Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Khái niệm truyền kỳ

a. Khái niệm truyền kỳ

Tải bản đầy đủ - 0trang

một thủ pháp nghệ thuật, một hạt nhân tự sự quan trọng trong kết cấu tác phẩm. Kết

hợp chặt chẽ với cái kỳ trong hạt nhân của thể loại là cái thực và xu thế phát triển

tất yếu của truyện truyền kỳ là gia tăng yếu tố thực. Tuy nhiên, cái kỳ khơng mất đi

mà hòa quyện chặt chẽ với cái thực trong một kết cấu thống nhất làm nên đặc trưng

của thể loại. Nếu truyện thiếu đi cái kỳ, truyện dễ trở thành truyện ký, thiếu cái thực

truyện truyền kỳ khơng thể vuợt khỏi giới hạn của chí qi. Vai trò của yếu tố thực

và kỳ trong hạt nhân cơ bản của truyện sẽ biến đổi và có những đặc điểm riêng qua

từng giai đoạn phát triển của thể loại.

Đặc trưng thứ hai của truyện truyền kỳ, với tư cách là một thể loại văn học nghệ

thuật là sự kết hợp hài hòa nhiều thể loại văn chương. Trong tác phẩm, bên cạnh các

thể văn xi còn bao gồm văn vần, thơ, phú…. tạo nên một chỉnh thể thẩm mỹ.

Một truyện truyền kỳ thường có dung lượng khơng lớn. Vì vậy, PGS.TS

Nguyễn Đăng Na xếp truyền kỳ vào thể loại truyện ngắn. Bố cục mỗi truyện thường

chia thành ba phần: mở đầu giới thiệu danh tính, nguồn gốc nhân vật; phần giữa kể

lại hành trạng, cuộc đời nhân vật và phần kết khẳng định tính chân thực của câu

chuyện. Phần lời bình nằm cuối mỗi truyện cũng được xem là một bộ phận hữu cơ

trong kết cấu chỉnh thể của thể loại.

- Các giai đoạn phát triển

Truyện truyền kỳ từ khi ra đời trải qua 3 giai đoạn phát triển. Nhưng trong

giới hạn nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu truyện truyền kỳ giai đoạn 2 và

giai đoạn 3 (tức từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX).

+ Giai đoạn hai: Từ thế kỉ XV đến hế kỉ XVI

Đây là giai đoạn phát triển và đạt đỉnh cao của thể truyền kỳ Việt Nam. Ở

giai đoạn này, văn xuôi tự sự đã thực hiện một bước nhảy vọt dần thoát khỏi ảnh

hưởng của văn học dân gian và văn học chức năng bằng một lối tư duy sáng tạo

nghệ thuật mới của người viết. Lối ghi chép đơn thuần những thần tích, gia phả

trong các đền chùa kiểu Việt điện u linh tập và những sưu tầm, chỉnh lý tác phẩm

văn học dân gian có sẵn kiểu Lĩnh Nam chích qi lục đã khơng còn là chủ đạo

trong các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này. Chúng ta thấy ở đây vai trò to lớn của

cảm hứng sáng tạo với bút pháp nghệ thuật tinh tế hơn trong các truyện truyền kỳ,

tiêu biểu là hai tác phẩm: TTDT tương truyền của Lê Thánh Tông được xem là

11



“bước đột khởi” (Vũ Thanh) và TKML của Nguyễn Dữ là đỉnh cao của thể loại. Nói

như PGS.TS Nguyễn Đăng Na: “Nguyễn Dữ và Lê Thánh Tơng đã phóng thành

cơng con tàu truyền kỳ vào quỹ đạo nghệ thuật: lấy con người làm đối tượng và

trung tâm phản ánh” và ông khẳng: “thế kỉ XV - XVI là thế kỉ của truyện truyền

kỳ” [ 21,20].

+ Giai đoạn ba: thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX

Sau khi đạt đỉnh cao ở giai đoạn thế kỉ XV - XVII, sang thế kỉ XVIII - XIX,

văn xuôi tự sự lại tiến thêm một bước mới bằng những thành tựu to lớn của thể loại

kí và tiểu thuyết chương hồi, với khuynh hướng viết về “những điều trơng thấy”

truyện truyền kỳ cũng có những bước chuyển mình rõ rệt theo khuynh hướng ấy.

