Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Tác giả và thời đại

a. Tác giả và thời đại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hiện nay có rất nhiều tư liệu liên quan đến niên đại của tác phẩm chẳng hạn:

Năm 1958, Nguyễn Đổng Chi viết Thánh Tông di thảo trong bộ Sơ thảo lịch sử văn

học Việt Nam - Quyển 2, đã đặt ra vấn đề tác giả của tác phẩm này: “Sách phần nào

đáng ngờ là ngụy thư vì từ trước chưa có tài liệu gì nói về nó cả. Thế nhưng hiện

nay chưa có chứng cớ đích xác để cho là không phải của Lê Thánh Tôn” [3,153].

Năm 1963, lần đầu tiên TTDT ra mắt công chúng bằng bản dịch của Nguyễn

Bích Ngơ, hai nhà nghiên cứu Lê Sỹ Thắng, Hà Thúc Minh trong lời giới thiệu tác

phẩm đã tổng hợp ba loại ý kiến xung quanh vấn đề tác giả, năm sáng tác tác phẩm.

Những ý kiến này khá tương đồng với nhận định của Nguyễn Đổng Chi và vẫn là

những trăn trở của giới nghiên cứu quan tâm đến tác phẩm.

Như vậy, vấn đề tác giả và năm ra đời tác phẩm TTDT cho đến nay vẫn tồn

tại những nghi ngờ. Với tình hình tư liệu hiện nay và trong khi chờ đợi một bằng

chứng khoa học chắc chắn, chúng tơi vẫn coi tồn bộ tác phẩm TTDT của Lê Thánh

Tông được sáng tác trong những năm ông trị vì đất nước.

Lê Thánh Tơng (1442 -1497), hiệu là Thánh Tơng Thuần Hồng đế. Là ơng

vua thứ năm của triều Hậu Lê. Lê Thánh Tông lên ngôi vua từ năm 18 tuổi, trị vì đất

nước được 37 năm. Trong thời gian làm vua, ông đã xây dựng được một đất nước

cường thịnh, trăm họ yên ổn, sung túc. Đây được coi là thời kỳ thịnh trị nhất trong

lịch sử xã hội phong kiến nước ta.

b. Tác phẩm

TTDT được xem là tập truyện mở đầu cho thể loại truyện truyền kỳ Việt

Nam. Tác phẩm đã vượt qua những ghi chép các thần tích gia phả hay các truyện

dân gian, đặt dấu ấn đầu tiên cho kiểu tư duy nghệ thuật mới. Tác phẩm chính là

nền móng để thể loại truyền kỳ có điều kiện thâm nhập và phát triển rộng rãi trong

vườn văn học trung đại.

TTDT gồm hai quyển, 19 truyện do người đời sau sưu tầm và đặt tên cho tác

phẩm. Hầu hết các thiên truyện trong TTDT đều tuân theo kết cấu thông thường của

thể loại truyền kỳ. Mở đầu giới thiệu danh tính, gốc gác nhân vật, tiếp theo là những

diễn biến ly kỳ và cuối cùng là kết quả các số phận. Các thiên truyện có tính chất

ngụ ngơn thì kết thúc theo hướng gợi những bài học về lối sống mà con người cần

học tập cũng như cần tránh xa. Cuối tác phẩm thường là lời bàn của Sơn Nam Thúc.



22



Tóm lại, TTDT tuy khơng phải là một tác phẩm đồ sộ, lẫy lừng trong di sản

văn học nước nhà nhưng rõ ràng nó có một vị trí khơng kém phần quan trọng trong

lịch sử dân tộc. Nó là tác phẩm mở đầu cho thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam dời

xa được lối ghi chép đơn thuần để tiến tới sự sáng tạo, hư cấu trong nghệ thuật sáng

tác văn chương, mở đường cho một lối sáng tác văn học mang tính nghệ thuật ở

những giai đoạn kế tiếp.

1.4.2. TKML – đỉnh cao của sự phát triển thể loại

a. Tác giả và thời đại

Cho đến nay các nhà nghiên cứu đều đi tới một quan điểm thống nhất cho rằng

Nguyễn Dữ sáng tác TKML vào khoảng đầu thế kỷ XVI. Giai đoạn này chế độ phong

kiến Việt Nam đã có những dấu hiệu suy thối, khủng hoảng.

