, tác giả thể hiện khát vọng đến tột cùng trên con

đường đi tìm hạnh phúc thơng qua những con người dám vượt qua lễ giáo phong

kiến để mưu cầu một tình u đích thực. Họ đã “vùng vẫy”, đã “cựa quậy” vượt

khỏi những sự bó hẹp của lễ giáo, sẵn sàng đánh đổi tất cả để mong mình có được

hạnh phúc, kể cả chấp nhận cái chết và sống cuộc sống yêu ma, quỷ quái.

Đào Hàn Than trong Nghiệp oan của Đào thị bị vợ quan Hành khiển đánh

ghen một cách tàn nhẫn, uất hận trong lòng nên khi chết đi nàng vẫn không nguôi ý

định báo thù. Việc mất đi tình yêu, nỗi đau đớn về tinh thần lẫn thể xác, cùng với

việc nàng chết trên giường cữ khi đứa con chưa ra đời đã làm tăng nỗi uất ức trong

lòng nàng lên đến tột độ. Nàng quyết trở lại nhà quan Hành khiển để báo oán, khiến

cho dinh cơ nhà Hành khiển “rơi xuống vực sâu của thần Thuồng luồng”. Đào Hàn

Than chính là biểu hiện của lòng khát khao mãnh liệt vươn tới cuộc sống mà nàng

mong muốn. Và cũng chính con người nàng đã tập trung cao nhất nỗi đau khổ của

một kiếp người nhỏ bé, không phương tự vệ trong cái xã hội đầy rẫy những kì thị,

oan trái bất cơng mà nhà văn Nguyễn Dữ thấy được. Với nàng dường như cái chân

lí: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hi sinh gian khổ, ở



46



đời này khơng có con đường cùng, chỉ có những ranh giới. Điều cốt yêu là phải có sức

mạnh để vượt qua những ranh giới ấy” [Mùa lạc - Nguyễn Khải] trở nên vô nghĩa. Cho

nên, mỗi lần vấp ngã, mỗi lần vùng dậy vươn lên, nhưng càng cố gắng vươn lên bao

nhiêu thì nàng lại càng bị vùi dập, nhấn chìm sâu hơn bấy nhiêu. Từ cõi chết, nàng trở về

trả thù kẻ đã đày đọa mình nhưng kết cục nàng lại bị trừng trị tàn nhẫn hơn. Nàng phải

chết oan ức hai lần, cái chết sau thảm khốc hơn cái chết trước. Có thể nói rằng, Chuyện

nghiệp oan của Đào thị giống như tiếng kèn cấp báo mà Nguyễn Dữ cất lên để đòi lại

quyền sống, quyền tồn tại thuộc về con người trong buổi xế chiều của lịch sử chế độ

phong kiến Việt Nam thời trung đại.

Không chỉ có khát khao sống mãnh liệt, mà người phụ nữ trong sáng tác của

Nguyễn Dữ còn thể hiện lòng khát khao hạnh phúc ái ân đến cháy bỏng. Họ dám

thoát ra khỏi lễ giáo của Khổng - Mạnh để đi tìm tình yêu tự do, tìm niềm vui trong

ân ái xác thịt. Đó là nàng Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo, nàng là một cơ gái có

nhan sắc và chết khi tuổi còn q trẻ. Khơng cam chịu số phận nàng trở lại kiếp

người để tận hưởng cuộc sống, được khao khát yêu thương. Nàng tìm đến cuộc tình

với chàng Trình Trung Ngộ và sự xuất hiện của chàng khiến cho nàng sống lại

những ham muốn bình dị chưa có dịp thực hiện: “Nghĩ đời người chẳng khác gì một

giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống ngày nào nên tìm thấy những thú vui, kẻo

một sớm chết đi sẽ thành người của suối vàng, muốn tìm một cuộc hoan lạc ái ân

cũng không thể được nữa” [7,230].Và sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, trước lúc chia tay