Các tác giả tiêu biểu của thời kỳ này quan niệm sáng tác truyền kỳ theo khuynh

hướng hiện thực là một sự “canh tân”. Vì vậy, họ thể hiện quan niệm này ngay

trong nhan đề của tác phẩm. Chẳng hạn như: TKTP của Đồn Thị Điểm, Tân truyền

kỳ lục của Phạm Q Thích, LTKVL của Vũ Trinh… Tuy nhiên, việc chú ý nhiều

đến tính chất hiện thực cuộc sống đã tước đi trong truyền kỳ đôi cánh kỳ diệu của

tưởng tượng. Bởi thế, sự cách tân mới mẻ này xét ở khía cạnh bút pháp nghệ thuật

nó thể hiện sự thụt lùi khơng còn phù hợp với tâm lý thời đại. Còn trên phương diện

nội dung thì sự cách tân này lại có những bước tiến lớn về mặt dân tộc trong việc

định hình một lối viết của người Việt. Chúng ta đã khơng còn thấy những ảnh

hưởng trực tiếp từ bất cứ tác phẩm nào của văn học Trung Quốc. Cho nên, khi đọc

truyện, độc giả có cảm giác như những nhân vật, những số phận kia giống như

những con người có thật ngồi đời. Vì, càng trung thành với ngun mẫu hiện thực

bao nhiêu thì đơi cánh truyền kỳ càng bị cột chặt bấy nhiêu. Do vậy, không thể đưa

người đọc vào một thế giới huyền ảo, huyễn hoặc đậm chất truyền kỳ.

Cuối thế kỷ XIX là giai đoạn chuyển giao giữa văn học trung đại và văn học cận

hiện đại. Cùng với sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ và ảnh hưởng của văn học phương

Tây, truyện truyền kỳ nói riêng và các thể loại văn học trung đại nói chung bị suy yếu

và kết thúc vai trò lịch sử của mình. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhận thấy bóng

dáng của nó trong bút pháp của thể loại này ở các tác phẩm văn học hiện đại.



12



1.2. Sơ lược về vai trò người phụ nữ trong văn hóa truyền thống và theo

quan niệm Nho giáo

1.2.1. Vị trí người phụ nữ trong văn hóa Việt

Thế kỉ XVI - XVIII, lịch sử đất nước có nhiều biến đổi cùng với sự tác động

mạnh mẽ của kinh tế - xã hội làm cho đời sống tinh thần dân tộc cũng có nhiều đổi

thay. Lúc này, văn hóa truyền thống của dân tộc được phục hưng sau thời gian dài bị

kìm kẹp bởi những tín điều khơ cứng của Nho giáo.

Xuất phát từ nền văn hóa nơng nghiệp lúa nước trọng tình trọng tĩnh, chủ về

âm (rất coi trọng vai trò của người phụ nữ) định cư văn minh sinh sống quần tụ

quanh các làng, xã nên nảy sinh tâm lý cộng đồng. Đây là điểm khác biệt so với nền

văn hóa Trung Hoa, văn hóa du mục (du canh du cư), thiên về cái động (tức là nói

tới sức mạnh của người đàn ông), chủ về dương nên coi trọng vai trò của đàn ơng.

Điều đó được thể hiện rất rõ ở tinh thần đoàn kết, yêu ghét phân minh. Mặt khác

cũng qua mơi trường sinh hoạt văn hóa dân gian đã giúp cho con người có điều kiện

trở về với cuộc sống tự nhiên, dân chủ hơn. Ở đó những điều lệ mà lễ giáo liệt vào