Có thể nhận thấy, thời kỳ được đánh dấu là thịnh trị của chế độ phong kiến

Việt Nam là thời kỳ Lê sơ mà đỉnh cao là giai đoạn trị vì của đấng minh qn Lê

Thánh Tơng. Sau vua Lê Thánh Tơng thì các vị vua sau khơng để lại dấu ấn tốt đẹp

gì ngồi tiếng vang là những vị vua bất tài, vô dụng, hoang dâm, tàn ác bỏ bê chính

sự đất nước khiến cho dân chúng càng thêm khổ cực. Đó là các vị vua: Lê Túc

Tơng, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông... Chỉ trong vòng một thời gian

ngắn (1504- 1527) mà nước ta có rất nhiều đời vua kế vị. Họ vẫn ngồi trên ngai

vàng nhưng sứ mệnh “thiên tử” lại khơng còn. Họ bỏ bê triều chính làm cho đất

nước rối ren, đạo lí xã hội đảo ngược, suy đồi nên đã tạo điều kiện cho sự tranh

giành quyền lực, chia bè chia phái chém giết lẫn nhau rồi chiến tranh nổi ra liên

miên dẫn tới cảnh dân chúng ngày càng lầm than khổ cực... Từ tình hình lịch sử rối

ren đó đã dẫn đến sự thay đổi trong hệ tư tưởng của con người trong xã hội. Những

người tri thức có tâm huyết cống hiến thì thất vọng trước thời cuộc lui về ở ẩn để

giữ danh tiết, phẩm hạnh, giữ quan điểm chính kiến của mình. Và tác giả Nguyễn

Dữ là một nhà văn tiêu biểu cho những người tri thức thời đại đó.

Mặc dù xã hội thời đại thế kỷ XVI loạn lạc, nhưng văn học vẫn tiếp nối mạch

chảy trên đà phát triển liên tục. Nếu văn học giai đoạn trước chủ yếu bàn đến những

vấn đề quốc gia, đại sự thì giai đoạn này các nhà văn lại bắt đầu chuyển hướng, có

sự quan tâm nhiều hơn đến số phận con người trong xã hội, đặc biệt là số phận của

những con người thấp cổ bé họng. Có thể nói, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học đã



23



bắt đầu manh nha từ đây và là tiền đề cho sự phát triển của văn học theo khuynh

hướng nhân đạo chủ nghĩa sau này.

Về tác giả Nguyễn Dữ theo một số nghiên cứu: Nguyễn Dữ (? - ?), người xã

Đỗ Tùng, huyện Trường Tân nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Hiện

nay chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông là con cả của cụ Nguyễn

Tường Phiêu, đậu tiến sĩ khoa Bính Thìn và làm tới chức Thượng thư. Trước thời

đại rối ren và không muốn thờ hai vua nên Nguyễn Dữ xin về ở ẩn với lí do phụng

dưỡng mẹ già.

Tuy lui về ở ẩn nhưng Nguyễn Dữ vẫn khơng từ bỏ hồi bão giúp đời. Ông

viết TKML là để ký thác tâm sự của mình, để bày tỏ thái độ của mình đối với xã hội

đương thời. Qua TKML có thể thấy Nguyễn Dữ là con người luôn lo nghĩ cho dân,

cho nước, có tinh thần dân tộc và tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

b. Tác phẩm

TKML từ khi ra đời đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Song nhìn

chung có thể khẳng định TKML được Nguyễn Dữ hồn thành trong thời gian ông

cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Tác phẩm gồm 4 quyển, bản dịch hiện nay còn 20

truyện. Các truyện đều được viết bằng văn xi chữ Hán xen lẫn biền văn, thơ ca

trừ truyện số 19. Cuối mỗi truyện đều có lời bình của tác giả hoặc người cùng quan

điểm với tác giả. Khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong TTDT, lời bình của

truyện TKML không bàn về nghệ thuật văn chương mà chủ yếu bàn về nội dung ý

nghĩa đạo đức của truyện. Nguyễn Dữ chọn thể loại truyền kỳ nhằm mượn cái vỏ

hoang đường hư ảo để gửi gắm tâm sự và thể hiện quan điểm của mình về cuộc sống

xã hội phong phú, phức tạp lúc bấy giờ.

