Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Nhân vật người phụ nữ theo đạo lý cương thường

a. Nhân vật người phụ nữ theo đạo lý cương thường

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong Chuyện yêu nữ Châu Mai, Hai gái thần và truyện Duyên lạ nước hoa. Ở

Chuyện yêu nữ Châu Mai kể về một nữ yêu tinh xinh đẹp tên là Ngư Nương đã thủy

chung chờ đợi chồng. Bằng phép thuật tinh thơng của mình nàng đã biến hóa kỳ ảo,

lúc biến thành cơ gái xinh đẹp, có lúc lại nhẹ như Triệu Phi Yến, lúc béo tốt như

Dương Quý Phi nhưng không phải để đi mê hoặc hay dụ dỗ người đời mà để chờ

đợi tìm lại người chồng xưa. Yêu nữ ẩn náu trong nhà hát, mong dùng tiếng hát của

mình để làm tín hiệu giúp chồng nhận ra. Mặc cho sự giàu sang quyền quý của

khách làng chơi, nàng bỏ ngoài tai những lời dụ dỗ ngon ngọt hay dọa dẫm của chủ

nhà hát, người phụ nữ ấy vẫn chung trinh một chờ đợi chồng

Cũng giống như yêu nữ Châu Mai, vợ thần núi Đông Ngu không quản ngại

gian khổ đi tìm người chồng yêu dấu năm xưa của mình nay lạc xuống chốn dương

gian trong truyện Hai gái thần. Trong câu chuyện, sự xuất hiện của nàng được miêu

tả đó là một cơ gái trẻ “đương tuổi cập kê, mặt hoa da tuyết”. Vẻ đẹp ấy khiến cho

“nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ tưởng. Nhưng hễ kẻ nào manh tâm trêu

ghẹo, thì tự nhiên rối trí nhức đầu” [34,37] nên khơng ai dám đến gần. Đó là ý thức

bảo vệ nhân phẩm của người phụ nữ có nhân cách cao đẹp, một lòng thủy chung với

người chồng, dù hai người đang bị thất lạc khá lâu.

Sống những năm tháng xa chồng, giữa bao nhiêu lời ong bướm cợt trêu

kia, nhưng nàng vẫn “quyết tâm rẽ đường đi tìm người tơi u” đến cuối cuộc

đời chứ khơng thay lòng đổi dạ. Dẫu biết con đường phía trước là mịt mù, vơ

định nhưng với tình u thủy chung và niềm tin vững chắc nàng khơng quản

ngại khó khăn, gian khổ đi tìm chồng khắp chốn đã làm cho biết bao trái tim bạn

đọc phải cảm phục, ngưỡng mộ.

Tới cả nàng Mộng Trang - công chúa Bướm, một lòng thủy chung chờ đợi

chồng trong truyện Duyên lạ nước hoa. Trải qua bao cảnh biệt ly với bao gian nan,

thử thách. Cuối cùng vợ chồng cũng được đoàn tụ hạnh phúc. Chồng nàng sau khi

hiển vinh trở thành “Bình Man đại tướng quân” đã không quên người vợ thủa hàn

vi, sẵn sàng từ quan chết theo vợ để được cùng nhau sống ở một thế giới khác.

Qua đây, ta thấy rằng một nữ chúa Bướm, một yêu nữ Châu Mai hay vợ thần

Đơng Ngu, mỗi người tuy có một số phận khác nhau nhưng với lòng thủy chung son

sắt nên cuối cùng họ vẫn được hạnh phúc bên nhau. Đồng thời, tác giả Lê Thánh



33



Tông khi phác họa nên những nhân vật của mình đều có dụng ý xây dựng và thể

hiện ở đó những con người lí tưởng, những con người là hiện thân cho mẫu hình

của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Họ không chỉ đẹp ở vẻ ngồi đơn sơ mộc

mạc, mà họ còn tốt lên vẻ đẹp nội tâm sáng ngời phẩm hạnh tiết nghĩa.

Tiếp đến TKML của tác giả Nguyễn Dữ, những phẩm chất đẹp đẽ của người

phụ nữ cũng được tác giả kế thừa và phát triển thông qua các nhân vật trong truyện .