Nhị Khanh lại nói: “Người ta sinh ra ở đời, cốt được thỏa chí, chứ văn chương thời

có làm gì, chẳng qua rồi cũng nắm đất vàng là hết chuyện. Đời trước, những người

hay chữ như Ban Cơ, Sái Nữ, nay còn nữa đâu. Sao bằng ngay trước mắt, tìm thú

vui say, để khỏi phụ mất một thời xuân tươi tốt” [7,232]. Hai lần nói ấy, cho thấy

một quan niệm sống, một quan niệm hạnh phúc, một quan niệm về sự ái ân của Nhị

Khanh không phải là quan niệm về một kiểu sống gấp, mà đây là một cách suy nghĩ

táo bạo, bản lĩnh phải sống sao cho xứng đáng với từng giây phút mình đang sống.

Xã hội phong kiến vốn là một xã hội với rất nhiều những hủ tục, lễ giáo. Xã

hội ấy gắn chặt tình u vào hơn nhân, vào nghĩa vụ giá thú nhưng quan niệm của

Nhị Khanh trong tác phẩm lại là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ, táo bạo: yêu chỉ

để yêu, để sống cho nhau, vì nhau, khơng nhất thiết chỉ tồn tại tình yêu trong mối



47



quan hệ vợ chồng. Vì thế, nàng là người đầu tiên của phái yếu chủ động nói đến

ham muốn thể xác một cách tự nhiên, bản năng và không ngần ngại: “Ngày tháng

quạnh hiu không người săn sóc, nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang

tối, thả khí nóng tới mầm khơ, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân

quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa ”

[7,231]. Nhị Khanh quả là đã làm được một việc trọng đại mở màn cho cuộc

cách mạng về luyến ái trong xã hội phong kiến. Chưa có người phụ nữ nào vượt

qua được ranh giới ấy để nói một cách thành thực và mạnh mẽ về khát vọng yêu

đương như ở Nhị Khanh. Hành động táo bạo, chủ động của nàng đã khiến người

đọc mọi thế hệ sửng sốt bởi sức mạnh chống trả của một người phụ nữ trước xã

hội kìm nén con người đến ngạt thở.

Cũng giống như Nhị Khanh, hai nhân vật Liễu và Đào trong Chuyện kỳ ngộ

ở Trại Tây cũng là hai hồn hoa thể hiện khát khao sống, khát khao tình yêu tự do,

hạnh phúc ái ân ngay cả khi đã trở thành người của cõi âm. Nàng Đào và Liễu được

giới thiệu là những tì thiếp của quan Thái sư triều Trần. Dưới chế độ quan lại ngày

xưa, hai nàng là những bông hoa đẹp được mang vào phủ quan để điểm trang, thời

gian đầu cuộc sống của hai nàng cũng tùy thuộc vào việc quan cho gọi lúc nào thì

biết lúc đó. Tuy cuộc sống nhàn hạ, ăn trắng mặc trơn nhưng cuộc đời các nàng

chẳng khác gì cuộc đời của những con chim cảnh. Những tháng năm xuân sắc cứ

lần lượt qua đi. Và bất hạnh cho hai nàng khi quan Thái sư mất, hai nàng bị chôn

theo để xuống cõi âm hầu hạ quan. Cuộc đời, số phận của hai nàng cho thấy rõ bộ

mặt xã hội với hàng loạt những điều lệ bất công, vô nhân đạo đối với người phụ nữ.

