Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tiểu kết Chương 3:

Tiểu kết Chương 3:

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN KẾT LUẬN

Căn cứ vào những định hướng khoa học quý báu mà các nhà nghiên cứu đi

trước đã mở ra khi tìm hiểu truyện truyền kỳ, trên cơ sở tìm hiểu sự vận động của

hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL ở cả phương diện

nội dung và nghệ thuật. Chúng tôi đưa ra những kết luận sau:

Vấn đề đầu tiên chúng tơi tìm hiểu là: khái niệm sự vận động, các đặc trưng

của truyện truyền kỳ, vị trí vai trò của hình tượng người phụ nữ trong văn hóa

truyền thống và trong Nho giáo. Và chỉ ra ở mỗi tác giả truyền kỳ có những đóng

góp, cách tân mới trong việc đưa thể loại lên tới đỉnh cao của sự phát triển ở cả

phương diện nội dung và nghệ thuật. Điều này giúp cho chúng ta có cái nhìn

sâu sắc, tồn diện hơn trong cách nhìn nhận về vị trí, vai trò của người phụ nữ

ở các thời kỳ khác nhau của từng tác giả. Đồng thời, qua đó thấy được đến với

thể truyền kỳ, hình tượng người phụ nữ cũng có sự vận động, biến chuyển liên

tục qua các giai đoạn từ thế kỷ XV - XVIII. Và các tác giả truyền kỳ đã bước

đầu quan tâm đến con người với những số phận và bi kịch cuộc đời của nhân

vật thời đại bấy giờ - nhất là người phụ nữ được coi là hình tượng trung tâm

thẩm mỹ, là đối tượng chính của văn học.

Về phương diện nội dung: Người nghiên cứu đã đi sâu vào tìm hiểu từng

nhân vật cụ thể trong từng tác phẩm. Từ đó tiến hành sự đối chiếu, so sánh việc xây

dựng hình tượng nhân vật người phụ nữ trong bốn tập truyện trên từ góc độ nội

dung. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm tương đồng các tác giả truyền kỳ gặp gỡ

nhau trong việc chỉ ra sự vận động của nhân vật nữ ở khía cạnh: Nhân vật người

phụ nữ theo đạo lý cương thường và nhân vật người phụ nữ với những khát vọng, bi

kịch, thái độ đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân. Từ đây, luận văn cũng đi vào tìm

hiểu chỉ ra những điểm khác biệt làm nên giá trị độc đáo riêng của từng tác giả và lí

giải sự khác biệt đó.

Và qua phần chương hai này, chúng tôi đi tới kết luận TTDT của tác giả Lê

Thánh Tông được xem là tác phẩm tiên phong cho thể loại truyền kỳ, đặt nền móng

cho sự quan tâm đến đối tượng con người nhất là người phụ nữ. TKML của tác giả

Nguyễn Dữ là tác phẩm đánh dấu đỉnh cao của thể loại này trong nền văn học trung

đại Việt Nam, bước đầu đi sâu vào khai thác các khía cạnh tâm tư, nỗi lòng, diễn



109



biến tâm trạng nhân vật. Đến TKTP của nữ sĩ Đồn Thị Điểm vẫn tiếp nối truyền

thống đó và tác phẩm tiến lên một bước mới khẳng định và đề cao vai trò, giá trị

của nữ quyền dưới cái nhìn của nhà văn cùng là giới nữ, tác giả nhìn người phụ nữ

như những thánh nữ chứ khơng chỉ dừng lại là những liệt nữ. Cuối cùng với LTKVL

của Vũ Trinh, vẫn trên những nền tảng kế thừa tác phẩm lại có vai trò quan trọng trong

việc chuyển giao giữa thể loại truyền kỳ và thể ký, là tác phẩm đầu tiên đưa hình ảnh

những cơ gái bình dân vào văn học một cách đầy ngợi ca, trân trọng. Đồng thời, sự ra

đời của tác phẩm còn định hình một lối viết riêng cho người Việt mà khơng phải dựa

vào bất kỳ tác phẩm nào để viết cũng như không phải chịu ảnh hưởng của nền văn học

Trung Quốc. Có thể nói, việc xây dựng thành cơng nhân vật người phụ nữ từ phương

diện nội dung cũng đã khẳng định một bản lĩnh nghệ thuật đánh dấu sự cách tân trong

tư duy nhà văn và đã đụng chạm đến một vấn đề khá cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo

trong văn học: vấn đề thân phận con người và vấn đề nữ quyền.