hàng cấm kỵ, những khát vọng mang tính chất bản năng trần thế, niềm vui tự nhiên

của con người có dịp được bộc lộ, tỏa sáng. Đồng thời, những chuẩn mực mang tính

chính thống cũng đã bị “giải thiêng, phàm tục hóa”. Trong giai đoạn này đã xuất

hiện những sản phẩm độc đáo mang tính phi chính thống thuộc nhiều lĩnh vực nghệ

thuật khác nhau như điêu khắc, hội họa. Đó là những bức tranh Đông Hồ nổi tiếng

như đánh ghen, hứng dừa …là những bức chạm khắc Rồng thú giao phối (ở chùa

Diềm, ở Ninh Bình), trai gái đùa vui (ở đình Liên Hiệp, ở Hà Tây)…

Trong văn học, hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương là sự hồi phục mạnh mẽ của

văn hóa dân gian, nhất là yếu tố của văn hóa phồn thực - qua ngôn từ đến nội dung

thể hiện, những yếu tố dân gian đều xuất hiện đậm đặc và chiếm vị trí quan trọng.

Tiếng cười trong thơ bà “thấp thống hội hè phong tục, trí tuệ, tiếng cười dân gian,

tín ngưỡng phồn thực”, khát vọng sống đời thường của người phụ nữ. Do đó, Xuân

Hương được mệnh danh là người đàn bà “lệch chuẩn”, “đứa con lạc loài của Nho

giáo” thời bấy giờ.

Bên cạnh sự trở về của văn hóa Việt, là truyền thống tơn trọng phụ nữ. Người

phụ nữ Việt Nam trong truyền thống, vốn không phải sống với quan niệm “tại gia



13



tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và cũng khơng phải là loại người thuộc

hạng tiểu nhân “nan hóa” (Đây là quan niệm của Nho giáo Trung Hoa), mà có thân

phận rõ ràng trong làng, xã. Người phụ nữ Việt Nam quán xuyến việc nhà, tham gia

vào hoạt động của xã hội, có vai trò quan trọng hơn nam giới trong kinh tế, giáo dục

gia đình. Họ nắm tay hòm chìa khóa và nếu như ở nhiều nơi, sự bất bình đẳng bắt

nguồn từ thờ cúng và nữ giới bị xem là nhơ bẩn thì ở đây trái lại nữ giới là đối

tượng được tôn thờ và làm chủ thế giới siêu nhiên.

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, người phụ nữ trở thành Mẫu, chúa

như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu

Thoải, Bà chúa kho... nghĩa là, trong văn hố truyền thống con người rất tơn sùng

Đạo Mẫu. Và lẽ đó, vai trò, vị trí của người phụ nữ đương thời ấy rất được coi

trọng, còn người đàn ơng mờ nhạt hơn, hay nói cách khác là khơng được chú ý

nhiều. Ngay trong ca dao có câu như: “lệnh ông không bằng cồng bà”, “nhất vợ nhì

trời”, “giàu vì bạn sang vì vợ” ... Vị trí của người phụ nữ, người vợ lúc này được

tôn trọng, đề cao hơn bao giờ hết. Họ là những người một tay vun vén, lo toan mọi

việc trong gia đình sinh con đẻ cái, thực hiện thiên chức làm mẹ, nhân hậu, thuỷ

chung son sắt với chồng. Họ cũng có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển

của gia đình, từ việc “thay anh phụng dưỡng mẹ già”, đến “dạy con đèn sách thiếp

là phụ thân”, rồi thì “nâng khăn sửa túi” cho chồng và đến ngay cả việc “dệt cửi

thêu thùa”, “rau heo cháo chó” cũng là một tay họ làm tất cả. Không chỉ làm chỗ

dựa vững chắc cho chồng trên con đường phấn đấu mà họ còn là hậu phương cho

người đàn ơng n tâm xây dựng nghiệp lớn.

Những người phụ nữ ấy không chỉ đảm việc nhà mà họ còn rất giỏi việc nước.