Tiêu biểu là nàng Vũ Thị Thiết, người con gái q ở Nam Xương “tính tình thùy mị,

nết na lại có thêm tư dung tốt đẹp”. Nàng là một cơ gái hồn hảo của làng q, một

bơng hoa đầy sức hấp dẫn của vườn biếc. Chính vì nàng có nhiều ưu điểm như vậy,

nên “Trương Sinh đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Về nhà chồng, Vũ

Nương cư xử rất hiếu thuận với mọi người, coi bố mẹ chồng như bố mẹ đẻ của

mình. Phẩm chất của nàng còn được thể hiện rõ hơn khi chồng đi chinh chiến nơi

xa. Chồng ra đi nàng nhắn nhủ bằng những lời chân thành, tình nghĩa: “Lang quân

đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu trở về quê cũ, chỉ xin

ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi…” [7,201]. Những ngày xa

chồng, sống trong nỗi buồn, nỗi nhớ nhung mòn mỏi nhưng nàng ln là một người mẹ

hiền, một nàng dâu thảo và một người vợ thủy chung: “Cách biệt ba năm giữ gìn một

tiết, tơ son điểm phấn từng đã ngi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”

[7,385]. Hay là nàng Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu cũng là

một người vợ thủy chung, tiết hạnh. Trong những ngày chồng đi chiến trận trước lời

khuyên nhủ của bà cô Lưu thị và trước những lời “trăng gió cợt trêu” của người ngồi

nàng “thà liều mình chứ quyết khơng mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp lòng

người khác…” [7,218]. Phẩm chất thủy chung của nàng với người chồng là trước sau

như một, khơng gì thay đổi.

Nếu như ở tác giả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ phác họa chân dung nhân

vật vẫn còn trộn lẫn chất thần thì đến Đồn Thị Điểm chân dung nhân vật của bà

hầu như là những người phàm tục có thật trong lịch sử và được lý tưởng hóa thơng

qua bút pháp kỳ ảo. Nhân vật Đinh phu nhân trong Người liệt nữ ở An Ấp - là nhân

vật có thực trong lịch sử - vợ của tiến sĩ trẻ Đinh Nho Hoàn đã tự vẫn theo chồng

khi nghe tin chồng chết trên đường đi sứ. Phẩm chất thủy chung của nàng thể hiện

rất rõ ở hành động: sống thì mong sánh vai cùng nhau, chết nguyện đi theo để thỏa



34



nỗi nhớ thương vợ chồng có nhau không chia cắt. Hành động thủy chung của nàng

cũng chẳng khác gì các cơ gái trong TTDT hay TKML. Ở phương diện nào đi nữa,

họ vẫn luôn tỏa sáng phẩm chất, nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Á Đông rất

thủy chung son sắt với đức lang quân của mình. Chính vì vậy, các cơ gái hiện lên

trên trang viết của các tác giả không chỉ là người phụ nữ có vẻ đẹp “quốc sắc thiên

hương” mà ở họ còn hội tụ đầy đủ những phẩm chất “cơng - dung - ngôn - hạnh”

của người phụ nữ truyền thống, đặc biệt là tấm lòng thủy chung son sắt một lòng

hướng về người chồng.

Những người phụ nữ đó khơng chỉ sống đúng mực theo những quy định đạo

đức Nho giáo mà họ còn một lòng theo chồng, thủ tiết với chồng ngay cả khi chưa

được kết nghĩa trăm năm như trong LTKVL của tác giả Vũ Trinh. Cô gái trong Ca

kỹ họ Nguyễn, vì xuất thân là ca kỹ nên gia đình chàng phản đối, ngăn cấm nhưng

người con gái ấy vẫn sẵn sàng hi sinh vì người mình yêu, hi sinh ngay cả khi chàng

trai phụ bạc tấm chân tình, cưới người con gái khác làm vợ thì cơ vẫn: “Tiền trình

của chàng còn xa mn dặm, thiếp hèn hạ khơng xứng hầu hạ khăn lược cho

chàng. Đó là số phận của thiếp” [50,69]. Hay người con gái trong Chuyện tình ở

Thanh Trì cũng vì mối tình sâu nặng với chàng lái đò nghèo mà một lòng thủy

chung sắt son, ơm trọn tấm chân tình đến héo mòn. Tấm lòng thủy chung của nàng

đã hóa thành khối đá in bóng hình chàng trai và hình ảnh con đò trong trái tim chỉ

đến khi có giọt nước mắt của chàng lái đò nhỏ xuống khối đá ấy mới tan chảy được.