Chính những hành động vơ nhân đạo đó đã đẩy hai nàng đến hồn cảnh: thèm sống

cuộc sống được tự do, ấm áp tình người. Khơng cam lòng trước thực tại phũ phàng

đó, hai nàng đã quyết trở lại cõi dương để tìm hạnh phúc đời thường, tìm tới những

ái ân xác thịt bản năng. Hai nàng đã gặp chàng thư sinh Hà Nhân và không hề giấu

kín tâm sự của mình mà đã rất mạnh dạn thổ lộ với chàng cái chí ước ao bấy lâu

nay: “Từ ngày Thái sư qua đời, chúng em vẫn phòng thu khóa kín. Nay gặp tiết

xn tươi đẹp, chúng em muốn làm những bông hoa hướng dương, để khỏi hồi phí

mất xn quang” [7,250]. Thậm chí với vẻ hồn nhiên, hai nàng còn nhắc đến

chuyện tình tự trai gái mà khơng hề ngượng ngùng, coi đó là chuyện thường tình



48



cần phải nói ra: “Chúng em việc xn chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉ e mưa

gió nặng nề hoặc kham không nổi những tấm thân hoa mềm yếu” [7,251]. Cái khát

khao ấy nó chẳng khác gì cái khát khao mà trước đó trong Chuyện cây gạo, nàng

Nhị Khanh từng nói mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới

mầm khơ để được trộm bén xn quang đơi chút.

Có thể nói, niềm khát khao hạnh phúc gia đình là điều ln hướng tới của

mỗi con người. Nếu trong TTDT của tác giả Lê Thánh Tông trước đó mới chỉ dừng

lại ở mức độ “đả động” tới chứ chưa đi sâu, chưa dám nói một cách thẳng thắn, táo

bạo trong tác phẩm thì đến TKML của Nguyễn Dữ, nhà văn đã không ngần ngại khi

mượn thế giới nhân vật là hồn hoa, ma quái để trực tiếp bày tỏ, nói lên những khát

khao chính đáng thầm kín của con người. Đó cũng chính là sự vận động, phát triển

mới của tác giả Nguyễn Dữ trong quan niệm về người phụ nữ với một cái nhìn tiến

bộ hơn hẳn so với tác giả Lê Thánh Tông. Và không chỉ khao khát mãnh liệt, nhân

vật của ơng còn chứng tỏ trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, họ ln quyết tâm

thực hiện bằng được khát vọng đó, cho dù phải đánh đổi cả sinh mạng thì họ cũng

khơng ngừng nghỉ, sẵn sàng đầu thai trở lại để giành và chiếm giữ hạnh phúc.

Cho nên, bằng tấm lòng cảm thương sâu sắc và sự thấu hiểu nỗi lòng con

người, Nguyễn Dữ đã để cho nhân vật của mình thể hiện khát khao sống, khát khao

yêu và khát khao mưu cầu hạnh phúc cá nhân ở mọi cõi đời không chỉ lúc sống mà

ngay cả lúc chết - về cõi bên kia thế giới thì lòng khao khát ấy vẫn ln bừng cháy

dữ dội. Họ sẵn sàng vượt qua lễ giáo, bất chấp mọi trừng phạt của Nho giáo để sống

với những hạnh phúc đời thường với những khát khao bản năng chân thực nhất của

con người. Và có lẽ, chỉ trong thế giới ảo ấy họ mới tìm được sự cơng bằng, cơng lí,

mới được thực hiện những ước mơ mà khi ở cõi nhân gian họ không làm được. Vậy

nên, với hai nàng Đào, Liễu tình u, lòng khao khát sống đã trở thành lẽ sống ở

đời, nếu một ngày không gặp Hà Nhân sẽ là một ngày xa xôi, một lần không được

ngợi khen là một lần ủ ê, buồn bã.

Qua đó chúng ta thấy được, vấn đề số phận con người đặc biệt là người phụ

nữ được tác giả Nguyễn Dữ rất quan tâm trong thời đại bấy giờ. Có thể nói với

TKML và đặc biệt là với các truyện như: Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây, Chuyện yêu

quái ở Xương Giang, Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện cây gạo. Nguyễn Dữ



49



xứng đáng được coi là người đã đặt những viên gạch đầu tiên mở đầu cho trào lưu

giải phóng bản năng cá nhân con người.