Trong những năm tháng đất nước bị giặc đô hộ tàn phá thì những người phụ nữ ấy đã

sẵn sàng đứng lên đánh giặc như một anh hùng bất khuất, gan dạ tiêu biểu như: Truyện

hai bà Trinh Linh phu nhân họ Trưng trong Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp

rồi tới các nhân vật có thực trong lịch sử: Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan,

Bùi Thị Xuân… và với khẩu hiệu “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Có thể thấy rằng,

vị trí của người phụ nữ trong văn hoá truyền thống là những con người đảm đang, tháo

vát, chăm chỉ, biết lo toan. Thế nên họ xứng đáng được tôn thờ, được coi trọng, được

phong là những Mẫu tiết nghĩa, khả hạnh…



14



Như vậy, sau bao nhiêu thế kỷ bị Nho giáo chèn ép, sự phục hưng mạnh mẽ

của yếu tố văn hoá, đặc biệt sự phục hưng trở lại của mẫu hình người phụ nữ Việt

Nam truyền thống đã ảnh hưởng rất lớn đến các lĩnh vực văn học - nghệ thuật thúc

đẩy sự phát triển của truyện Nôm và làm thay đổi nội dung văn học mà còn làm

chất liệu cho các thể loại khác phát triển trong đó có truyền kỳ.

1.2.2. Vị trí người phụ nữ theo quan niệm Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết không những chỉ nổi tiếng ở phương Đơng mà

còn trên tồn thế giới. Có rất nhiều vấn đề mà Nho giáo đặt ra nhưng tất cả vẫn quy

tụ về mối quan hệ giữa con người với con người. Nho giáo đòi hỏi con người phải

ln ln xác định được mình đứng ở vị trí nào trong mối quan hệ gia đình, xã hội

và phải ln ln làm tròn bổn phận của mình.

Xã hội phong kiến lấy đạo đức Nho giáo làm chuẩn mực khắt khe quy định

mọi hành vi của bậc nữ nhi, nên người phụ nữ trong xã hội đó ln bị “giam hãm

trong bức tường Nho giáo”. Người phụ nữ phải tuân thủ đúng khn mẫu của “tam

tòng tứ đức”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Quan niệm Nho

giáo còn quy định “nam nữ thụ thụ bất thân” và người con gái phải có đủ bốn đức

“cơng - dung - ngơn - hạnh”. Thậm chí pháp luật phong kiến lấy Nho giáo làm

chuẩn mực cũng rất khắt khe, nghiêm khắc đối với phận nữ nhi nếu người vợ trong

thời gian để tang chồng mà tư thông với trai làm việc hôn giá và người nào lấy

người đàn bà ấy làm vợ đều phải chịu tử hình. Đặc biệt Khổng Tử hạ thấp người

phụ nữ coi họ chỉ là nhân vật phụ, là loại không thể giáo dục được và cũng chẳng

nên cho đến trường. Bởi vì theo ơng “chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó ở cho vừa

lòng, gần thì họ khinh lơn, xa thì họ oán trách” [Luận ngữ]. Đạo Nho đã đặt người

con gái ngang hàng với kẻ tiểu nhân, xem thường người phụ nữ. Chính vì thế, người

phụ nữ trong xã hội xưa đã trở thành nạn nhân của chế độ gia trưởng nam tôn nữ ty,

không được tham gia vào các hoạt động xã hội, không được ở trong bộ máy nhà

nước và đặc biệt không cho đi học để dễ sai bảo… Họ chịu thiệt thòi đủ đường cả

ngồi xã hội cũng như trong gia đình. Những tư tưởng của Nho giáo đối với người

phụ nữ về bản chất là sự tước đoạt quyền lợi của nữ giới. Thời nhà Chu, Nho giáo

đã phát huy đến cùng sự thắng lợi của cuộc cách mạng mà người ta đã gọi là “một

trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà loài người đã trải qua” (tức là cuộc



15



cách mạng chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền). Người phụ nữ từ

chỗ là chủ gia đình và xã hội trở thành người bị giam hãm, áp bức. Ngồi cơng việc

nội trợ họ chỉ có vai trò sinh con đẻ cái, đặc biệt là phải sinh con trai để nối dõi tơng

đường và giữ gìn gia tài tư hữu của gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chỉ biết

“sự”, “tùy” và “tùng” nên người phụ nữ khơng có và không được nhắc đến cái gọi

là quyền, cả quyền định vị cho hạnh phúc của mình cũng được phép quyết định. Số

phận bất hạnh của họ dường như đã trở thành mẫu số chung cho cuộc đời những

người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ phải chịu nhiều những đè nén, áp chế cay

nghiệt cả về thể xác lẫn tinh thần: làm con, làm vợ hay làm mẹ cũng đều bị sự ức

hiếp của nam giới, của lễ giáo và của pháp luật.