Như vậy, với một tác phẩm duy nhất mà Nguyễn Dữ để lại cho đời TKML đã

có sức lan tỏa rộng rãi khơng chỉ trong nước mà còn trên thế giới về giá trị nhân văn

mà tác phẩm phản ánh. Nói như Phan Huy Chú, tác phẩm xứng danh là "áng văn

hay của bậc đại gia".

1.4.3. TKTP - bước cách tân ban đầu của thể truyền kỳ

a. Tác giả và thời đại

Đoàn Thị Điểm sống ở giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX,

thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng,



24



mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn, suy vi mạnh. Trước thực trạng đất nước rối ren

nhưng vua Lê - chúa Trịnh lại khơng màng chính sự, lao vào ăn chơi, cướp đoạt

ngôi vị của nhau đẩy người dân vơ tội vào cảnh khốn cùng. Cũng trong cảnh đó,

Nho giáo bị lung lay dần, Phật giáo và Đạo giáo hưng thịnh trở lại làm lay động

thức tỉnh góc riêng sâu kín trong mỗi con người. Và cái tơi cá nhân với ý thức về

“bản ngã” đã xuất hiện. Một cái tơi khao khát được giải phóng khỏi những ràng

buộc khắt khe của Nho giáo để được sống, được yêu một cách tự do như bản năng

tồn tại trong mỗi con người. Chính điều này, đã đem lại cho văn học một tiếng nói

mới, thơi thúc các nhà văn viết về số phận, cuộc đời của những con người trần thế,

đời thường. Và nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là một nhà văn tiêu biểu.

Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, người làng Giai Phạm,

huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà sinh ra trong một gia đình có truyền thống

Nho học. Cha là Đồn Doãn Nghi đỗ thi Hương và làm quan đến Điển hạ, mẹ là

người họ Vũ nổi tiếng thơng minh, anh là Đồn Doãn Luân đỗ Giải nguyên trường

Kinh Bắc.

Năm 25 tuổi cha mất, rồi ít lâu sau anh trai mất. Một mình bà phải gánh vác

lo toan cho cả gia đình.

Năm 37 tuổi bà nhận lời làm vợ Nguyễn Kiều. Lấy nhau chưa đầy một tháng

chồng bà phải đi sứ Trung Quốc ba năm. Đến khi Nguyễn Kiều về nước ít lâu lại đi

nhậm chức Tham thị Nghệ An. Bà theo chồng vào Nghệ An vừa đến nơi thì cảm

lạnh và mất, hưởng thọ 44 tuổi.

b. Tác phẩm

Hiện tại số lượng tác phẩm mà nữ sĩ để lại cho đời còn lưu truyền đến ngày

nay gồm ba tập: Chinh phụ ngâm, TKTP và một ít thơ văn chữ Hán, Hồng Hà phu

nhân di văn. Trong đó có tập TKTP là tác phẩm mà chúng tôi khảo sát trong đề tài

luận văn.

TKTP là một tác phẩm viết bằng chữ Hán, ra đời vào khoảng giữa thế kỷ

XVIII. Trải qua những biến động dữ dội của lịch sử xã hội cùng với khoảng cách

thời gian khá lớn khiến tác phẩm khơng còn được lưu giữ nguyên vẹn như lúc mới

ra đời. Vấn đề văn bản, số lượng truyện trong tác phẩm hiện nay còn tồn tại nhiều



25



điểm nghi vấn. Một số tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra các văn bản được lưu giữ tại thư

viện Hán Nơm như sau:

Văn bản có kí hiệu VHv.1487: văn bản chép tay, một mục lục, khổ 27cm x

15cm, 158 trang. Văn bản ghi tên tác phẩm là Truyền kỳ tân phả, tác giả là Hồng

Hà phu nhân, niên đại vào năm Tự Đức 17 (1864), nơi lưu giữ là Tập Văn đường ở

Đan An. Mục lục cuốn sách này bao gồm 6 truyện. Số truyện được ghi theo trình tự

sau: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thánh tích lục, Tùng bách thuyết thoại. Phụ chép ba

truyện là An Ấp liệt nữ, Long hổ đấu kỳ, Bích Câu kỳ ngộ.