Lòng thủy chung của nhân vật nữ trong truyện, khơng khơng chỉ dừng lại ở

một lòng hướng về đối phương mà ngay cả hành động thủ tiết theo chồng hay ở vậy

thờ chồng cũng là một cách thể hiện cho phảm chất thủy chung ấy. Đó là Người con

gái trinh liệt ở Cổ Trâu khi chồng mất, người vợ mới 20 tuổi nhưng nàng đã tự tử theo

chồng. Hay Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Thất đã ở vậy khơng tái giá để giữ trọn

mối tình thủy chung với người chồng. Những người phụ nữ này khi có chồng đều trao

gửi hết tâm tình và tấm lòng cho nhà chồng. Họ là những người bình thường, họ có

một cuộc sống bình dị nhưng họ đã làm được những điều phi thường mà người người

ngưỡng mộ.

Tóm lại, ở các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đồn Thị Điểm và Vũ

Trinh qua một vài nhân vật nữ tiêu biểu đã cho thấy ở các tác giả khi tiếp cận và



35



phản ánh về nhân vật nữ có sự khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất khi đưa ra

cách nhìn nhận, đánh giá về người phụ nữ. Đó là những người phụ nữ thủy chung,

son sắt trong tình yêu.

- Người phụ nữ ln có ý thức giữ gìn phẩm tiết

Trong xã hội xưa kia, người phụ nữ luôn sống và chịu sự chi phối của Nho

giáo nên những người phụ nữ bị mất trinh tiết hoặc chưa chồng mà chửa đều là điều

cấm kỵ, sẽ bị xử phạt bằng cách đuổi khỏi làng hoặc cạo đầu bôi vôi, thả trôi sông

không thương tiếc. Quan điểm Nho giáo cho rằng những người phụ nữ “lệch chuẩn” ấy

sẽ mang lại xui xẻo cho dân làng, dòng tộc và gia đình. Do vậy, phẩm tiết là yếu tố vô

cùng quan trọng, là thước đo nhân cách của người phụ nữ. Người phụ nữ một khi đã bị

thất tiết thì nghĩa là phẩm hạnh, nhân cách cũng bị hoen ố theo. Và để đánh giá nhân

cách của người phụ nữ trước hết người xưa nhìn vào họ có phải là người phụ nữ trinh

tiết hay không.

Các tác giả truyền kỳ cũng hết sức coi trọng chữ trinh nơi người phụ nữ. Bởi

đó là một trong những yếu tố quan trọng để xã hội phong kiến đánh giá nhân cách

của họ. Chẳng thế mà nàng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của

Nguyễn Dữ chỉ vì cái bóng, nàng đã nói dối con trẻ là cha nó mà vơ tình Trương

Sinh nghi nàng là thất tiết, là hư hỏng rồi đánh và đuổi nàng đi. Và cũng vì chữ

trinh chung thủy“gái chính chun chỉ lấy một chồng” mà cô gái trong truyện Tinh

chuột của Lê Thánh Tông bị con yêu chuột giả danh người chồng đêm đêm lẻn vào

phòng tình tứ, người chồng khơng hiểu cũng nghĩ nàng thất tiết, phản bội… Song

cái án oan ấy khơng phải cơ gái nào cũng đòi lại công bằng giống như cô gái trong

truyện Tinh chuột được trở về trong sự chào đón của gia đình, người thân mà bên

cạnh đó còn có những người như nàng Vũ Thị Thiết phải lấy cái chết đầy bi thảm

của mình để minh oan cho tấm lòng trung trinh sáng ngời “hướng về chồng một

phương” thuở ấy.

Đặc biệt là người ln có thái độ xem trọng phụ nữ và ca ngợi những phẩm

chất tốt đẹp của họ, tác giả Vũ Trinh khi khác họa về những người phụ nữ thủy chung,

tiết liệt, ông luôn gắn họ với quan niệm về chữ “trinh” rất tiến bộ. Những câu chuyện

tình yêu của ông không mang màu sắc nhục cảm mà chỉ đầy ân tình, hào khí mà trong

truyện TKML của Nguyễn Dữ ta khơng thấy được. Có thể thấy rằng người phụ nữ



36



trong sáng tác của ơng khơng có bóng dáng của người phụ nữ “lệch chuẩn” như trong

truyện của Nguyễn Dữ mà chủ yếu là những nhân vật sống theo đạo lý luân thường,

giữ gìn trinh tiết phẩm hạnh với người mình u trước sau như một. Đó là cơ ca kỹ

trong Ca kỹ họ Nguyễn, cô gái ấy đã yêu chàng nho sinh bằng một tình yêu cao thượng,

sẵn sàng hi sinh vì người mình yêu. Tấm chân tình của cơ khiến cho người đọc có thể

vứt bỏ hồn tồn cái nhìn kỳ thị đối với thân phận con hát trong xã hội bấy giờ để thay

vào đó bằng lòng ngưỡng mộ, cảm phục đối với cô gái. Nhưng không phải vì u say

đắm mà có thể dễ dàng hiến dâng tất cả, cơ đã có hành động ứng xử rất nghiêm nghị,

chuẩn mực khi Vũ Khâm Lân có ý lả lơi: “Nếu thiếp dâm đãng thì thiếu gì bọn đàn

ơng?” [50,62]. Ngồi ra còn có cơ gái trong truyện Người đàn bà trinh tiết ở Thạch