Như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự ảnh hưởng của Nho

giáo tới người phụ nữ rất đậm nét và nó không chỉ diễn ra ở đời sống thường nhật

mà ngay cả trong văn học, sự hà khắc ấy cũng được các nhà văn, nhà thơ phản ánh

rất rõ. Việc nghiên cứu đề tài: “Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua

TTDT, TKML, TKTP và LTKVL” để thấy được sự vận động của hình tượng nữ giới

trong văn học, thấy được những cảnh đời, số phận nhỏ bé cùng với những bất công

mà người phụ nữ xưa kia phải chịu đựng. Qua đó, đề tài chỉ ra sự phá cách nổi loạn

dám khẳng định bản lĩnh bản thân, đòi lại quyền công bằng, tự do của nữ giới và

trái tim nhân ái cảm thông sâu sắc của các tác giả tới số phận người phụ nữ.

1.3. Hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi trung đại

Đất nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng ngàn năm và với sự xâm

nhập mạnh mẽ của Nho giáo đã làm cho giá trị truyền thống của dân tộc ta bị xáo

trộn, lấn át. Và một trong những yếu tố bị Nho giáo làm thay đổi đó là quyền và vai

trò vị trí của con người mà đặc biệt là người phụ nữ. Bởi vậy, trong thời đại mà Nho

giáo lên ngơi thì vị trí người phụ nữ lúc này bị lép vế, khơng được coi trọng, khơng

còn được giữ vai trò độc tơn như trước. Điều này được thể hiện rất rõ trong văn học

mà đặc biệt là trong văn học trung đại.

Có thể nói, xuất phát từ góc nhìn Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam

thời bấy giờ nên người phụ nữ trong văn hoá truyền thống hay trong văn học trung

đại về cơ bản cũng không thể bước qua cái vòng cương toả khắt khe đó. Dù vậy,

hình ảnh người phụ nữ qua văn hố truyền thống khi được soi chiếu vào văn học



16



trung đại dần dần có sự vận động, phát triển trong tư tưởng, hành động và tâm lí rõ

rệt hơn. Đặc biệt, qua một số tác phẩm văn học trung đại, người phụ nữ ít nhiều đã

dám cất lên tiếng nói phản kháng chống lại cường quyền và thần quyền đang đè nén

lên đôi vai nhỏ bé của họ.

Trong quá khứ, người phụ nữ dù ở phương Đông hay phương Tây đều giữ

những địa vị hết sức thấp kém trong gia đình và xã hội. Số phận của họ ở vào thế bị

động, phải phụ thuộc vào người khác, nhiều khi họ chỉ là những thứ mua vui, tiêu

khiển, là đồ trang sức hay thậm chí là nơ lệ. Họ khơng được làm chủ số phận của chính

mình. Điều này được thể hiện rõ qua những câu hát, lời ca than thân, trách phận vẫn

còn lưu lại trong kho tàng ca dao dân tộc bao đời nay:

“ Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

(Ca dao )

“Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng đồng”

( Ca dao)

hay:

“ Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân”…

(Ca dao)

Những câu ca dao than thân với cụm từ bắt đầu quen thuộc “thân em…”

vang lên đầy xót xa ngậm ngùi. Số phận của người phụ nữ, lúc thì ví như “hạt mưa

sa”, lúc thì như “tấm lụa đào…”. Song dù được dân gian ví với điều gì, thì người

phụ nữ cũng đều chung một số phận đau khổ gian truân. Họ không biết sẽ sống ra

sao, sẽ bị dòng đời đưa đẩy trơi nổi đến phương trời nào? Sẽ sống sung sướng nơi

“đài các” hay làm lụng vất vả nơi “ruộng cày”? Đối với họ, quãng đời phía trước

vơ cùng mịt mù, chẳng biết được điều gì sắp xảy đến, sẽ “vào tay ai…”. Có khi lấy

