Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL

CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL

Tải bản đầy đủ - 0trang

người con gái ở Nam Xương) được miêu tả là cô gái “thùy mị nết na lại thêm tư

dung tốt đẹp”, nàng Đào thị (Nghiệp oan của Đào thị) nhờ tài năng và sắc đẹp đã

được tuyển vào làm cung nữ. Khi đến chùa Lệ Kỳ xin náu mình nơi cửa phật,

sư cụ Pháp Vân đã nhận xét nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên: “ Tuổi đã trẻ trung,

sắc lại lộng lẫy, ta e lòng thiền khơng phải đá, sắc đẹp đê mê người…” Và

đúng là sắc đẹp của nàng đã làm cho sư bác Vô Kỷ mê đắm trong bể tình ái

chẳng màng gì đến kinh kệ. Hay vẻ đẹp của nàng Nhị Khanh (Chuyện cây gạo)

cũng khiến cho Trình Trung Ngộ mê mẩn ngay từ lần gặp đầu tiên. Chàng liếc

mắt trông thấy một giai nhân tuyệt sắc và từ đó đem lòng say mê người đẹp

cuối cùng phải trả giá bằng cả tính mạng.

Bước sang thế kỷ thứ XVIII, chủ nghĩa nhân văn trên đà phát triển mạnh, các

tác giả truyền kỳ nhìn nhận, đánh giá về vị trí, vai trò của người phụ nữ có phần tiến

bộ hơn trước. Và nhân vật nữ dưới ngòi bút của các nhà văn vẫn được xây dựng là

những cô gái xinh đẹp như một cách thể hiện thái độ trân trọng, nâng niu, cảm

thông, ngợi ca của tác giả dành cho nhân vật. Điển nhìn là nàng Giáng Tiên (Vân

Cát nữ thần) được miêu tả với vẻ đẹp rạng rỡ: “da trắng như sáp đọng, tóc sáng

như gương soi, lông mày cong như mặt trăng mọc, mắt long lanh như sóng mùa

thu” [9,97], tới cơ ca nữ (Ca kỹ họ Nguyễn) “nhan sắc xinh đẹp, tài nghệ tuyệt vời”

[50,66], hay cô con gái Quận công (Liên Hồ quận công) cũng được miêu tả là cô gái

“rất xinh đẹp, mái tóc như mây, da trắng như tuyết, mắt rất sáng, môi đỏ như son,

người đời không ai sánh kịp” [50,136]…

Nhưng có thể thấy những người phụ nữ dưới thời đại bấy giờ có điểm chung

đều gặp phải bi kịch cuộc đời. Số phận bất hạnh đã là mẫu số chung dành cho họ

nên ở khía cạnh nào họ cũng ln khổ đau. Lí giải về điều này có thể xem một trong

những nguyên nhân gây ra bất hạnh cho người phụ nữ ấy chính là luật lệ hà khắc

của Nho giáo coi trọng nam quyền và xem thường giới nữ như những kẻ tiểu nhân.

Xã hội ấy nhìn người phụ nữ chỉ là những kẻ ăn bám, phụ thuộc và khơng có bất cứ

quyền hành gì trong gia đình cũng như xã hội. Chính vì lẽ đó, người đàn ông trở

thành người độc quyền, có mọi quyền lực trong tay. Họ xem phụ nữ chẳng khác gì

những trò mua vui, giải trí rẻ tiền khi cần thì dùng đến khơng thì sẵn sàng chà đạp.

Cho nên có biết bao cơ gái có nhan sắc đã phải bất hạnh vì chính nhan sắc của



73



mình, trở thành miếng mồi cho bọn vua chúa, quan lại, những kẻ có tiền xâu xé.

Giống như là một thứ triết lý muôn thuở “hồng nhan bạc mệnh có chừa ai đâu”,

những người phụ nữ đẹp bao giờ cũng gắn liền với hạnh phúc và bất hạnh. Đó cũng

là lý do khơng phải ngẫu nhiên mà người đàn bà đẹp thường xuyên xuất hiện trong

văn học. Điều mà sau này nhà văn hào Nguyễn Du đã khái quát thành triết lý chung

trong Truyện Kiều về số phận người phụ nữ:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