Hán, Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu cũng cũng thể hiện việc giữ gìn phẩm tiết qua

hành động thủ tiết thờ chồng không đi thêm bước nữa khi chồng qua đời.

- Người mẹ yêu thương con vô bờ bến

Người phụ nữ trong truyện truyền kỳ hiện lên khơng chỉ đẹp trong tình

u,khơng chỉ đẹp trong tình thân cha mẹ, làng xóm mà hơn hết họ đẹp trong tình mẫu

tử thiêng liêng.

Trong TTDT ta bắt gặp hình ảnh người mẹ già 36 năm trời tựa cửa chờ con

trai đi báo thù cho cha trong Hai gái thần của Lê Thánh Tông, khiến cho chúng ta

cảm phục trước tình mẫu tử ln hướng về đứa con thân u cho dù người con

khơng còn ở cạnh mình. Đó còn là hình ảnh người mẹ trong Chuyện người con gái

Nam Xương của Nguyễn Dữ, nàng Vũ Nương vì thương u con, xót cho con sinh

ra khơng biết mặt người cha và muốn hình thành cho con khái niệm về tình phụ tử

thiêng liêng trong tâm thức đứa bé mà vơ tình nàng đã qn rằng người chồng ấy có

tính hay ghen nên đã thản nhiên chỉ vào bóng mình hàng đêm để nói với con đó là

cha bé. Và chính sự vơ tình ấy, đã tạo nên nguồn cơn cho nỗi oan khiên của cuộc

đời nàng sau này. Nhưng suy cho cùng hành động đó cũng chỉ vì lòng thương con

và thủy chung hướng về chồng yêu thương.

Hay nhân vật Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, nàng

cũng là một người từ mẫu hết mực yêu thương các con. Chi tiết nàng đứt từng khúc

ruột khi bộc bạch với con bằng những lời lẽ nghẹn ngào: “Cha con bạc tình, mẹ đau

buồn lắm, biệt ly là chuyện thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì.



37



Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thơi” [7,223] đã nói rõ tấm lòng bao la, vĩ

đại của người mẹ lúc nào cũng nghĩ và thương các con vô bờ bến. Bởi thế, mà ngay

cả khi chết đi rồi, đã hóa thành tiên nhưng vì thương con, vì vương vấn chữ tình mà

nàng hiện về bảo chồng khuyên hai con bền chí đi theo vị chân nhân họ Lê thì nàng

chết cũng cam lòng.

Sang thế kỷ XVIII với tác phẩm TKTP của Đoàn Thị Điểm và LTKVL của

Vũ Trinh thì tình mẫu tử thiêng liêng ấy lại được các tác giả đi sâu hơn nữa và

hướng về những con người trần thế có thật ngồi đời. Với Đồn Thị Điểm, có thể

thấy đây là một tác giả nữ đầu tiên của văn học truyền kỳ Việt Nam, dám lên tiếng

bênh vực cho số phận người cùng giới với mình dưới chế độ phong kiến vẫn còn

đang ngự trị, quả khơng phải là một chuyện dễ dàng nhưng với bản lĩnh táo bạo và

tài năng xuất chúng bà đã làm được điều đó. Các nhân vật nữ của nữ sĩ hiện lên là

những con người có thực ở đời và được nữ sĩ tơ vẽ bằng bút pháp thần kỳ, lý tưởng

hóa như Thánh nữ. Song tất cả họ đều là những nhân vật biểu tượng cho người phụ

nữ Việt Nam: trung hậu - tiết liệt - đảm đang muôn đời nay. Và ngay cả trên phương

diện là người mẹ thì các nhân vật của nữ sĩ cũng ln tỏa sáng. Đó là nàng Liễu

Hạnh trong Nữ thần ở Vân Cát, dù đã thoát tục sang cõi tiên nhưng tiên chúa vẫn

một lòng lo cho con, khuyên chồng cáo quan về làng, không lấy vợ, chỉ chăm lo

việc dạy con. Tình mẹ dành cho con khơng chỉ là sự trải lòng khi người mẹ đang có