Tiếp đến giai đoạn văn học thế kỷ XVIII, tác giả Đoàn Thị Điểm trong

TKTP và Vũ Trinh trong LTKVL trước sự chuyển biến của thời đại, Nho giáo đã bị

xuống cấp và ảnh hưởng của phong trào Thực học thời bấy giờ nên cách nhìn nhận

về quan niệm tình yêu, hạnh phúc gia đình có phần khác so với các tác phẩm khác

giai đoạn trước và những truyện viết tình u đều có pha trộn ít nhiều màu sắc thần

kỳ như: Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu, Chuyện tình ở Thanh Trì, Sống lại, Tháp

Báo Ân… Điều này có thể lí giải từ nhiều ngun nhân: tác giả xuất thân từ tầng lớp

quý tộc và trước thời đại rối ren, mục ruỗng, vua chúa tranh giành quyền lực đẩy

người dân vào cảnh khốn cùng. Con người trong thời đại ấy khơng còn tha thiết

với tư tưởng “trung qn ái quốc” nữa. Cho nên, con người phải đối diện với

cuộc sống mưu sinh cho cá nhân mình tồn tại. Chính những thay đổi của thời đại

đã làm manh nha những tư tưởng mới, con người mới. Họ nghĩ nhiều đến đời

sống thực tế, đến giá trị hạnh phúc của cá nhân mình hơn hết. Vì thế, văn học lúc

này hướng về những con người bình dị với những khát vọng bình dị, giản đơn,

sẵn có hàng ngày nên yếu tố ảo giảm đi thay vào đó là yếu tố hiện thực của cuộc

sống thường nhật nơi trần thế.

Trong 4 truyện TKTP của Đồn Thị Điểm thì đều có nội dung liên quan đến

tình u đơi lứa. Hơn thế, nữ sĩ còn để cho nhân vật của mình tự đứng lên phát biểu

quan niệm mới mẻ về tình yêu, hạnh phúc. Tình u đó là quyền tự do của cá nhân,

vì thế cá nhân có quyền tự quyết định hơn nhân của mình. Trước đây, quyền tự do

yêu đương này đã được tác giả Lê Thánh Tông nhắc đến nhưng lại qua phát ngôn

của nhân vật là nam giới chứ khơng phải nữ. Cụ thể đó là chàng Thúc Ngư trong

Chuyện lạ nhà thuyền chài thì nay quan niệm ấy lại được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đề

cập tới và bà trao trực tiếp cho nhân vật nữ phát ngôn cho quyền tự do, phóng

khống trong tình u. Đó cũng là một điểm nhìn mới của tác giả và thể hiện sự vận

động trong hình tượng nhân vật nữ theo quan niệm của từng tác giả. Trước đây

người phụ nữ chỉ như những tấm gương liệt nữ chói lòa,im lặng và khước từ mọi

thú vui trần thế thì nay họ đã cất lên tiếng nói đòi quyền cơng khai, tự do, cởi mở

trong tình u trước tồn xã hội, thậm chí còn coi đó là lẽ sống duy nhất ở đời.



50



Đến Liễu Hạnh (tức Giáng Tiên) trong truyện Vân Cát thần nữ. Nàng xuống

trần gian lần thứ hai và tái sinh mối nhân duyên cùng chàng thư sinh Đào Sinh, xuất

hiện như một người đàn bà hoàn toàn tự do - tự do trong mọi khía cạnh. Việc nàng

chủ động tìm đến tình yêu của mìnhđược thực hiện bằng cách cố gắng thuyết phục

Đào Sinh cùng nàng trải qua một đêm tại nhà chàng. Hành động và khao khát này

đã đi ngược lại với quan niệm tình yêu theo chuẩn mực đạo đức Nho giáo “cha

mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, hoặc “nam nữ thụ thụ bất thân”. Nghĩa là người con

gái khơng được chủ động trong tình u và cần phải giữ gìn trinh tiết, thì Liễu

Hạnh đã lật nhào, phá bỏ quan niệm đó. Với nàng giới nữ có quyền được chủ

động trong tình u, chủ động đi tìm và sẵn sàng tự bộc bạch tình cảm với nam

giới. Quan niệm thật táo bạo.