3.1.2. Tính cách

Đa phần là những nhân vật nữ trong truyện truyền kỳ xuất hiện đều là những

người có tính cách chủ động, mạnh dạn và khá quyết liệt. Những nhân vật nữ đặc

biệt là những nhân vật núp bóng dưới vỏ bọc truyền kỳ hiện thân là ma quái trong

TTDT và TKML đều chủ động tìm đến tình yêu, hạnh phúc của mình. Hạnh phúc

đó có thể là người chồng, người tình năm xưa trong (Chuyện yêu nữ Châu Mai,

Chuyện nghiệp oan của Đào thị), có thể là mối duyên mới (Chuyện cây gạo,

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện yêu quái ở Xương Giang)… Yêu nữ Châu Mai

lưu luyến lại trần gian bao nhiêu năm, chịu bao khổ cực, tai tiếng nhuốc nhơ cũng

chỉ mong gặp lại người chồng năm xưa. Cho nên, nàng không chỉ chủ động đến với

tình u mà còn thủy chung, son sắt đầy tình nghĩa. Tính cách mạnh mẽ, cương

quyết của nàng cũng bắt nguồn từ sự thủy chung mà ra. Nàng Ngư Nương cũng vậy,

trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc dài lê thê, tủi hờn vì cơ đơn, lạnh lẽo nhưng

nàng khơng nản chí, vẫn một mực giữ gìn sự trong trắng và tấm lòng thủy chung

với người mình u. Đó cũng chính là cách mà nàng bảo vệ phẩm giá sạch thơm

của bản thân trước mọi cám dỗ của đời sống.

Nếu như những nhân vật nữ trong TTDT của Lê Thánh Tơng là những cơ gái

vẫn còn e dè, kín đáo và chọn cách chờ đợi để chứng minh lòng thủy chung trong

tình yêu thì nhân vật nữ ở TKML của Nguyễn Dữ lại chủ động tìm đến tình yêu với

một khát khao cháy bỏng, quyết liệt hơn bao giờ hết. Chẳng thế mà, ngay từ lần gặp gỡ

đầu tiên, Nhị Khanh đã không ngần ngại bày tỏ mong muốn hoan lạc ân ái cùng Trình

Trung Ngộ: “Nghĩ đời người ta chẳng khác gì giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống



74



ngày nào, nên tìm lấy những thú vui kẻo một sớm chết đi… dù có muốn tìm cuộc hoan

lạc ái ân, cũng khơng thể được nữa” [7,230]. Tính cách của nàng đã thể hiện trong suy

nghĩ và hành động. Nàng khơng những quyến rũ được Trung Ngộ mà còn lơi kéo

chàng cả chàng xuống âm tuyền hội ngộ cùng.

Tính cách quyết liệt hơn cả còn là Đào Hàn Than trong Nghiệp oan của Đào

thị. Nàng bị vợ quan Hành khiển đánh ghen, cuộc sống đầy đau khổ, bị ức hiếp

nhưng nàng không hề cam chịu mà vẫn quyết định trả thù, mong muốn vươn tới

cuộc sống hạnh phúc nơi trần thế ngay cả khi đã chết đi rồi.

Sang đến TKTP, tác giả Đồn Thị Điểm khắc họa tính cách nhân vật qua

việc nữ sĩ để cho nhân vật của mình tự do, phóng khống làm những gì họ cho là

hợp lý và u thích chứ khơng bó buộc nhân vật trong khn khổ phạm vi gia đình.

Thế nên, nhân vật Giáng Tiên trong Vân Cát nữ thần, qua hai lần tái thế xuống trần

gian với vai trò là chúa Liễu Hạnh đã tự do vung vẩy khắp nơi và gặp gỡ ứng khẩu

văn chương khơng thua kém nam nhi. Chính tính cách phóng khống ấy, ngay cả

trong tình u nàng cũng khơng ngần ngại đưa ra một cái nhìn, một quan niệm vơ

cùng mới mẻ: Tình u đó là quyền tự do của mỗi cá nhân, vì thế cá nhân có quyền

tự quyết định hơn nhân của mình. Liễu Hạnh đã chủ động tìm đến tình yêu của

mình bằng cách cố gắng thuyết phục chàng thư sinh hãy để nàng ngủ lại một đêm

tại nhà chàng. Đây rõ là một quan điểm đi ngược lại với quan niệm tình yêu theo

chuẩn mực của Nho giáo. Nghĩa là người con gái khơng được chủ động trong tình

u mà phải kín đáo, giữ mình thì Liễu Hạnh đã lật nhào, phá bỏ quan niệm đó, tự

chủ động tìm đến với người mình yêu. Và tiến xa hơn nữa, nàng còn chủ động đề

nghị với Đào Sinh về cuộc hôn phối. Nàng nhấn mạnh việc kết hôn không cần đến

nghi thức rườm rà và khơng cần phải có sự chứng kiến của cha mẹ. Chỉ với vài chi

tiết đó cũng đủ thấy một Liễu Hạnh có tính cách mạnh mẽ, táo bạo dường nào.