phải người chồng xấu, khơng tốt, người phụ nữ yếu đuối sẽ phải chịu nhiều cực khổ

và đón nhận “đòn cân số phận” đang chờ mình. Thế nên, dẫu cả đời mình dù phải

sống trong đau khổ, nhục nhã, họ cũng đâu dám kêu than. Bởi thân phận là nữ nhi

đã bị coi thường thì khơng có tư cách để mà phản kháng, kêu oan. Họ phải chấp



17



nhận cảnh “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” như điều tất yếu, đón nhận số phận tốt

hay xấu, may rủi như điều hiển nhiên.

Số phận đã hẩm hiu, cuộc đời của họ cũng lại càng bấp bênh hơn nên khi

đã xuất giá họ cũng chưa hẳn đã được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Bởi xã hội

thời bấy giờ:

“ Trai thì năm thê bảy thiếp

Gái chính chun chỉ lấy một chồng”

(Ca dao)

Xuất phát từ điểm nhìn văn hố truyền thống ấy, hình ảnh người phụ nữ dần

dần được đi vào những trang thơ, trang văn của các nhà thơ, nhà văn ngày một rõ

nét hơn, đậm đặc hơn.

Thơ ca Việt Nam trước thế kỷ XV đặc biệt là thơ văn thời Lý - Trần, các nhà

văn sáng tác văn học chủ yếu phục vụ cho mục đích tuyên truyền, giáo huấn, ca

ngợi non sông đất nước nên các sáng tác thời đó thường vắng bóng người phụ nữ.

Tuy nhiên, đến Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế Pháp thì đề tài về người phụ nữ

đã trở lại, chủ yếu trong tác phẩm này người phụ nữ được ca ngợi bởi khí chất của

người anh hùng: Truyện hai bà Trinh Linh phu nhân họ Trưng; họ được đề cao bởi

thiên chức làm mẹ như: Nàng Âu Cơ (truyện họ Hồng Bàng), Man Nương (truyện

Man Nương); đặc biệt ở đó người phụ nữ phần nào cũng được chú ý đến bởi sự táo bạo

trong tình u và hơn nhân như: cơng chúa Tiên Dung (truyện Nhất dạ trạch), quận

chúa A Kim (truyện Hà Ơ Lơi)...

Đến thế kỷ XV, trong thơ Nơm của Nguyễn Trãi người đọc mới thấy thấp

thống bóng dáng của người phụ nữ:

“Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng

Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngồi ấy dù còn áo lẻ

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng”

(Bài thơ 208 – QATT - Nguyễn Trãi)

Tiếp nối Nguyễn Trãi là Lê Thánh Tông với tập truyện TTDT - nhân vật nữ

lần đầu tiên được xuất hiện công khai trong văn học. Xuất phát từ quan điểm của tác

giả khi nhìn nhận về vấn đề con người, nhân vật người phụ nữ được gắn liền với



18



vấn đề tải đạo, ít nhiều mang tính thời sự. Điều này cho thấy văn xuôi tự sự thế kỷ

XV đã thực sự đi vào quỹ đạo nghệ thuật khi lấy con người làm trung tâm, làm đối

tượng phản ánh. Nhân vật người phụ nữ ở đây được nhắc tới khơng còn mờ nhạt

như trước mà nhân vật xuất hiện đậm nét. Dưới ngòi bút tác giả, nhân vật được kéo

về gần với cuộc sống đời thường. Điều đó thể hiện ngay trong nguồn gốc xuất thân

của nhân vật, đặc biệt xuất hiện ở nhân vật có đời sống nội tâm, khát vọng cá nhân.