Không chỉ vậy, Liễu Hạnh còn chứng tỏ một cái nhìn mới mới mẻ tự do khi

chính nàng là người đi đến chủ động đề nghị cuộc hôn phối chứ không phải chàng.

Hơn thế, nàng nhấn mạnh vào sự kết hôn mà không cần đến bất kỳ nghi thức nào

“không dựa trên các nghi lễ tầm thường”. Và kết hơn khơng cần phải có sự chứng

kiến của cha mẹ: “Chúng ta trên khơng có bố mẹ, dưới khơng có họ hàng thân

thích” [9,95].

Khơng chỉ người phàm trần mà cả với những thần tiên họ cũng cần đến tình

yêu. Mối tình quấn quýt giữa Hà Giáng Kiều và Tú Uyên chính là minh chứng sâu

sắc. Tú Uyên ngày đêm tương tư, mơ ước gặp lại nàng và đáp lại mối si tình ấy,

nàng tiên nữ đã tình nguyện giã từ cuộc sống trên thiên đình để sớm hôm vui vầy

cùng chàng. Như vậy để thấy rằng: nếu khơng có tình u thì cuộc đời họ thật bất

hạnh và vơ nghĩa. Chính vì thế, các nhân vật trong truyện truyền kỳ họ sẵn sàng

đánh đổi mọi thứ, kể cả hi sinh tính mạng để được bên người mình yêu suốt đời.

Chẳng thế mà khi Giáng Kiều rời bỏ kiếp nạn của mình ở trần gian thì Tú Un đã

khóc lóc thảm thiết và khơng thiết sống nữa. Tình u có một sức mạnh kỳ diệu

khơng chỉ có con người mà ngay cả thần tiên, ma quỷ cũng vậy luôn khao khát,

luôn hướng tới không mệt mỏi.

Vũ Trinh là tác giả thể hiện rõ nhất sự trân trọng của mình với người phụ nữ,

nên khơng chỉ trân trọng họ qua những phẩm hạnh hiếu nghĩa đủ đường mà ơng còn

trân trọng họ ngay cả trong tình u. Đó là những mối tình say đắm, đẹp đẽ và



51



khơng kém phần cháy bỏng. Họ xuất thân từ những tầng lớp khác nhau từ thượng

lưu giàu có đến những người thấp hèn nhất của xã hội như nàng ca kỹ nhưng tất cả

họ đều chủ động tìm đến với tình yêu, biết trân trọng những hạnh phúc trần thế và

đều hi sinh cho người mình yêu một cách tự nguyện, chân thành. Cô gái trong Ca

kỹ họ Nguyễn được miêu tả là cô gái tài sắc. Yêu chàng thư sinh Vũ Khâm Lân ngay

từ cái nhìn đầu tiên, cơ đã tự nguyện chăm sóc, lo tiền bạc, hành trang cho chàng

yên tâm đèn sách, dựng xây cơ đồ. Khác với một số nhân vật nữ trong TKML của

Nguyễn Dữ, nhân vật của Vũ Trinh luôn yêu nồng nàn, say đắm song họ khơng hề

lả lơi, đùa cợt mà rất giữ gìn bản thân. Câu nói của nàng với Vũ Khâm Lân khi anh

này có ý lả lơi đã thể hiện rõ phẩm chất ấy: “Nếu thiếp là kẻ dâm đãng thì thiên hạ

thiếu gì bọn đàn ơng” [50,67]. Hi sinh, lo toan cho người mình yêu là vậy nhưng

cuối cùng vì xuất thân thấp hèn nàng cũng bị từ chối, tình u vượt khỏi tầm tay.