Nếu nhân vật nữ của Đoàn Thị Điểm chủ động, phóng khống trên con

đường đi tìm kiếm hạnh phúc của mình là vậy thì tới LTKVL của Vũ Trinh, nhan

vật nữ lại có phần tiến xa hơn. Họ khơng chỉ chủ động đến với người mình u mà

các cơ gái sẵn sàng dâng hiến, hi sinh cho người mình yêu tiêu biểu như: cô gái

trong Tháp Báo Ân từ khi mắc bệnh phong, không được sống gần ai, nay bỗng gặp

chàng trai họ Nguyễn trẻ tuổi tài hoa trên đường đi thi, gõ cửa xin ngủ nhờ. Hai



75



người làm quen và nói chuyện tâm đầu ý hợp, cảm phục lẫn nhau nên đã trao nhau

những ngọt ngào, hạnh phúc nhất của tình u mà khơng hề đắn đo, băn khoăn. Họ

tự do tìm đến nhau bằng tình yêu thủy chung. Chẳng thế mà sau cái đêm gặp và ái

ân cùng chàng trai họ Nguyễn, cơ gái đã coi mình như là vợ của chàng với câu nói:

“Hỡi ơi Lưu lang” đã chứng minh cho điều đó.

Dẫu rằng ca ngợi tình u tự do phóng khống, cổ vũ cho việc giải phóng

khát vọng bản năng nhưng khơng phải nhân vật nữ của ông là những cô gái dễ dãi.

Họ dâng hiến cho đối phương minh chứng cho tình yêu thủy chung, mãnh liệt

nhưng họ chỉ trao yêu thương cho người mà họ ý hợp, tâm đầu. Nàng ca kỹ (Ca kỹ

họ Nguyễn) có phản ứng rất nghiêm nghị khi Vũ Khâm Lân có ý lả lơi: “Nếu thiếp

dâm đãng, thì thiên hạ thiếu gì bọn đàn ơng?...” [50,67]. Hay cơ gái (Trạng nguyên

họ Nguyễn) đã ứng xử rất khôn khéo với Nguyễn Đăng Đạo khi người này lẻn vào

phòng cơ: “Cha tơi tính nóng như lửa, ơng sẽ bị băm vằm thành bùn cho mà xem…

Ông chết cũng đáng. Nhưng nếu để người ta biết thì thanh danh, tiết hạnh của tơi

cũng mang vết” [50,152].

Nhưng một điểm chung là tính cách nhân vật trong truyện dù có táo bạo đến

đâu thì những người phụ nữ này vẫn như tất cả những người phụ nư khác trên cõi

đời, họ có thể chủ động mà không thể quyết định. Vũ Trinh đã chỉ ra được điều đó

đồng thời gắn với cảm quan hiện thực: những con người có thể tự tin mà vẫn thấy

chông chênh, bản lĩnh nhưng vẫn đầy lo sợ, đầy khao khát nhưng luôn ngậm ngùi

về duyên phận.

3.1.3. Đời sống nội tâm và hành động

Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong truyện truyền kỳ nói chung tuy

chưa thể đạt đến độ tinh xảo như ở truyện thơ Nôm hay các tác phẩm văn học hiện

đại sau này, nhưng lại là một bước tiến mới so với các tác phẩm văn xuôi giai đoạn

trước thế kỷ XV - XVIII. Nghệ thuật miêu tả đời sống nội tâm ở đây thể hiện qua

quá trình diễn biến tâm lý nhân vật trước những sự kiện quan trọng có tính chất

bước ngoặt của cuộc đời. Tuy nhiên, cách thể hiện của các tác giả ở mỗi giai đoạn

lại có phần khác nhau, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong nghệ thuật phân tích

tâm lý nhân vật. Chính điều này đã cho thấy, bước tiến mới của truyện truyền kỳ so

với kiểu nhân vật thiên nhiều về hành động trong các truyện Việt điện u linh, Lĩnh



76



Nam chích qi trước đó và khác với lối kể chuyện đơn tuyến của văn học dân gian.

Các tác giả truyền kỳ đã bắt đầu quan tâm tới đời sống nhân vật, đưa mùi vị riêng tư

của cuộc đời vào trang văn. Mặc dù đây chỉ là những manh nha mang tính thử

nghiệm song nó cũng báo hiệu một kiểu tư duy nghệ thuật mới.