Văn bản mang kí hiệu VHv.2959, khổ 24 cm x 16 cm, gồm 90 trang, cũng

được in vào năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long thứ 10 (1811). Văn bản có tên là Tục

truyền kỳ lục, tác giả là Hồng Hà Đoàn phu nhân. Văn bản được cụ Nhàn Vân Đình

(tức Trần Duy Vơn), người Phương Thượng (nay thuộc xã Xuân Thủy, tỉnh Nam

Hà) lưu trữ. Cuốn sách này chỉ ghi có 3 truyện là: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần

nữ, An Ấp liệt nữ.

Văn bản có kí hiệu A.48: văn bản khắc in, 6 truyện, một mục lục, khổ 25 cm

x 15 cm, 91 tờ, mỗi tờ 2 trang, mỗi trang 10 dòng, mỗi dòng xấp xỉ 20 chữ. Văn bản

này ghi rõ tên tác phẩm là TKTP, đề tác giả là “Hồng Hà Đoàn phu nhân trứ” (Đoàn

phu nhân - Đoàn Thị Điểm, hiệu Hồng Hà sáng tác). Văn bản được khắc in vào năm

Tân Mùi, niên hiệu Gia Long 10 (1811) của Nxb Lạc Thiện Đường. Mục lục của tập

sách này ghi tên 6 truyện bằng hai loại chữ khác nhau. Các truyện: Hải khẩu linh từ

lục, Vân Cát thần nữ lục, An Ấp liệt nữ lục được ghi bằng loại chữ to; ba truyện còn

lại là Bích Câu kỳ ngộ, Tùng bách thuyết thoại, Long hổ đấu kỳ được ghi bằng loại

chữ nhỏ. Trong 6 truyện được khắc in cũng chỉ có 2 truyện là: Hải khẩu linh từ lục

và An Ấp liệt nữ lục có ghi đầy đủ tên tác giả “Văn giang Đồn Hồng Hà nữ trứ” và

tên hiệu người phê bình “gia huynh Tuyết Trai Phạm Như Phủ phê bình”. Còn các

truyện khác lại không ghi tên tác giả và người phê bình.

Với tình hình văn bản như trên đã chứng tỏ số lượng các truyện trong tác

phẩm TKTP chưa có sự thống nhất vẫn là mối băn khoăn của các nhà nghiên cứu.

Căn cứ vào tình hình văn bản hiện còn và các tư liệu tiêu biểu trên có thể

thấy ba truyện: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ và An Ấp liệt nữ là xuất hiện ở cả

ba văn bản. Hơn nữa, cả ba truyện này đều có sự thống nhất cao độ về phương diện



26



chủ đề tư tưởng cũng như phong cách văn chương của tác giả. Do vậy, có thể chắc

đây là sáng tác của Đồn Thị Điểm.

TKTP được tác giả viết theo lối kể chuyện nhưng xen lẫn thơ ca. Số lượng

thơ ca trong TKTP khá nhiều, có phần hơn so với TTDT và TKML. Thơ ca được

dùng như một yếu tố đắc lực giúp nhân vật bộc lộ cảm xúc, cảm giác, tâm sự.

Những sáng tác thơ ca trong tác phẩm vừa là phương tiện để thể hiện đời sống nội

tâm, bộc lộ tính cách, phẩm chất của nhân vật vừa khẳng định ngòi bút tài hoa, uyên

bác của tác giả.

Như vậy có thể thấy, TKTP vừa tuân theo bút pháp đặc trưng của thể loại,

vừa có điểm cách tân so với các tác phẩm truyền kỳ Việt Nam như TTDT và TKML

nói riêng và các tác phẩm thuộc thể loại truyện truyền kỳ nói chung. Sự cách tân

xuất phát từ nhu cầu tâm lý chung của thời đại gắn liền với hướng đi mới của văn

xuôi tự sự thời trung đại.