Hay cơ gái trong Chuyện tình ở Thanh Trì cũng vậy. Yêu tha thiết, đắm say anh lái

đò nghèo ngay khi nghe giọng hát của anh lần đầu, cơ đã chủ động nói lên tình cảm

của mình và bảo với chàng trai muốn lấy cơ thì tìm người mai mối. Hành động của

cơ cũng xuất phát từ niềm khát khao có một tình u trọn vẹn, thủy chung, một mái

ấm gia đình hạnh phúc. Nhưng chỉ vì khơng mơn đăng hộ đối nên cơ bị người cha

cấm đoán, cả hai vốn đều say đắm tương tư nên khi bị phản đối chàng thì quyết chí

ra đi lập nghiệp hi vọng có đủ tiền về cưới nàng làm vợ còn nàng ở lại vì mong nhớ

tới người đi, buồn thương sinh bệnh nên ngày càng tiều tụy rồi qua đời. Tình u

của cơ gái dành cho anh lái đò nghèo sâu đậm đến mức khơng chỉ lúc sống ốm

vì tương tư, thương nhớ tới chàng mà ngay cả khi chết đi rồi trong tâm trí cơ,

trái tim cơ vẫn ln in hình bóng anh, chi tiết: khi cô chết rồi trọng bụng cô

chứa một vật lạ búa đập khơng vỡ, trên đó có in bóng hình chàng trai đang ngả

đầu tựa mái chèo nằm hát. Điều đó cho thấy sức mạnh vĩ đại, trường tồn của

tình yêu đối với con người ghê gớm chừng nào. Như một liều thuốc, nó có thể

cứu sống hoặc giết chết con người.

Bên cạnh đó, nhân vật nữ của Vũ Trinh còn thể hiện một cách táo bạo hơn so

với các nhân vật nữ của các tác giả khác ở chỗ: ông để cho nhân vật phóng khống

trong quan hệ tình ái. Nếu như điều này trước đây Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tơng đã

bàn tới trong tác phẩm của mình thơng qua thế giới của thần tiên ma quái thì nay Vũ



52



Trinh mạnh dạn tháo bỏ “đôi cánh kỳ ảo” để những hành động tự do, phóng khống

ân ái được thực hiện ngay cả khi họ là những người phàm tục, bình dân. Cô gái

trong Tháp Báo Ân, vượt qua khuôn khổ lễ giáo phong kiến để trao thân cho người

mình yêu. Như vậy, khơng chỉ ngợi ca đức tính hiếu hạnh, thủy chung của nhân vật

nữ mà tác giả Vũ Trinh còn tỏ ra trân trọng những khát khao hạnh phúc đời thường

của họ. Nếu như Nho giáo quan niệm người quân tử “nam nữ thụ thụ bất thân” thì ở

đây Vũ Trinh đã vượt qua khuôn phép Nho gia để ngợi ca vấn đề tình dục ân ái một

cách trực diện.

Như vậy, qua một loạt các tác phẩm kể trên của thể truyền kỳ giai đoạn văn

học thế kỷ XV - XVIII đã góp phần giúp người đọc thấy được ngay cả trong khát

vọng của người phụ nữ thì mỗi tác giả cũng có những cách thể hiện khác nhau, mức

độ đậm nhạt khác nhau và điểm chung ở chỗ các tác giả không chỉ dừng lại ở phản

ánh mong muốn đơn thuần của người phụ nữ: được tự do trong tình u, mà họ còn

đưa nhân vật của mình đến với những cuộc tình gắn liền với xúc cảm ái ân tình dục.

Bởi lẽ thường tình, con người cũng phải được sống với những khát vọng trần thế

bản năng tự nhiên mang tính người ấy. Tình u đã làm nên nét mới cho chủ nghĩa

nhân đạo trong văn học.