Viết về người phụ nữ, các tác giả truyền kỳ đã chú trọng hơn khi đi sâu khám

phá những suy nghĩ thầm kín, những tâm trạng, cảm xúc cả những trăn trở day dứt

của nhân vật trước nhân tình thế thái... Mỗi nhà văn với mỗi tác phẩm lại có những

cách khai thác và thể hiện riêng nhưng nhìn chung tâm lý nhân vật đều được đặt

trong những hồn cảnh có vấn đề. Chính những hồn cảnh ấy, tâm lý nhân vật mới

bộc lộ một cách chân thực nhất. Dẫu rằng, chỉ là những bước thử nghiệm ban đầu

nhưng các tác giả truyền kỳ: Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đồn Thị Điểm, Vũ

Trinh đã xác lập được vị trí, vai trò của mình khi đi sâu miêu tả nội tâm nhân vật

trước những biến cố cuộc đời.

Đó là tâm trạng buồn bã, khắc khoải của yêu nữ Châu Mai. Là tâm trạng

thổn thức của Ngư Nương khi gặp lại Lương Nhân. Tâm lý của yêu nữ khi gặp lại

chồng xưa hân hoan giống như một cô gái mới lần đầu gặp mặt người yêu. Thấy

Lương Nhân ăn mặc tiều tụy tất cả con hát đều coi thường, đùa cợt, chỉ riêng Ngư

Nương đang ở trong phòng nghe tiếng chồng “vội vàng trang sức chỉnh tề rồi bước

ra, xịu mặt khóc”. Bao nhiêu tủi hờn, trách cứ chàng đã để nàng chờ đợi bấy lâu

nay hiện lên đầy đủ qua dáng vẻ “xịu mặt” ấy. Với yêu nữ, khoảng thời gian một

năm có đáng là bao nhưng trong sự mong ngóng gặp người xưa thì quãng thời gian

đó thật là dài: “Thiếp ẩn náu ở đây đã hơn một năm”. Trong lời nói của nàng là cả

một nỗi lòng ai ốn “Mây Vu Sơn, mưa Vu Sơn/ Hôm hôm sớm sớm ai tri ân?”. Tất

cả đều là tâm lý của con người, đều xuất phát từ sự thủy chung, son sắt, chứ không

phải tâm lý của lũ yêu ma. Cái hay được thể hiện ở chỗ, miêu tả một yêu quái từng

hại người nhưng động cơ rất đáng trân trọng của nữ yêu tinh khiến cho người ta

quên đi gốc gác ghê sợ ấy. Đó chính là ý đồ của tác giả.

Cũng thế, tâm trạng tuyệt vọng của Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam

Xương) khi bị Trương Sinh nghi ngờ là thất tiết, nàng đã hết lời thanh minh, dãi bày

cũng không bớt được mối hàm oan. Cuối cùng nàng đành ngậm ngùi nói những lời

đau thương về cảnh ngộ của mình: “Thiếp sở dĩ nương vào chàng vì có cái thú vui



77



nghi gia nghi thất. Đâu ngờ ân tình tựa lá, gièm bảng nên non, mây tạnh mưa tan,

sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bơng hoa rụng cuống, kêu xuân cái

én lìa đàn, nước thẳm buồn xa, đâu có thể lại lên núi vọng phu kia nữa” [7,203].

Trong tâm trạng tuyệt vọng, hạnh phúc nàng đã gìn giữ bấy lâu nay tan vỡ như

“trâm gãy bình tan - bông hoa rụng cuống”. Nàng không thể cứu vãn được nữa .

Điều đó đã dẫn nàng đi tới hành động cuối cùng giải thốt bản thân đó là: gieo mình

xuống bến Hồng Giang. Hành động của nàng cũng giống như nàng Sita trong

văn học Ấn Độ cũng hiên ngang bước lên giàn lửa hiến thân cho thần lửa Anhi

để chứng minh cho sự trong trắng của nàng khi ở cùng quỷ vương Ravana. Cái

chết dường như là sự lựa chọn cuối cùng của người phụ nữ khi bản thân họ

khơng còn sự lựa chọn nào khác. Ngồi ra còn là tâm trạng của Nhị Khanh

(Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), hai nàng

Đào, Liễu (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây).