1.4.4. LTKVL - bước cách tân vượt bậc của truyện truyền kỳ

a. Tác giả và thời đại

Vũ Trinh sống trong xã hội phong kiến – một xã hội với nhiều khuông khổ,

thành kiến nặng nề lộ rõ. Tư tưởng, lễ giáo phong kiến đã hạn chế những tình

cảm hồn nhiên, tốt đẹp nhất của con người, biến con người thành mắt xích của xã

hội. Trong xã hội đó khơng ai khác, người phụ nữ là tầng lớp chiu nhiều thiệt

thòi, ngang trái. Họ đã bị khuôn vào những chuẩn mực đạo đức cứng nhắc, bị

biến mình thành “nơ lệ” của những chuẩn mực ấy, bị gò vào một cuộc sống tù

túng, hạn hẹp, bất trắc.

Thế kỷ Vũ Trinh sống là thế kỷ XVIII, với biết bao biến động thăng trầm lịch

sử, phụ nữ trực tiếp là nạn nhân của xã hội loạn lạc, đạo đức xuống cấp, tài sắc bị sỉ

nhục, thân phận bị rẻ rúng, quyền sống, hạnh phúc bị chà đạp thô bạo. Nhưng đồng

thời đây cũng là thế kỷ của những cuộc cách mạng tư tưởng đặc biệt ở các nhà Nho

đương thời. Thế kỷ này đã có sự lung lay của ý thức hệ phong kiến và đặc biệt sự

phát triển của những trào lưu dân chủ, nhân đạo, nhân văn diễn ra ở phạm vi sâu

rộng. Đây cũng la giai đoạn Nho học có sự chuyển biến mạnh từ mối quan tâm đặc

biệt tới luân lý đạo đức sang việc hướng tới thực tế nhiều hơn. Cùng với ảnh hưởng

của phong trào cải cách Thực học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Các nhà văn

lúc này đặc biệt quan tâm và có hứng thú với những vấn đề của thực tiễn xã hội, lấy

thực tại làm đối tượng phản ánh, họ ghi chép những sự việc, những số phận đang



27



diễn ra trong cuộc sống hằng ngày. Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm cũng có

sự chuyển biến rõ rệt, nhân vật trong truyện đa số là những con người có tài, khơng

những đa tài mà còn đa tình. Tình yêu khát vọng hạnh phúc chân thực của con

người đến đây được bày tỏ một cách chính đáng. Một bước tiến quan trọng của văn

học lúc này là các nhà văn khơng chú trọng đến những hình thức khuôn mẫu như

ngày xưa, văn học đề cao những sáng tạo nghệ thuật, người ta bắt đầu đánh giá giá

trị tác phẩm qua sự nhìn nhận của cơng chúng văn học. Văn học phản ánh chân thực

những điều tai nghe mắt thấy, đi vào đời sống thực tế, đề cao vai trò của con người

với những giá trị đạo đức là một bước ngoặt cho lịch sử văn học nước nhà, là nền

tảng cho trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa, cho thể loại truyện ngắn của văn học

Việt Nam.

Vũ Trinh (1759 – 1828), tên tự là Duy Chu, hiệu là Lan Trì Ngư Giả, đạo

hiệu Hải Âu Hòa Thượng, người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài nay là tỉnh Bắc

Ninh. Ơng xuất thân trong một gia đình có truyền thống thi thư. Năm 17 tuổi đỗ

Hương tiến, chức Tri phủ Quốc Oai, tước Lan Trì bá.

Cuộc đời Vũ Trinh đã theo đuổi lí tưởng giúp nước cứu đời rất cao đẹp song lại

khơng hợp thời, mặc dù có tài năng nhưng cuộc đời ông lại gặp nhiều gian trn. Vì thế

những đóng góp của ơng đối với đất nước cũng không dễ dàng được công nhận.

b. Tác phẩm

LTKVL hiện nay còn bốn văn bản đều chép tay. Kết cấu của sách gồm: mục lục,

4 bài tựa và phần truyện (tác phẩm có khoảng 45 truyện). Tác phẩm ban đầu có tên là

Kiến văn lục nghĩa là ghi chếp những điều tai nghe mắt thấy. Tác giả ghi lại những

câu chuyện lạ thường nhưng có thực, xảy ra ở vùng ông hoặc những người thân

quen kể lại.