- Những bi kịch và bất hạnh của người phụ nữ

Người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến với những luật lệ hà khắc nên bên

cạnh những ước mơ, khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa và giá trị hơn thì

khơng ít những cơ gái mạnh dạn bước đi trên con đường tìm kiếm hạnh phúc cho mình

đã vấp phải những bi kịch vơ cùng đáng thương. Các tác giả truyền kỳ giai đoạn thế kỷ

XV- XVIII, thể hiện sự quan tâm tới người phụ nữ không chỉ trên phương diện phản

ánh số phận, khát vọng mà còn chú ý tới cả những bất hạnh, bi kịch mà họ phải chịu

đựng. Và khi phản ánh tố cáo hiện thực xã hội thì các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn

Dữ, Đồn Thị Điểm và Vũ Trinh đều có điểm chung xuất phát từ lập trường đạo đức để

phê phán, tố cáo còn trước những vấn đề liên quan đến quyền sống, quyền tự do và

mưu cầu hạnh phúc của người phụ nữ thì các tác giả lại đứng trên quan điểm nhân đạo.

Theo lẽ đó, truyện truyền kỳ được gọi là thể loại đánh dấu cho sự mở đầu và phát

triển của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học sau này.



53



Có thể nói, người phụ nữ trong TTDT và trong TKML cho dù có nguồn gốc

xuất thân khác nhau nhưng họ luôn cháy bỏng niềm khát khao được sống, được yêu,

được hưởng hạnh phúc bên người tri kỷ. Mặc dù, cùng viết về đề tài người phụ nữ

nhưng ta thấy số phận của họ trong hai tác phẩm có sự khác biệt. Trong TTDT là

những người phụ nữ thường có số phận may mắn, còn người phụ nữ trong TKML

phần nhiều lại có số phận bất hạnh.

Nếu như yêu nữ Châu Mai, vợ thần núi Đông Ngu hay cơng chúa Bướm

trong TTDT có lúc phải chịu cảnh “rẽ thúy chia uyên”, phải nhỏ lệ đau thương và

chịu sự hi sinh thầm lặng. Nhưng cuối cùng họ vẫn nhận được đền bù xứng đáng,

vợ chồng chia lìa sau lại được trùng phùng. Còn những người phụ nữ trong TKML

thì sao? Một Vũ Nương, một Nhị Khanh… làm tròn bổn phận của người con, người

vợ, người mẹ nhưng lại chịu bất hạnh. Chồng Vũ Nương ra trận, nàng chẳng dám

mong chồng đeo được ấn phong hầu trở về quê cũ, mà chỉ mong sao chồng nàng

giữ được hai chữ “bình yên”. Ba năm chờ đợi “giữ gìn một tiết”. Vũ Nương những

mong ngày Trương sinh trở về, gia đình được đồn tụ hạnh phúc. Thế nhưng, cái

ngày đó cũng chính là ngày cuộc đời người phụ nữ tan nát. Khác với hầu hết những

truyện viết về người phụ nữ trong TTDT, Chuyện người con gái Nam Xương khơng

hề có một cảnh đồn viên nào được nói tới. Ngay cả phần đầu truyện đã nói đến cảnh

nàng tiễn chồng ra trận. Sau đó, từ chiến trận trở về, vì nghe lời con trẻ, lại sẵn có tính

ghen tng, chàng Trương khơng tiếc lời sỉ nhục và thậm chí còn đánh đập đuổi vợ đi.

Không thể minh oan, nàng đã kết liễu đời mình trong dòng nước. Cũng giống như Vũ

Nương, Nhị Khanh mòn mỏi đợi chồng (Chuyện người nghĩa phụ ở Khối Châu) và

rồi gia đình nàng cũng được đồn viên. Nhưng cuộc đoàn viên chưa được bao lâu,

Trong Quỳ vì ham mê cờ bạc đến nỗi phải đem Nhị Khanh để gán nợ. Làm sao có thể

chấp nhận sự thật phũ phàng bị chồng đem bán mình cho người khác. Nàng khơng còn

con đường nào khác ngồi tự vẫn.