Trong TKTP thể kỷ XVIII, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm miêu tả là tâm trạng hờn

dỗi của nàng Giáng Kiều (Bích câu kỳ ngộ) sẵn sàng bỏ về thiên đình khi khun

bảo Tú Un khơng thành. Trong những ngày xa chàng, nàng không thể dứt bỏ

được tình cảm bấy lâu hai người có với nhau nên dù ở xa nhưng Giáng Kiều vẫn

luôn dõi theo bước đi của Tú Uyên để rồi sự hối cải của chàng đã được nàng tha thứ

và trở về sống hạnh phúc bên nhau. Hay những suy nghĩ về vai trò, trách nhiệm của

nàng cung nữ Bích Châu khi khơng ngăn được nhà vua đi đánh giặc… Tất cả những

lo lắng, suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật đều cho thấy các tác giả truyền

kỳ đều rất am hiểu và có tài nắm bắt tâm lí nhân vật.

Và phải đến tác giả Vũ Trinh trong LTKVL, đời sống nội tâm nhân vật lại

được tác giả nâng lên ở một tầng cao mới. Tác giả miêu tả tâm lý nhân vật bằng

chính lời tâm sự của nhân vật và bằng cảm nhận của mình nên tâm sự ấy mang màu

sắc cá nhân, nói lên những cảnh ngộ riêng của từng nhân vật. Các nhân vật nữ trong

truyện biết chủ động tìm đến và nâng niu những giây phút ân ái, hạnh phúc hiếm

hoi trong đời. Mặc dù xuất hiện muộn hơn nhưng tác phẩm nhanh chóng để lại vị trí

trong lòng bạn đọc bởi những đoạn văn miêu tả tâm trạng nhân vật rất gần gũi, thân

quen trong cuộc sống thường nhật tiêu biểu là tâm trạng đau khổ của cơ gái trong

Chuyện tình ở Thanh Trì. Khi cơ biết cha của mình phản đối và cấm khơng cho lấy



78



anh chàng lái đò nghèo kia bởi sự khơng xứng tầm giữa hai bên. Rồi tâm trạng xót

thương cho người u “Nghe tin Sinh phẫn chí bỏ đi, khơng biết là đi đâu, trong

lòng thầm thương xót. Mỗi khi khơng có ai nàng lại nhìn bóng mình mà nuốt lệ…”

[50,73]. Và cơ đã có những hành động bỏ ăn, tương tư đến sinh bệnh khiến “vóc

dáng gầy mòn” tiều tụy đến chết.

Như vậy có thể thấy, các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đồn Thị

Điểm, Vũ Trinh có sự cách tân so với các tác phẩm khi nhà văn chú ý quan tâm tới

diễn biến tâm lý, khai thác ở chiều sâu phần “con người” bên trong của nhân vật.

Chính điều này, đã cho thấy những đổi mới về tư duy nghệ thuật của nhà văn bước

đầu thoát khỏi hệ thống nhân vật nguyên mẫu từ văn học dân gian, góp vào nền văn

học trung đại kiểu nhân vật mới - nhân vật tâm lý.

3.1.4. Ngôn ngữ nhân vật

Trong văn học “Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương diện quan

trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật” [37,214].

Với truyện truyền kỳ, ngôn ngữ nhân vật cũng là một yếu tố quan trọng được nhà

văn sử dụng và đặt nó trong mối quan hệ xung quanh giúp nhân vật dễ dàng bộc lộ

tính cách và phẩm chất của mình.

Nhân vật trong các truyện truyền kỳ thường được chia làm hai tuyến: tuyến

thứ nhất đó là những ngừơi phụ nữ theo đạo lý cương thường, tuyến thứ hai là

những người phụ nữ vượt ra khỏi đạo lý cương thường.

Việc miêu tả người phụ nữ theo chuẩn mực Nho gia, các nhà văn thường gắn

nhân vật với những diễn ngôn khảng khái, lý trí thể hiện sự phục tùng, nhu thuận

với người đàn ông và hầu như chưa phân biệt với ngôn ngữ tác giả. Còn những

người phụ nữ vượt ra khỏi đạo đức cương thường thì các tác giả gắn cho nhân vật

những diễn ngôn táo bạo, chủ động.