Rõ ràng khi xây dựng nhân vật như vậy, tác giả đã đưa nhân vật dần thốt

khỏi mơ hình nhân vật đơn giản trong văn học dân gian hoặc văn xuôi lịch sử. Nhân

vật không còn là đối tượng của ghi chép mà đã mang dáng dấp của một kết quả lao

động sáng tạo nghệ thuật, nhằm phục vụ ý đồ của nhà văn. Đặc biệt sự xuất h iện

của nhân vật nhà vua trong vai trò người kể chuyện là một dạng nhân vật ln thể

hiện uy quyền của con người, có sức mạnh làm chủ mn lồi. Cùng với ngòi bút

hướng nội, chú ý trong việc miêu tả nội tâm nhân vật tác giả đã tạo ra sự cách tân

trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Do đó, có thể nói hình tượng người phụ nữ đến

TTDT đã có sự chuyển biến đáng kể ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.

Đây là cơ sở đặt nền móng cho sự phát triển của văn học về sau.

Bước vào thế kỷ XVI, giai đoạn xã hội phong kiến bắt đầu có dấu hiệu

khủng hoảng, mâu thuẫn giai cấp trở thành vần đề trung tâm của sự phát triển lịch

sử. Vấn đề con người, nhất là người bị áp bức trở thành mối quan tâm lớn của xã hội thì

Nguyễn Dữ đã mở ra một khuynh hướng sáng tác mới, đề cập tới người phụ nữ với

những khát khao về tình yêu và hạnh phúc của họ. Trong số hơn 20 truyện trong TKML

có tới 11/20 truyện nói tới người phụ nữ. Đặc biệt là những vần thơ nói lên tâm sự, khát

khao của một nửa thế giới này.

Với tâm hồn tinh tế và trái tim đa cảm nhân hậu, lại sống trong bối cảnh xã

hội rối ren, Nguyễn Dữ thấm thía và thấu hiểu được mọi nỗi khổ cũng như nỗi khao

khát cháy bỏng của người phụ nữ. Cho nên viết TKML, ông không chỉ đi theo quan

điểm của Nho giáo, mà tác giả còn ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, đặc biệt là

văn hố dân gian. Vì thế, khi phóng tác trên cơ sở những truyện vốn lưu hành trong

dân gian, Nguyễn Dữ có bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo song cái hình thức tư

tưởng Khổng - Mạnh ấy lại chủ yếu là để thể hiện tư tưởng nhân dân. Tuy những

nhân vật ấy thường biểu hiện phẩm chất qua khuôn mẫu “trung - hiếu- tiết -



19



nghĩa” nhưng thực chất thì lại phản ánh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của

dân tộc, phần nào thể hiện yêu cầu của nhân dân về đạo lí làm người. Cái nhìn

của Nguyễn Dữ đối với người phụ nữ chịu sự chi phối sâu sắc của tư tưởng đó,

cộng với những đổi thay mới của thời đại nên người phụ nữ trong TKML không

chỉ là người phụ nữ của lễ giáo “ép phần xác để toả phần hồn” mà còn là những

người không ngừng khao khát, không ngừng đấu tranh cho hạnh phúc chính đáng

của bản thân. Trong những bức tường khắc nghiệt của đạo đức Nho gia, họ vẫn

hướng ra ngồi với cái nhìn “thèm khát” bằng hành động táo bạo.

Như vậy, với việc văn xi tự sự dần thốt khỏi mối ràng buộc của văn học

dân gian và văn học chức năng, nhân vật người phụ nữ xuất hiện trong văn học (X XV) có sự phát triển rõ rệt qua từng thời kỳ. Từ hình ảnh con người thần tiên đến

con người bình dân, nhân vật đã có sự chuyển biến vượt bậc: từ con người được bao

phủ bởi một lớp màn sương mờ ảo huyền thoại đến con người bình thường trong

cuộc đời thực. Từ mơ hình cứng nhắc của loại hình nhân vật lịch sử theo một công

thức nhất định sang kiểu nhân vật văn học nhằm phục vụ chuyển tải cho ý đồ sáng

tác của tác giả. Do đó truyện vừa mang sắc thái dân tộc, vừa phản ánh hiện thực

đương thời. Nhưng phải đến thế kỷ XVI cùng sự xuất hiện của Nguyễn Dữ với

TKML người đọc mới thực sự cảm nhận đầy đủ về hình tượng người phụ nữ với

mọi cung bậc, cảm xúc. Nhân vật với những giằng xé, trăn trở nội tâm không chỉ

thể hiện cho tư tưởng tác giả trong việc đi tìm một lối sống, một con đường đi đúng

đắn cho mình mà còn thể hiện tư tưởng của con người trước những biến cố thời đại

khi đạo quân thần suy vi, điên đảo.