mặt trên thế gian mà ngay cả khi người mẹ ấy khơng còn trên cõi trần thì tình u

ấy vẫn theo con trên mọi nẻo đường. Hay đó còn là người mẹ sẵn sàng hi sinh tuổi

xuân son trẻ của mình, để ni dạy con thơ khi chồng đã mất trong Liên Hồ Quận

công của tác giả Vũ Trinh. Là người mẹ sẵn sàng bước dậy khi đã về thế giới bên

kia để đi tìm kiếm thức ăn ni con, giành lại sự sống cho con trong Đẻ lạ. Truyện

không chỉ thể hiện lòng cao cả và sự ngưỡng mộ của người mẹ luôn che chở, bảo vệ

cho con mà ngay cả khi chết đi rồi người mẹ ấy vẫn cố gắng hiển linh để đi mua đồ

ăn chăm sóc, giành lấy sự sống cho đứa trẻ khỏi lưỡi hái tử thần là điều khơng gì có

thể so sánh được.

- Giúp chồng xây dựng nghiệp lớn

Ngồi thể hiện vai trò, vị trí trong gia đình như đã nói ở trên người phụ nữ

còn giúp chồng yên tâm tề gia trị quốc, xây dựng nghiệp lớn. Đó là nàng Mộng



38



Trang truyện Duyên lạ nước hoa, chi tiết kể việc Chu Sinh khi nghe Quốc mẫu nói

chàng phải tạm thời chia li vợ con một thời gian vì việc nước đang bị quân Ô Thước

giày xéo, Chu sinh đã vội vàng chạy thẳng đến phòng vợ mà khóc lóc thảm thiết rồi

ngất đi, Mộng Trang đã trấn an tinh thần chồng bằng câu nói: “Trước tạm tạm chia,

sau lại hợp, đó là lẽ thường trong đời”. Và chi tiết Mộng Trang dự đoán được việc

binh đao sẽ xảy ra ở dương gian nên khi chia tay đã gửi tặng cho chồng bài thơ,

trong đó nàng đã nói rất rõ cách đánh giặc theo hướng nào sẽ chiến thắng được kẻ

thù mà kế sách vẫn vẹn toàn… Như thế để thấy được, ở người phụ nữ khơng chỉ có

tấm lòng chung trinh, thủy chung son sắc trong tình u mà vai trò của họ cũng

khơng kém phần quan trọng trong gia đình và xã hội.

Tóm lại, vai trò của người phụ nữ quả thật là rất nhiều, rất đáng trân trọng và

ngợi ca. Thế nên, với một cái nhìn mới mẻ và trái tim nhân đạo cao cả Lê Thánh

Tông đã phát hiện và khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ quan trọng ở chính

ngay trong xã hội mà Nho giáo đang trị vì rất nghiêm ngặt.

Trong Bích Câu kỳ ngộ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, nàng Giáng Kiều cũng

được tác giả miêu tả là một người phụ nữ có trách nhiệm và có bản lĩnh, mặc dù là

một tiên nữ nhưng nàng ln có ý thức về một cuộc sống thực tại nơi trần thế: Vốn là

một tiên nữ ở Nam Nhạc, Tú Uyên sau khi gặp nàng ở chùa Ngọc Hồ thì “ln ln

tưởng nhớ” đến khi lấy được người trong tranh, cuộc đời Tú Uyên dường như được

sang trang. Nhưng rồi Tú Uyên quen thói rượu chè, trong cơn say lỡ đuổi đánh Giáng

Kiều khiến nàng bỏ đi, đến khi tỉnh ra thì hối hận cũng khơng kịp nữa: “Chàng lúc ấy

như hồn lìa khỏi xác, rời rã chân tay”, “nước mắt như mưa, mấy lần chết đi sống lại,

bỏ ăn bỏ ngủ đến một tháng” dần thành bệnh, bèn quyết lòng “Ninh cam tử tương

kiến, Bất nhẫn sinh biệt ly” (Thà rằng chết gặp mặt, Còn hơn sống biệt ly). Chính

Giáng Kiều đã cứu Tú Uyên, sau đó sinh con đẻ cái cho chàng, lại “chỉ rõ nẻo mê,

dẫn vào đường giác”, giúp chàng học đạo. Cuối cùng cả nhà thành tiên, cưỡi hạc lên

trời. Nếu khơng có Giáng Kiều, chắc hẳn Tú Un vẫn còn chìm đắm trong men

rượu, mắc cạn trong tấm lưới trần gian. Có thể nói, vai trò của Giáng Kiều đối với Tú

Un khơng khác gì một vị thần bảo hộ.