Theo tuyến thứ nhất trong tác phẩm của các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn

Dữ, Đồn Thị Điểm và Vũ Trinh tiêu biểu như: nàng yêu nữ Châu Mai (Chuyện yêu

nữ Châu Mai), vợ thần núi Đông Ngu (Hai gái thần), là cô gái (Chuyện chồng dê,

Chuyện lạ nhà thuyền chài) là Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu),

Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương), nàng Điểm Bích (Đền thiêng ở

cửa bể) rồi tới những cơ gái bình dân, giản dị như: Cô gái trong Tháp Báo Ân,



79



Người con gái Trinh liệt ở cổ Trâu, Chuyện tình ở Thanh Trì... Tất cả những cô gái

ấy hiện lên trên trang viết của các tác giả đều được gắn với những phát ngôn đạo

đức, thể hiện qua phẩm chất, qua cách ứng xử và hành động của họ trong mối quan

hệ với các nhân vật trong truyện. Chẳng hạn như ngôn ngữ của cô gái (Chuyện lạ

nhà thuyền chài) khi về làm dâu nàng nhà Thúc Ngư, nàng đối xử với cha mẹ chồng

rất hiếu thuận. Đức tính của nàng khiến bố mẹ chồng rất hài lòng vì có nàng dâu

thảo hiền, ngoan ngoãn và còn rất chăm chỉ làm việc. Từ khi có nàng, gia đình Thúc

Ngư khơng chỉ có của ăn, mà còn có của để dành nên gia tư ngày càng giàu có dần

lên. Phẩm chất của nàng dâu hiếu nghĩa ấy còn thể hiện qua hành động sẵn sàng xả

thân ngăn dòng nước cứu gia đình làm lộ thiên cơ nhà trời. Chỉ bằng vài lời nói của

nàng với Thúc Ngư khi biết mình sắp phải về tiên giứoi chịu khiến người đọc không

khỏi xúc động: “Thiếp vốn là nữ học sĩ ở Long Cung, cùng chàng gặp gỡ những

hẹn trăm năm. Hay đâu vạ từ ngoài đến, nếu khơng lộ bản hình, sao giữ được tính

mệnh nhà chồng?...” [34,551].

Tiếp đến TKML của Nguyễn Dữ ngôn ngữ nhân vật cũng được tác giả thể

hiện khá đậm nét và có phần sâu sắc hơn ở tác giả khác. Nếu ở TTDT, tác giả Lê

Thánh Tông bước mới đầu quan tâm tới người phụ nữ và ngôn ngữ chưa được chú ý

nhiều thì đến Nguyễn Dữ tác giả đã dành cho nhân vật nữ rất nhiều những trang văn

đối thoại, độc thoại. Qua đó, nhân vật có thể nói lên những tâm tư, khát khao thầm

kín của riêng mình. Đó là một hướng tiếp cận mới của Nguyễn Dữ khi ông đi phản

ánh trực tiếp thân phận và bi kịch của người phụ nữ điển hình như: Nhị Khanh

(Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), nàng hiện lên qua lời độc thoại được phát

ngơn trong những tình huống khác nhau. Dù trong tình huống nào, ngơn ngữ của

nàng vẫn là ngơn ngữ thiên về lý trí, thiên về thể hiện quan niệm đạo đức của Nho

giáo mà hầu như không có cảm xúc nữ tính, khơng có phần riêng tư cá thể. Khi

Trọng Quỳ buộc phải theo cha đi xa, Nhị Khanh không ngần ngại đặt chữ hiếu cao

hơn chữ tình, ngơn ngữ của nàng khi nói với chồng giống như lời giáo huấn của

Nho gia: “Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng thắn mà bị người ta ghen ghét,

khơng để ở lại nơi khu yếu. Chả lẽ để cha ba đào mn dặm, lam chướng nghìn

trùng, hiểm nghèo giữa đám kình ghê, cách trở trong vùng Lèo Mán, sớm hơm săn

sóc, khơng kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp dám đâu đem mối



80



kh tình để lỗi bề hiếu đạo…” [7,217]. Khi nói với người bõ già, lời nói của Nhị

Khanh lại càng kiên quyết thể hiện quan niệm coi trọng danh tiết đạo đức hơn sự

sống: “Ta sở dĩ nhịn nhục mà sống là vì nghĩ phùng lang hãy còn, nếu chàng khơng

còn thì ta đã liều mình chứ quyết khơng mặc áo xiêm của chồng đi làm đẹp với

người khác” [7,218]. Câu nói của Nhị Khanh khơng chỉ là lời tâm sự mà còn là lời

nguyền kiên trinh đến cùng dẫu phải đổi bằng cái chết. Trong tồn câu chuyện, dù

nói với chồng, với con hay với người bõ già, ngôn ngữ của nàng vẫn luôn là ngôn

ngữ đạo đức, ngôn ngữ chịu ảnh hưởng của khuôn phép Nho gia. Hay ngôn ngữ của

Lệ Nương trước khi tuẫn tiết bảo vệ nhân phẩm, lòng thủy chung của mình thì ngơn

ngữ cũng đầy sự khẳng khái, lý trí chứ khơng phải là ngơn ngữ của một người con gái