 Tiểu kết Chương 1:

Như vậy ở chương 1 chúng tôi đã nêu lên những khái niệm sự vận động của

hình tượng người phụ nữ, vị trí của người phụ nữ trong văn hóa truyền thống và

theo quan niệm Nho giáo,về thể loại truyền kỳ cũng sự hình thành và phát triển của

chúng. Bên cạnh đó là những nét chung về các tác giả và tác phẩm mà luận văn

nghiên cứu. Tất cả những yếu tố đó được coi là tiền đề để chúng tơi đi triển khai tìm

hiểu: Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua bốn tập truyện một cách cụ thể,

chi tiết hơn ở các chương tiếp theo.



28



CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUA

TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Con người là sản phẩm của thời đại, thời đại như thế nào sẽ sản sinh ra

những con người tương ứng. Người phụ nữ là một trong những hình tượng tiêu

biểu của văn học trung đại. Người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong đời

sống và sự phát triển của xã hội. Lấy nguồn cảm hứng sáng tạo từ hiện thực đời

sống, các tác giả đã cảm nhận được nỗi đau khổ của người phụ nữ trong xã hội

phong kiến như là một định mệnh tất yếu vậy. Do đó, đề tài : “Sự vận động của

hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL” là một minh

chứng rõ cho số phận người phụ nữ qua các giai đoạn lịch sử xã hội.

2.1. Sự vận động của quan niệm về người phụ nữ qua các tập truyện

Trải qua dòng chảy thời gian cùng với những vận động biến chuyển của văn

hóa, lịch sử đã tác động đến quan điểm, tư tưởng của nhà văn nên mỗi thời kỳ khác

nhau các nhà văn lại có những hướng nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Viết về người

phụ nữ là trong những mảng đề tài tiêu biểu của các tác giả truyền kỳ. Nhưng càng

về sau những phát hiện về chiều sâu nhân vật của các tác giả càng sâu rộng và

phong phú hơn. Qua đó giúp bạn đọc hiểu hơn về vai trò, số phận người phụ nữ

trong thời đại bấy giờ. Để chứng minh cho sự vận động đó, người viết đi tìm hiểu

quan niệm về người phụ nữ trong bốn tập truyện: TTDT, TKML, TKTP và LTKVL

của các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễm Dữ, Đồn Thị Điểm và Vũ Trinh.

Ở thế kỷ XV, tác giả Lê Thánh Tông khi viết TTDT không chỉ tạo ra một

cuộc cách tân mới trong tiến trình phát triển của truyện truyền kỳ hướng về cuộc

sống thực tại hàng ngày. Tác phẩm ra đời lần đầu tiên hướng đến con người và lấy

con người làm đối tượng trung tâm phản ánh của văn học. Tuy nhiên, vấn đề con

người, nhất là người phụ nữ trong TTDT lại không phải là chủ đề chính của tác

phẩm. Viết về họ, tác giả nhằm hướng tới mục đích tải đạo, giáo huấn con người, ít

nhiều mang tính thời sự. Do đó, người phụ nữ xuất hiện trong tác phẩm xuất hiện là

những tấm gương liệt nữ, dưới vỏ bọc là những con người bình dân, đời thường nên

truyện vẫn mang hơi hướng của văn học giai đoạn trước. Hình ảnh con người trong

truyện vẫn mang đậm tính siêu nhiên, thần bí.



29



Sang đến thế kỷ XVI với tập truyện TKML, tác giả Nguyễn Dữ đã đưa con

người đặc biệt là người phụ nữ trở thành nhân vật chính, trung tâm của tác phẩm. Ở

đó những tâm tư tình cảm, khao khát thầm kín cùng những bi kịch và số phận người

phụ nữ được tác giả phản ánh vào trang văn một cách đầy đủ, phong phú. Đối tượng

phản ánh và phạm vi phản ánh cũng theo đó được mở rộng hơn, từ tầng lớp nghèo

khổ đến tầng lớp thượng lưu, gồm cả người bình dân đến cả thần tiên, ma quái. Tất

cả đã làm cho bức tranh hiện thực dưới ngòi bút Nguyễn Dữ trở nên sinh động

hơn bao giờ hết.