Có thể nói,Vũ Nương và Nhị Khanh là hai người phụ nữ tiêu biểu sống theo

chuẩn mực đạo đức Nho giáo - “tam tòng tứ đức”. Thế nhưng họ khơng được hưởng

hạnh phúc mà trái lại họ phải gánh chịu mọi sự bất hạnh và dẫn đến cái chết oan ức.

Qua đây, Nguyễn Dữ lên tiếng tố cáo xã hội thối nátvà đầy những oan trái bất công.



54



Một xã hội như thế khơng có chỗ cho những điều tốt đẹp, cho những con người có

phẩm hạnh trong sáng như Vũ Nương, Nhị Khanh nên họ đều có kết cục bi kịch.

Còn những người phụ nữ sống theo kiểu “nổi loạn” như Nhị Khanh (Chuyện

cây gạo), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương Giang), Đào - Liễu (Kỳ ngộ ở Trại

Tây) và đặc biệt Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị). Cuộc đời của họ cũng

kết thúc bằng cái chết bi thảm. Họ muốn vươn lên, vượt qua mọi khuôn phép lễ giáo

phong kiến để chủ động tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng xã hội này không cho phép ai

vượt qua rào cản của nó. Những người phụ nữ muốn chống lại kỷ cương thì lẽ tất

nhiên phải chịu thất bại và cay đắng.

Đọc TTDT ta thấy nhân vật nữ trong truyện Tinh chuột được giải oan, còn

con chuột kia bị kết tội chết. Điều đó chứng tỏ pháp luật bảo vệ cho người dân vô

tội và thẳng tay trừng trị kẻ phản nghịch. Thế nhưng ở thời đại Nguyễn Dữ, hạnh

phúc luôn bị đe dọa bởi các thế lực tàn bạo trong xã hội nên nàng Túy Tiêu vì sắc

đẹp mà bị rơi vào tay kẻ cường quyền độc ác (Chuyện nàng Túy Tiêu) hay đôi uyên

ương Phật Sinh - Lệ Nương bị chia âm dương đơi ngả vì chiến tranh phong kiến…

Ta thấy rằng những người phụ nữ trong TKML, dù sống theo kiểu nào, ngoan

ngoãn, thủy chung, tiết hạnh hay nổi lọan thì cái chết ln đeo đuổi họ. Tuy nhiên

có một vài nhân vật nữ được sống sót, nhưng sự sống đó hầu như cũng khơng đem

lại một hứa hẹn tươi sáng nào.

Sang thế kỷ XVIII, với tác giả Đoàn Thị Điểm và Vũ Trinh truyện truyền kỳ

ảnh hưởng của bối cảnh thời đại và phong trào Thực học lúc bấy giờ nên hướng viết

và phản ánh bi kịch nhân vật có phần cách tân hơn trước. Hai tác giả chú ý nhiều

đến những người phụ nữ bình dân, người phụ nữ trong gia đình để phản ánh chứ

khơng còn mượn tới những nhân vật thần tiên, ma quái như các tác giả trước đó.

Bởi lẽ, giai đoạn này, vai trò của Nho giáo khơng còn chiếm vị trí độc tơn mà đã suy

yếu, mờ nhạt nên cái tôi cá nhân của con người được chú ý tới. Các tác giả lúc này

cũng có cái nhìn phóng khống hơn trong quan niệm về con người: trân trọng, ca

ngợi và bắt đầu hé mở giải pháp cho nhân vật, dẫu rằng kết thúc cuộc đời họ vẫn là

bi kịch. Điều mà trước đó tác giả Nguyễn Dữ bất lực trên con đường đi tìm giải

pháp cho nhân vật của mình.



55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Nhân vật người phụ nữ với những khát vọng và bi kịch

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×