với những cảm xúc thường tình: “Bọn chúng ta vóc mềm tựa liễu, mệnh bạc như vơi,

nước vỡ nhà tan lưu ly đến đó. Nay nếu lại theo họ sang qua cửa ải tức là đến non

nước quê người. Chẳng thà chết rấp ở ngòi lạch, gần gũi q hương, còn hơn là sang

làm những cái cơ hồn ở bên đất bắc” [7,254]. Rồi ngay cả khi thành hồn ma nói

chuyện với Phật Sinh thì lời nói của nàng vẫn đoan trang, khn phép.

Đó còn là ngơn ngữ đối thoại đầy lòng vị tha, đức hi sinh của nàng Điểm

Bích với nhà vua khi nàng tình nguyện liều mình nhẩy xuống biển, hiến thân cho

Đơ đốc Nam Hải để cứu vua và tồn bộ binh lính (Đền thiêng ở cửa bể), rồi tới

người con gái (Tháp Báo Ân) với ngơn ngữ đối thoại, nàng hiện về nói chuyện và

xin quan nâng đỡ bài thi còn non yếu của chồng mình… Tất cả đủ để thấy, các nhân

vật nữ dù trong hồn cảnh nào cũng ln tốt lên vẻ đẹp nhân cách cao thượng, giàu

lòng hi sinh vì người khác.

Ở tuyến thứ hai là những người phụ nữ dám mạnh dạn vượt ra khỏi khuôn

khổ của đạo đức Nho gia tiêu biểu như Nhị Khanh, Đào Hàn Than, cô gái trong

Tháp Báo Ân, Liễu Hạnh... Nhị Khanh (Chuyện cây gạo) là người phụ nữ hội tụ đẩy

đủ những phẩm chất mạnh mẽ, táo bạo, chủ động, vượt qua lễ giáo phong kiến.

Trong tình yêu nàng dám chủ động “mở đường” gợi ý cho Trung Ngộ về thời gian,

địa điểm hẹn và mạnh dạn bày tỏ: “Thiếp đã từng nhiều lần được chàng đối hồi

tới, ơn ấy thật vẫn ghi lòng. Chỉ vì đường sá vội vàng, khơng tiện bày tỏ chung

khúc” [7,230]. Táo bạo hơn nữa nàng còn đưa ra cả những triết lý về sự sống và

tình u hết sức phóng khống và cởi mở, thể hiện thái độ trân trọng hạnh phúc trần



81



thế qua lời thoại với Trung Ngộ trong buổi đầu hò hẹn: “Nghĩ đời người ta, thật

chẳng khác gì giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm lấy thú vui.

Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc

ái ân, cũng khơng được nữa” [7,232]. Tìm thú vui say trước mắt, hưởng hạnh phúc

ái ân cho khỏi phí tuổi xuân xanh sắc là triết lý, cũng là niềm say mê và tâm nguyện

của nàng. Quan niệm của nàng về sự sống và cái chết thật khác với quan niệm sống

tu thân khắc kỷ để khi chết đi vẫn còn tiếng thơm của Nho gia mà các cô gái theo

chuẩn mực đạo đức vẫn tôn thờ.

Đặc biệt hơn bằng ngôn ngữ, Nhị Khanh còn chủ động đặt ra vấn đề hưởng

hạnh phúc ái ân, chủ động làm thơ từ ghi lại cuộc hoan lạc giữa nàng và Trung Ngộ.

Lời nói của nàng táo bạo đến mức sỗ sàng và quả thực xa lạ với ngôn ngữ của

những người phụ nữ tiết hạnh theo chuẩn Nho giáo, xa lạ với bối cảnh văn hóa của

thời đại: “Thân tàn một mảnh, cách với cái chết chẳng bao xa. Ngày tháng quạnh

hiu, khơng người săn sóc. Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả

khí nóng tới mầm khơ, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi

chút, đời sống của thiếp sẽ khơng phải phàn nàn gì nữa” [7,231].