Ngay cả nàng Bích Châu trong Đền thiêng ở cửa bể vốn là một cung nữ tuyệt

đẹp không chỉ ở nhan sắc mà còn là người có tầm nhìn xa trông rộng, ở khả năng phi



39



phàm sánh vai cùng nam giới. Việc nàng dám ngăn cản ý vua là điều rất tạo bạo,

không phải chuyện tầm thường mà ngược lại có thể phải đối diện với cái chết. Sử xưa

đã ghi chép biết bao câu chuyện về các vị thần một lòng vì nước qn thân, ngăn cản

vua tránh làm điều bạo loạn mà đều nhận lấy cái chết oan ức. Huống chi nàng chỉ là

một cung nữ tầm thường? Song vì nghiệp lớn của đức lang quân và vận mệnh dân

tộc nàng nguyện gieo mình cho thủy quái. Tấm lòng trung chinh vì lang qn của

nàng đến lúc mất đi vẫn tỏa sáng rạng ngời.

Cũng trong cảm hứng ngợi ca phẩm chất của người vợ ln hết lòng vì

chồng, đảm đang vun vén dựng xây nghiệp lớn cho chồng. Hình ảnh người phu

nhân “làm thơ khun chồng lúc ơng dậy muộn” trong truyện Người liệt nữ ở An

Ấp và người vợ sớm hôm dệt vải nuôi chồng đèn sách trong Lan Hồ quận công

đều vẽ lên một bức tranh hạnh phúc vợ chồng có nhau, đồng cam cộng khổ, chia

sẻ ngọt bùi, một lòng chịu mọi gian truân, tạo mọi điều kiện để hỗ trợ người

chồng yên tâm học hành, thi cử.

Cảm động hơn cả trong LTKVL đó là người con gái út họ Nguyễn (Tháp Báo

Ân) cảm tạ mối ân nghĩa vợ chồng chẳng được bao lâu với chàng thư sinh họ Nguyễn

mà đến lúc chết đi rồi nàng vẫn hiện về báo vào giấc mộng của quan chấm thi để xin

chiếu cố cho bài thi còn non kém để chàng được đỗ đạt… Tóm lại, qua các nhân vật

nữ tiêu biểu trên, các tác giả truyền kỳ đều đi tới khẳng định vai trò của người phụ nữ

là vô cùng quan trọng. Họ không chỉ là một người vợ, người mẹ trong gia đình mà

họ còn là người phụ nữ bản lĩnh có học trong xã hội. Bởi thế mà, dân gian có câu:

đằng sau sự thành cơng của người đàn ơng ln có bóng hình của người phụ nữ.

- Nhân vật người phụ nữ hiếu thuận và giàu đức hi sinh

Như một đức tính tốt đẹp không thể thiếu trong phẩm chất “công - dung ngôn - hạnh” của người phụ nữ Việt Nam là lòng hiếu thảo và giàu đức hi sinh.

Phẩm chất ấy đã được nhắc đến nhiều trong truyện truyền kỳ nói riêng và văn học

dân tộc nói chung. Họ thật sự đã tuyệt vời trong tư cách người vợ, người mẹ. Và họ

còn tỏa sáng hơn trong vai trò của người con đối với cha mẹ. Việc chăm sóc, phụng

dưỡng hay sẵn sàng xả thân hi sinh vì cha mẹ là những đức tính quý báu của người

phụ nữ. Đức tính ấy trở thành nguồn cảm hứng ngợi ca cho các tác giả văn học

xuyên suốt truyện truyền kỳ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII sáng tác về họ.



40



Những nhân vật nữ trong truyện truyền kỳ là những đại diện chuẩn mực nhất

cho đạo đức của người Việt. Do vậy, hầu hết nhân vật của Lê Thánh Tông đều được

xây dựng dưới ánh sáng của chữ hiếu. Họ chính là những khn mẫu hồn hảo cho

phẩm chất thảo hiền của những người con đối với cha mẹ mình. Trong Hai gái thần,

ta bắt gặp ở đó chân dung một người con vì chữ hiếu, vì lòng xót thương cho cái

chết của cha mà khơng quản gian khó, quyết lên trần gian trả thù cho cha, dù biết

rằng con đường mình sắp đi đầy chông gai, thử thách. Việc trả thù không thành vì

chữ trung với vua nặng hơn chữ hiếu, vì nợ nước cao hơn thù nhà, người con đã tự tìm

đến cái chết mà khơng qn “trơng về thủy cung” để bái vọng mẹ của mình. Người

mẹ ở lại đau khổ tìm con mà lang thang khắp chốn, biết con mình đã tự vẫn, muốn về

thủy phủ ngay nhưng khơng quên cái nghĩa bạn bè nên nán lại với vị thần nữ trẻ để tìm

chồng cùng nàng.