Tiếp đến thế kỷ XVIII, truyện truyền kỳ vẫn dựa trên nền tảng của giai

đoạn trước lấy con người là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Các tác giả Vũ

Trinh, Đoàn Thị Điểm bằng sự cách tân của mình và ảnh hưởng trước yêu cầu

của thời đại truyện truyền kỳ mang nét mới mẻ hơn ở chỗ phản ánh những điều

tai nghe, mắt thấy. Các nhân vật chủ yếu là những người bình dân giản dị, đời

thường, yếu tố kỳ ảo tuy xuất hiện nhưng chỉ làm nền để tôn cái thực thêm thực

hơn, gần gũi hơn… Do vậy có thể nói, khi lấy con người làm đối tượng và

trung tâm phản ánh của nghệ thuật: Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đồn Thị

Điểm hay Vũ Trinh đều phát hiện ra sức mạnh của con người và bày tỏ tấm lòng

cảm thơng, thương xót cho số phận của họ.

Tuy nhiên, khi khẳng định con người mỗi tác giả lại có những cách đánh giá

khác nhau. Lê Thánh Tông đi sâu vào khẳng định quyền uy của con người và chú ý

đến cái bí ẩn kỳ lạ trong cuộc đời nhân vật hơn cái bản thân gọi là “con người” bên

trong họ. Do đó, nhân vật của ông thường mang dáng dấp của thánh thần hoặc siêu

nhân. Còn Nguyễn Dữ với TKML, tác giả đi sâu phản ánh con người đời thường,

trần thế qua thế giới nhân vật đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội.

Và chính sự đa dạng, phong phú trong việc xây dựng nhân vật Nguyễn Dữ đã đem

đến cho truyện truyền kỳ Việt Nam điều mới mẻ ở việc phát hiện chất đời thường,

trần thế trong con người trên những phương diện: khát vọng tình u đơi lứa, khát

vọng hạnh phúc gia đình, khát vọng giải phóng tình cảm bản năng tự nhiên và bi

kịch của con người trên con đường tìm kiếm hạnh phúc - điều mà TTDT chưa đề

cập đến. Vấn đề này càng được các tác giả truyền kỳ giai đoạn sau như Đoàn Thị

Điểm, Vũ Trinh phản ánh sâu hơn qua những điều trông thấy hàng ngày, hàng giờ



30



của những con người bình dị, chân chất mà không cần phải dùng tới “ đôi cánh

truyền kỳ để nâng đỡ” như ở các tác phẩm trước đó cụ thể: Với TKTP của nữ sĩ

Đồn Thị Điểm, chúng ta thấy nhân vật chính trong tập truyện hầu như là những

con người phàm tục có thật trong lịch sử. Tác giả viết về họ dưới góc nhìn của một

người cùng giới nên nhân vật nữ phần lớn được khắc họa sâu sắc ở diễn biến tâm lý,

nội tâm nhân vật và qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong tác phẩm. Điều này lý

giải do cùng là nhân vật nữ nên ngòi bút nhà văn khi viết về họ sẽ thấu hiểu và dễ

cảm thông hơn các tác giả trước là nam giới. Và theo lẽ đó, cả bốn tác phẩm của nữ

sĩ đều viết về nhân vật nữ và tác giả đã đề cao vai trò, vị trí của người phụ nữ, ca

ngợi họ như những thánh nữ của thời đại và hạ thấp vai trò của nam giới. Đây cũng

chính là quan niệm mới mẻ, cách tân của tác giả khi nhìn nhận, đánh giá về con

người nhất là người phụ nữ - nhân vật mà nữ sĩ dành nhiều sự quan tâm nhất.

Tiếp đến tác giả Vũ Trinh trong LTKVL, cùng nhìn và hướng về nhân vật

người phụ nữ nhưng không giống các tác giả đi trước, Vũ Trinh chọn cho mình một

hướng đi riêng. Tác giả không nhằm hướng tới ca ngợi nhân vật là liệt nữ hay thánh

nữ mà đi đến nhìn nhận họ là những con người bình dị của cuộc sống đời thường.