Như vậy, với cảm hứng lấy số phận con người là trung tâm trong sáng tác của

mình, các tác giả đã chạm đến ngưỡng cửa của văn học hiện đại: con người trong văn

học giờ đây là những con người với tư cách cá nhân, cá thể với một đời sống riêng, tâm

tư nguyện vọng riêng. Sự xuất hiện của những con người bình dị ở giai đoạn sau của

thể truyền kỳ đã cho thấy sự vận động trong quan niệm về con người trong văn học với

những thay đổi phù hợp với nhu cầu và tâm lý chung của thời đại. Con người hiện lên

với tất cả những nhu cầu và biểu hiện trong đời sống thường nhật. Con người khơng

còn phụ thuộc vào mẫu hình lý tưởng mà là con người tự nhiên, trần tục. Họ dám sống

với những khát vọng và ước muốn của riêng mình.

Do vậy mà từ TTDT đến TKML, TKTP và LTKVL ở một mức độ nhất định

tác phẩm viết ra không chỉ răn dạy, giáo huấn con người mà tác phẩm còn hé mở

những quan niệm sống khơng phải là minh họa cho đạo đức “trung - hiếu - tiết nghĩa”. Ở đó, hiện thực cuộc sống, con người cá nhân với những khát vọng về tình

yêu, hạnh phúc, tuổi trẻ đã phản chiếu vào văn học. Khác với xu hướng văn học dân

gian và văn xuôi lịch sử, đối tượng chủ yếu của TTDT, TKML, TKTP và LTKVL là

những con người hiện lên với những khát khao trần tục: đó là niệm khát khao về

một mái ấm gia đình, một phút giây hoan lạc ái ân, một khát khao yêu và đựợc yêu

hết mình… Tất cả những khát khao ấy đã đánh dấu sự cách tân đáng kể cho văn xi



110



giai đoạn thế kỷ XV - XVIII thốt khỏi ảnh hưởng của hệ thống ngoài văn học, khẳng

định nhu cầu giải phóng tình cảm gắn liền với đề tài tình yêu. Sự xuất hiện của hình ảnh

người phụ nữ trong văn học giai đoạn này một cách công khai đã chứng tỏ sự ra đời

của chủ nghĩa nhân đạo.

Dưới vỏ bọc kỳ ảo, các tác phẩm đã cho thấy sự vận động của hình tượng

người phụ nữ qua các giai đoạn ngày càng đậm đặc, sắc nét hơn ngay trong chính

quan niệm của các tác giả. Trong điểm nhìn trần thuật: người phụ nữ nếu ở giai

đoạn đầu dưới cái nhìn của nhà Nho, lại là tác giả nam thì những người phụ nữ theo

chuẩn mực đạo đức được coi là những liệt nữ, sự xuất hiện của họ dường như chỉ

nhằm mục đích giáo huấn, ca ngợi. Đến giai đoạn thế kỷ XVIII, dưới điểm nhìn của

tác giả nữ - Đồn Thị Điểm, vị trí, vai trò của những nhân vật nữ lại được nhìn ở

mức cao hơn. Tác giả ca ngợi họ như những thánh nữ, ở đó những tâm tư, nguyện

vọng, tài năng của nhân vật thỏa sức được bộc lộ, kể cả khát khao trong tình yêu

cũng được tác giả thể hiện rất cởi mở và phóng khống. Và chỉ tới tác giả Vũ Trinh,

nhân vật nữ được tác giả soi chiếu là những cơ gái bình dị, chân chất của làng cảnh