Trong quan niệm Nho giáo, người phụ nữ khơng có quyền đặt ra vấn đề tình

dục, khơng được nói đến vấn đề tình dục. Vậy mà Nhị Khanh lại táo bạo nói ra

những điều mà Nho giáo cấm kỵ. Phải chăng, Nguyễn Dữ đã mượn lời hồn ma để

nói lên những tư tưởng mới về con người tự nhiên, thể hiện tư tưởng tự do của thời

đại ơng?. Đó chính là tinh thần nhân đạo mà tác giả Nguyễn Dữ thể hiện trong tác

phẩm của mình. Hay ở Đào Nương và Nhu Nương (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây)

ngôn ngữ của hai nàng cũng rất chủ động, táo bạo. Ngay từ buổi đầu hò hẹn,

hai nàng đã nói bóng gió đến vấn đề tình dục, dám gợi tình cho Hà Nhân và chủ

động nói lên những triết lý hưởng thụ bằng câu nói đầy hàm ý: “ Từ ngày Thái

sư qua đời, chúng em vẫn phòng thu khóa kín. Nay gặp tiết xuân tươi đẹp,

chúng em muốn làm những bông hoa hướng dương, để khỏi hồi phí mất xn

quang” [7,250]. Khi Hà Nhân lả lơi cợt ghẹo, hai nàng cũng đáp lại bằng ngôn

ngữ tuy hàm ẩn nhưng chứa đựng màu sắc nhục dục: “Chúng em việc xuân

chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉ e mưa gió nặng nề, hoặc khơng kham nổi

cho những tấm thân hoa mềm yếu” [7,251].



82



Ngôn ngữ của Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị) cũng là

ngôn ngữ đầy táo bạo. Nàng không chỉ dám thách thức cậu học trò về tài làm thơ

với câu nói rất tự tin, coi thường nam giới: “Anh bé con này cũng làm được thơ à?

Vậy thử làm cho tơi xem nào” [7,280]. Mà còn dám đối đáp trực tiếp với vua bằng

bài thơ có ẩn tên mình: “Hàn Than ngư đớp nguyệt/ Cổ lũy nhạn minh sương”

( Bến lạnh cá đớp nguyệt/ Lũy cổ nhạn kêu sương). Thậm chí khi chết đi, Hàn Than

còn dám thẳng thắn đặt ra vấn đề tự do yêu đương, khát vọng được trả thù đời dù có

phải đổi lấy cái chết qua chi tiết nàng hiện về nói với Vơ Kỷ: “…đài dao mệnh đứt,

đến nỗi chia bầy, sống còn chưa thỏa nguyện yêu đương, chết sẽ cùng nhau quấn

quýt. Mong chàng hiểu câu kệ lục, bỏ cõi tứ đại tạm rời cảnh Phật, về chốn suối

vàng, để thiếp được ngửa nhờ Phật lực, thác hóa đầu thai, để trả cho xong cái nợ

oan gia ngày trước” [7,290]. Rồi tới nàng Liễu Hạnh (Vân Cát nữ thần), nàng chủ

động đề nghị Đào Sinh ở lại và đề nghị cuộc hôn nhân không cần phải có sự chứng

kiến của cha mẹ. Táo bạo, phóng khống hơn nữa là cơ gái (Tháp Báo Ân), cô sẵn

sàng chủ động dâng hiến trinh tiết cho người đàn ơng qua đường mà cơ đem lòng

u thương. Hành động của cô gái đã tiến xa hơn những nhân vật nữ trước đó, vượt

qua ngưỡng cửa Nho giáo chủ động u và dám u hết mình.

Tóm lại, nếu trong văn học trung đại nói chung, ngơn ngữ nhân vật thường bị

lẫn với ngơn ngữ tác giả thì ngơn ngữ của những nhân vật nữ “lệch chuẩn” trong

TKML, TKTP, LTKVL bước đầu đã có cá tính riêng. Ngơn ngữ của họ là thứ ngơn

ngữ mang tính chất táo bạo, chủ động, ranh mãnh và vượt ngồi khn phép Nho

gia. Qua đó cũng chứng tỏ ở họ bản lĩnh dám yêu, dám sống và biết trân trọng, nâng

niu hạnh phúc vốn có ở thực tại.

3.2. Nghệ thuật kể chuyện

Mỗi tác phẩm văn học là một thông điệp nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi tới

bạn đọc. Nhà văn là chủ thể sáng tạo của hoạt động nghệ thuật. Họ luôn chọn cho

mình cách sáng tạo riêng bằng những phương thức, cách thức kể chuyện khác nhau.

Các cách thức, phương thức ấy được gọi chung là nghệ thuật kể chuyện. Và ở trong

nghệ thuật kể chuyện, các tác giả lại chọn cho mình một điểm nhìn riêng gọi là

điểm nhìn trần thuật.



83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×