Hay cơ con gái trong Chuyện chồng dê, với tình cảm xuất phát từ tận trái tim

giàu yêu thương, gắn bó máu thịt của con gái với người mẹ thân yêu của mình. Khi

mẹ còn sống, đến tuổi trưởng thành cơ vẫn nấn ná khơng chịu lập gia đình để được

ở bên mẹ. Khi người mẹ mất đi, người em gái cũng đi lấy chồng, “tin nhạn” đến

nhiều, nhưng cô gái vẫn ở vậy chịu tang như thể sợ nơi chín suối mẹ mình sẽ thấy

cô đơn. Tác giả Lê Thánh Tông đã dùng tất cả những ngôn ngữ đẹp nhất dành cho

chân dung hoàn hảo về chữ hiếu này: “Thường mỗi ngày hai buổi cúng cơm, khóc

lóc thảm thiết. Tuần trăm ngày cũng thế, ngày giỗ đầu và ngày giỗ hết tang cũng

gào khóc như thế. Tiếng khan, người gầy, ai nghe tiếng hoặc trơng thấy dáng, đều

khen là người có hiếu” [34,565]. Ở truyện Một dòng chữ đổi lấy gái thần cũng kể

về cơ gái khơng quản ngại khó khăn, bỏ qua cả thể diện, sự khuê các của bản thân

để đến gặp và xin một người đàn ông xa lạ giúp đỡ cha mình trong cơn nguy khốn.

Qua việc miêu tả khái qt đó, chúng ta phần nào hình dung được vẻ đẹp của nàng,

nàng cũng là một cô gái đẹp của vườn biếc. Sự hi sinh bản thân ở nàng đó chẳng

phải là một phẩm chất của mọi người phụ nữ Việt Nam muôn đời.

Hay nàng Ngọa Vân - vợ của Thúc Ngư trong Chuyện lạ nhà thuyền chài

không chỉ là một người vợ thủy chung, chịu thương, chịu khó bên người chồng

chung thủy mà nàng còn là một cơ con dâu hiền thảo, hiếu thuận với ba mẹ chồng.

Bởi thế, từ khi Ngọa Vân về làm dâu nhà Thúc Ngư đã giúp gia đình chàng “giàu



41



có dần dần” với những mẻ cá bội thu mang về mỗi lần ra biển. Và đặc biệt là hành

động nàng sẵn sàng hi sinh bản thân ngăn dòng nước biển dâng lên cứu cả gia đình

được bình n vơ sự. Điều đó chứng tỏ ở nàng một phẩm chất đánh quý, giàu đức hi

sinh và lòng vị tha cao cả, khơng quản ngại khó khăn gian khổ, khơng cần nghĩ tới

mạng sống của bản thân, sẵn sàng vì người thân u có thể hi sinh tính mạng mình

khơng thương tiếc. Cho nên, để bảo vệ gia đình mà Ngọa Vân đã dùng phép thuật

“hóa thành một con cá to, dài độ mười ngàn thước… nằm chắn chỗ ngọn nước tràn

vào nhà” [34,551] làm lộ thiên cơ nhà trời nên nàng phải chấp nhận cảnh vợ chồng

chia lìa đơi ngả...

Khơng chọn cách hi sinh thể xác như nàng Ngọa Vân, người vợ trẻ trong

truyện Tinh chuột lại hi sinh hạnh phúc cá nhân thay chồng làm tròn đạo hiếu để

chồng yên tâm “dùi mài kinh sử” gây dựng cơ đồ, lập nên nghiệp lớn: “mong chàng

hãy tạm gác tình yêu thương thiếp, ra sức học hành, còn như việc phụng thờ cha

mẹ, miếng ngon miếng ngọt, sớm hỏi, tối chào, thiếp xin đảm đương mong chàng

chớ ngại” [34,610].