Việt Nam. Đọc truyện của ông ta như cảm thấy họ ở đâu đây rất gần gũi, rất thân

quen. Đó là những cơ gái được tác giả viết dưới góc nhìn bình dị, coi họ như là nạn

nhân của chế độ nam quyền. Khơng còn cao siêu, thần thánh hay lý tưởng hóa nhân

vật như các tác giả trước đó, Vũ Trinh vẫn kế thừa khi viết về đối tượng nhân vật nữ

nhưng chính sự hài hòa giữa các yếu tố thần thánh và bình dị đã đưa nhân vật của

ơng gần gũi với đời sống hiện thực hơn. Và chính việc các tác giả truyền kỳ hướng

dần về những sự vật, sự việc có thật ở ngồi đời để phản ánh vào văn học đã chứng

minh bước chuyển quan trọng về cảm hứng sáng tác: từ cảm hứng yêu nước, cảm

hứng đạo đức sang cảm hứng nhân văn, cảm hứng thế sự.

Về nghệ thuật: Ở mỗi tác giả truyền kỳ khi xây dựng nhân vật, nghệ thuật kể

chuyện, những biến đổi trong yếu tố kỳ - thực và kết cấu của truyện truyền kỳ đều

có sự vận động qua các giai đoạn văn học. Các tác giả sử dụng linh hoạt bút pháp

nghệ thuật và ở các giai đoạn sau chú ý hơn tới việc khai thác sâu đời sống nội tâm

nhân vật. Điểm nhìn trần thuật của các tác giả là điểm nhìn thơng suốt, có tầm bao

qt rộng.



111



Ngồi ra, sự vận động trên phương diện nghệ thuật của các tác giả còn thể

hiện rõ qua mối quan hệ giữa yếu tố kỳ và thực trong từng tập truyện. Ở giai đoạn

đầu các tác giả sử dụng đậm đặc yếu tố kỳ ảo trong truyện nhằm thể hiện cho những

ý đồ nghệ thuật mà ở thời đại đó khơng cho phép họ được nói ra một cách trực diện,

bút pháp kỳ ảo lúc này như một phương diện truyền tải nội dung cần phản ánh. Đến

giai đoạn sau, xã hội bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng, mọi giá trị đạo đức

suy vi, đảo lộn, những giáo điều khô cứng đã lung lay . Và trước sự ảnh hưởng

của phong trào Thực học tới đời sống con người nên các nhà văn có xu hướng

viết về những điều có thật, yếu tố kỳ ảo đã khơng còn chiếm vị trí chủ đạo

trong tác phẩm, thay vào đó là yếu tố hiện thực. Yếu tố kỳ ảo chỉ là cái nền để

tôn lên cái thực, khiến cho cái thực trở nên thực hơn. Chính sự thay đổi này,

làm cho thể truyền kỳ ngày càng tiến gần đến cuộc sống hơn, tiến gần đến con

người hơn.

Kết cấu nghệ thuật trong tác phẩm cũng có sự thay đổi. Những truyện truyền

kỳ ra đời trước sử dụng nhiều kiểu kết cấu biền văn xen vận văn và càng về sau kiểu

kết cấu này bị cắt giảm để rút ngắn dung lượng tác phẩm, làm cho tác phẩm ngày

càng ngắn gọn, súc tích, mạch lạc. Yếu tố lời bình, lời bàn cũng có chiều hướng

phát triển tương tự. Ở giai đoạn đầu dung lượng lời bình dài, chứa đựng những nội

dung giáo huấn cùng sự định hướng cách nhìn nhận vấn đề của tác giả nhưng về sau

lời bình được gọt giũa, cắt giảm đến mức tối đa, thậm chí là khơng có, nếu có thì

nội dung lời bình cũng mang tính khách quan không áp đặt như trước.