Sang thế kỷ XVIII tình hình đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm

trọng, khơng phương cứu chữa, vua chúa bỏ bê chính sự, hoang dâm vơ độ... Điều

đó được phản ánh đậm đặc trong sáng tác của các nhà văn. Người cung nữ trong

sáng tác của Nguyễn Gia Thiều là một cung nữ xinh đẹp tài hoa, khát khao hạnh

phúc bị nhà vua bỏ rơi, sống cơ đơn, mòn mỏi lạnh lẽo nơi cung cấm, chôn vùi tuổi

xuân trong cung điện thâm u (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều). Người

phụ nữ chỉ có một khát vọng rất bình thường là được chung sống cùng với người

chồng thân yêu, song lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt sinh li” đằng đẵng chờ đợi

khơng biết có ngày gặp lại (Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Cơn). Rồi đó còn là

nhưng người phụ nữ thủy chung son sắc, vì tình, vì nghĩa, sẵn sàng hi sinh bản thân

20



đổi lấy hạnh phúc cho người mình yêu mà không chút bận tâm, do dự như trong

TKTP của Đoàn Thị Điểm và LTKVL của Vũ Trinh. Hay ngay cả nàng Kiều trong

Truyện Kiều của Nguyễn Du, xinh đẹp, tài hoa là thế nhưng lại bị vùi dập trong

cảnh: “Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”, liên tiếp bị đầy đoạ cả về thể xác lẫn

tâm hồn để rồi phải thốt lên rằng:

“Thân lươn bao quản lấm đầu

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”.

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Vẫn nối tiếp tư tưởng ấy, trong sáng tác của mình - Hồ Xn Hương đã có sự

cách tân lớn so với thời đại đó là: người phụ nữ trong thơ bà không bao giờ chấp

nhận thực tại phũ phàng. Họ sẵn sàng nổi loạn ngay ở giữa thời đại họ đang sống,

chứ không phải đợi khi ở bên kia thế giới mới dám thực hiện điều đó như trong sáng

tác của Nguyễn Dữ hay ngồi đó ơm ấp khát vọng như người cung nữ của Nguyễn

Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Vũ Trinh... Và cũng không phải nhún nhường, nhỏ nhẹ

hay né tránh về những ước mơ khát vọng chính đáng của người phụ nữ như Nguyễn

Dữ, nữ sĩ dám lên tiếng nói đòi quyền bình đẳng, quyền được yêu, được hưởng

hạnh phúc… một cách thẳng thắn, táo bạo và nổi loạn.

Như vậy, có thể thấy rằng người phụ nữ trong văn học trung đại ngày càng

được đề cập đến nhiều ở các giai đoạn về sau. Viết về người phụ nữ, các tác giả

truyền kỳ cũng có những cách tân mới theo sự vận động và phát triển của văn học.

Người phụ nữ trong văn học ngày càng hiện lên một cách đầy đủ từ hình thức đến

tâm hồn. Mặc dù, viết về người phụ nữ ở nhiều tác phẩm văn học vẫn chưa vượt ra

khỏi những nguyên tắc của thủ pháp ước lệ, tượng trưng nhưng rõ ràng là hình

tượng người phụ nữ ngày càng được gia tăng yếu tố hiện thực. Với đề tài: “ Sự vận

động của hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL” chúng

tơi muốn tìm hiểu sự vận động trong quan niệm về con người, sự vận động trong cái

nhìn mới mẻ của từng tác giả khi viết về người phụ nữ.

1.4. Sơ lược về những tác giả tác phẩm TTDT, TKML, TKTP và LTKVL

1.4.1. TTDT - tác phẩm mở đầu của truyện truyền kỳ Việt Nam

a. Tác giả và thời đại

Vấn đề tác giả, niên đại của TTDT là một trong những nghi án văn chương

nan giải.



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Khái niệm truyền kỳ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×