Nếu như ở TTDT, nhân vật nữ của tác giả chủ yếu là các tiên nữ bước từ thế

giới siêu nhiên xuống để làm nên những mẫu hình lý tưởng của phụ nữ Á Đơng thì

đến TKML của Nguyễn Dữ, nhà văn không miêu tả đâu xa mà ơng lấy chính những

con người trong đời sống thường nhật để vẽ nên một bức tranh tồn bích của người

phụ nữ Việt với đủ mọi cung bậc phẩm chất, đức hạnh và bản lĩnh. Đó là nàng Vũ

Nương từ khi về nhà chồng nàng đã coi bố mẹ chồng giống như bố mẹ đẻ của mình

nên chăm sóc phụng dưỡng rất chu đáo. Những lúc mẹ chồng ốm đau thì nàng cũng

hết lòng thuốc thang, cầu khấn thần phật và lúc nào cũng dịu dàng ân cần “lấy lời

ngọt ngào, khơn khéo khun lơn”. Tấm lòng của nàng được chính người mẹ chồng

trước khi rời xa cõi đời cũng phải thốt lên lời ngợi ca: “... sau này trời xét lòng lành

ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng

phụ con cũng như con đã chẳng nỡ lòng phụ mẹ” [7,384]. Xưa nay một người con

dâu như nàng quả thật là rất hiếm.

Đó còn là nàng Nhị Khanh trong truyện Người nghĩa phụ ở Khoái Châu.

Nàng được giới thiệu là con quan nhưng là con một ông quan liêm khiết, tiết kiệm

và giữ lễ nên khi về nhà chồng nàng cư xử với họ hàng, làng xóm rất khéo léo; với



42



gia đình chồng thì ln giữ gìn khn phép. Khi chồng xa nhà, nàng hi sinh hạnh

phúc bản thân chấp nhận chờ đợi và đặt chữ “hiếu” lên hàng đầu. Đức hạnh của

nàng được thể hiện rất rõ trong những ngày xa chồng. Cha mẹ chồng nối nhau tạ

thế, nàng một mình lo toan mọi việc, thay chồng làm trọn đạo hiếu. Quan niệm sống

của nàng cũng giống như vô vàn người phụ nữ phong kiến khác: Hiếu thuận với mẹ

cha, tôn thờ chồng, chấp nhận tất cả để bảo vệ thanh danh, khí tiết của bản thân, sẵn

sàng hi sinh chờ đợi khơng chút đòi hỏi.

Nhân vật nàng Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu,

hiện lên cũng là một người phụ nữ có vai trò rất lớn trong gia đình. Là người con

dâu, nàng hết sức coi trọng đạo làm con. Khi Phùng Lập Ngôn - cha Trọng Quỳ

được bổ vào cai trị vùng Nghệ An đang có giặc, nàng đã khuyên chồng đi theo

phụng dưỡng cha: “Chẳng lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn

trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hơm săn

sóc khơng kẻ đỡ thay?” [7,217]. Nàng đã hi sinh hạnh phúc riêng, vượt lên trên

“thói nữ nhi thường tình” để làm tròn đạo hiếu cho người mà nàng kính trọng.

Tiếp sang thế kỷ XVIII, Đoàn Thị Điểm khi viết truyện truyền kỳ, nữ sĩ cũng

đã dành cho nhân vật nữ của mình rất nhiều những điều ưu ái và tác giả ngợi ca họ

là những người phụ nữ của gia đình. Đó là nàng Giáng Tiên (Nữ thần ở Vân Cát)

sau khi về nhà chồng, nàng ln làm tròn đạo hiếu với bố mẹ chồng. Ngay cả khi

trở thành Tiên chúa, không phiền lụy cõi trần thì nàng vẫn khơng qn tình cảm u

thương, hiếu thuận với mẹ cha “từ khi về chầu trời, thường thường chau mày, nhỏ

lệ”. Trong số đó phải kể tới người đàn bà (Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu):

“thờ cha mẹ chồng rất hiếu thảo, ở với họ hàng, xóm giềng giữ lễ nghĩa, có phong

cách, khn phép của dòng họ lớn” [50,97]. Đó cũng là lòng hiếu thảo của người

con dâu trong Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Hán, khi chồng chết, người đàn bà

ấy cũng muốn chết theo cho tròn đạo vợ chồng nhưng nghĩ tới cha mẹ, nàng lại thôi

ý định quyên sinh. Bởi lẽ: “nếu ta chết thì cha mẹ già đơi bên sớm tối biết dựa vào

đâu” [48,107]. Phẩm chất hi sinh của họ vì người khác thật đáng quý, đáng trân

trọng. Vũ Trinh đã đặt nhân vật của mình trong bơi cảnh “thế giáo đổi thay, phong

tục đồi bại, thói dâm đãng cơng khai hồnh hành…lại còn tựa cửa đưa tình, thấy



43



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Nhân vật người phụ nữ theo đạo lý cương thường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×