112



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (2008), Hán - Việt từ điển giản yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Lại Nguyên Ân - chủ biên, Bùi Trọng Cường (1995), Từ điển văn học Việt

Nam, quyển I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3. Nguyễn Huệ Chi - chủ biên (1999), Truyền kỳ Việt Nam, quyển II, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

4. Nguyễn Huệ Chi (2005), Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế

kỷ X đến hết thế kỷ XIX, Tạp chí Văn học số 3 - 2005, Hà Nội.

5. Bế Thị Chiêm (2012), Yếu tố kỳ ảo từ Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đến

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm

Thái Nguyên.

6. Nguyễn Dữ - bản dịch, (1999), Truyền kỳ mạn lục, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

7. Nguyễn Dữ - bản dịch, (1999), Truyền kỳ mạn lục, do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch,

Nxb Văn hóa thế giới.

8. Nguyễn Thị Dương (1988), Số phận người phụ nữ và các phương thức biểu

hiện số phận ấy trong Truyền kỳ mạn lục, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm

Hà Nội.

9. Đoàn Thị Điểm - bản dịch, (1962), Truyền kì tân phả, Nxb Giáo dục, Hà Nội

10. Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.

11. Olga Dror (2002), Doan thi Diem’s ‘Story of the Van Cat Goddess’ as a story of

emancipation, Journal of Southesat Asian Studies; Lê Thị Huệ dịch. Nguồn: http:

//www.gio.com/OlgaDrorDoanThiDiem.html.

12. Nguyễn Thị Việt Hằng (2006), Nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của

Thánh Tông di thảo, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm, Hà Nội.

13. Nguyễn Hữu Hòa (2010), Thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của

Đoàn Thị Điểm, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học Vinh.

14. Nguyễn Phạm Hùng (1987), Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ

mạn lục của Nguyễn Dữ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.

15. Nguyễn Phạm Hùng (1989), Sự xuất hiện khuynh hướng trong văn học cổ, Tạp

chí Văn học số 1.



113



16. Kim Seona (1995), Nhân vật người phụ nữ trong thể truyền kỳ qua các tác

phẩm Truyền kỳ mạn lục và Truyền kỳ tân phả, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Đại

học Khoa học XH&NV - Đại học Quốc gia, Hà Nội

17. Lê Nguyên Long (2006), Về khái niệm cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo, Nghiên cứu

Văn học số 9 - 2006.

18. Phương Lựu (1985), Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

19. Đặng Văn Minh (1996), Góp phần tìm hiểu Tân biên Truyền kỳ mạn lục, Tạp chí

Hán Nôm số 4 - 1996.

20. Nguyễn Đăng Na (1987), Sự phát triển văn xuôi Hán - Việt từ thế kỷ X đến cuối

thế kỷ XVIII đầu XIX qua một số tác phẩm tiêu biểu, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội.

21. Nguyễn Đăng Na (2001), Đặc điểm văn xuôi Việt Nam trung đại và những vấn

đề văn xuôi tự sự, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

22. Nguyễn Đăng Na (2005), Chuyện người con gái Nam Xương, Văn học và tuổi

trẻ số 10.

23. Nguyễn Đăng Na (2006), Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

24. Ngô Thị Thanh Nga (2002), Quá trình phát triển truyện truyền kì Việt Nam thời

trung đại qua một số tác phẩm tiêu biểu, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm

Thái Nguyên.

25. Bùi Văn Nguyên (1968), Bàn về yếu tố dân gian trong Truyền kì mạn lục của

Nguyễn Dữ, Tạp chí Văn học số 11.

26. Trần Ích Nguyên (2000), Nghiên cứu so sánh Tiễn Đăng tân thoại và Truyền kỳ

mạn lục, Nxb Văn học, Hà Nội.

27. Đại Doãn Phan (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội.

28. Đồn Thị Thu Phương (2008), Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh và sự cách tân

thể loại, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm, Hà Nội.

29. B.L.Ripstin (1974), Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ của

phương Đơng theo phương pháp loại hình, Tạp chí Văn học số 2.

30. Nguyễn Hữu Sơn (2001), Thiền uyển tập anh - tác phẩm mở đầu loại hình văn

xi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tạp chí Văn học số 8.



114



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tiểu kết Chương 3:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×