Tác giả đi quan tâm tới mọi đối tượng thuộc mọi tầng lớp, kể cả tầng lớp thấp hèn

như con hát, ca nhi, kỹ nữ trong xã hội đó cũng được tác giả nâng niu, trân trọng,

ngợi ca và hết lòng bảo vệ, bênh vực. Đọc truyện của Vũ Trinh người đọc có cảm

giác đó là những câu chuyện vẫn thường thấy đâu đây quanh cuộc sống. Nhân vật

của ông cũng gần gũi như chính những nhân vật của cuộc đời thực đang diễn ra

hàng ngày.

Bằng sự cách tân hướng tới những con người bình dị, gần gũi, mộc mạc Vũ

Trinh đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ. Qua những con người bình

dị, đời thường tác giả còn phê phán tục phân biệt đẳng cấp trong xã hội thời bấy giờ

và chỉ ra người phụ nữ chính là nạn nhân của chế độ nam quyền, phải chịu mọi cay

đắng tủi nhục. Không chỉ đưa ra quan niệm mới về con người mà ngay cả trong tình

u nhà văn cũng thể hiện cái nhìn phóng khống: để nhân vật chủ động tìm đến với

tình yêu, hạnh phúc của mình chứ khơng đặt nhân vật vào vòng cương tỏa của Nho

giáo. Nhưng cũng khơng vì thế mà tác giả để cho nhân vật quá dễ dãi trong tình

u, ơng cũng rất coi trọng chữ trinh nơi người phụ nữ. Do vậy, nhân vật của ông dù



31



cởi mở tự do trong tình u nhưng họ vẫn ln biết giữ mình và chung thủy với

người mình yêu đến cùng. Đó chính là điểm mới mà tác giả Vũ Trinh hơn hẳn các

tác giả đi trước khi nhìn nhận và đưa ra quan niệm mới mẻ này.

Như vậy, với những điều khái qt đã trình bày ở trên, chúng tơi muốn chỉ ra

ở các tác giả truyền kỳ qua mỗi giai đoạn phát triển và biến đổi liên tục đều có

những cái nhìn nhận, đánh giá, quan niệm và hướng viết khác nhau chứ khơng dập

khn máy móc khi xây dựng hình tượng người phụ nữ. Và ở mỗi giai đoạn lại có

những dấu ấn riêng và ngày càng hồn thiện, đầy đủ hơn. Con người nhất là người

phụ nữ được quan tâm không chỉ qua số phận, bi kịch mà cả những tâm tư, tình

cảm, những day dứt trăn trở, những khát khao thầm kín được phản ánh vào văn học

ở các giai đoạn về sau. Đó chính là sự vận động trong quan niệm người phụ nữ ở

các tác giả mà chúng tôi nghiên cứu.

2.2. Sự vận động trong bản thân hình tượng người phụ nữ qua từng

tập truyện

2.2.1. Điểm tương đồng

Truyện truyền kỳ ngay từ khi ra đời và phát triển, ln đi theo vòng quỹ đạo

vận động liên tục. Do vậy, thể truyền kỳ qua các giai đoạn văn học đã cho thấy rất

rõ những cách tân mới mẻ của các tác giả không chỉ ở nghệ thuật biểu hiện mà trên

cả phương diện nội dung cũng thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá, phản ánh con

người rất khác nhau. Và để chứng minh cho điều đó, chúng tơi triển khai vấn đề dựa

trên điểm tương đồng của hình tượng nhân vật nữ với các biểu hiện:

a. Nhân vật người phụ nữ theo đạo lý cương thường

- Nhân vật người phụ nữ thủy chung, một lòng hướng về chồng

Từ bao đời nay, người phụ nữ vẫn ln trở thành một hình tượng đẹp, một bơng

hoa bất tử trong tâm thức người Việt. Điều đó được thể hiện rất rõ trong văn học trong đó

có truyện truyền kỳ.

Trong TTDT có tất cả 19 truyện thì 7 truyện tác giả dành cho đối tượng

người phụ nữ. Tuy số lượng không nhiều nhưng cũng phần nào thể hiện được số

phận của người phụ nữ trong một thời kỳ lịch sử xã hội thịnh trị. Viết về người phụ

nữ, Lê Thánh Tông phát hiện và ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ nhất là tình yêu

thủy chung. Thủy chung biểu hiện qua sự chờ đợi. Điển hình là các nhân vật nữ



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Tác giả và thời đại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×