Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sang đến thế kỷ XVI với tập truyện TKML, tác giả Nguyễn Dữ đã đưa con

người đặc biệt là người phụ nữ trở thành nhân vật chính, trung tâm của tác phẩm. Ở

đó những tâm tư tình cảm, khao khát thầm kín cùng những bi kịch và số phận người

phụ nữ được tác giả phản ánh vào trang văn một cách đầy đủ, phong phú. Đối tượng

phản ánh và phạm vi phản ánh cũng theo đó được mở rộng hơn, từ tầng lớp nghèo

khổ đến tầng lớp thượng lưu, gồm cả người bình dân đến cả thần tiên, ma quái. Tất

cả đã làm cho bức tranh hiện thực dưới ngòi bút Nguyễn Dữ trở nên sinh động

hơn bao giờ hết.

Tiếp đến thế kỷ XVIII, truyện truyền kỳ vẫn dựa trên nền tảng của giai

đoạn trước lấy con người là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Các tác giả Vũ

Trinh, Đồn Thị Điểm bằng sự cách tân của mình và ảnh hưởng trước yêu cầu

của thời đại truyện truyền kỳ mang nét mới mẻ hơn ở chỗ phản ánh những điều

tai nghe, mắt thấy. Các nhân vật chủ yếu là những người bình dân giản dị, đời

thường, yếu tố kỳ ảo tuy xuất hiện nhưng chỉ làm nền để tôn cái thực thêm thực

hơn, gần gũi hơn… Do vậy có thể nói, khi lấy con người làm đối tượng và

trung tâm phản ánh của nghệ thuật: Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Đoàn Thị

Điểm hay Vũ Trinh đều phát hiện ra sức mạnh của con người và bày tỏ tấm lòng

cảm thơng, thương xót cho số phận của họ.

Tuy nhiên, khi khẳng định con người mỗi tác giả lại có những cách đánh giá

khác nhau. Lê Thánh Tông đi sâu vào khẳng định quyền uy của con người và chú ý

đến cái bí ẩn kỳ lạ trong cuộc đời nhân vật hơn cái bản thân gọi là “con người” bên

trong họ. Do đó, nhân vật của ơng thường mang dáng dấp của thánh thần hoặc siêu

nhân. Còn Nguyễn Dữ với TKML, tác giả đi sâu phản ánh con người đời thường,

trần thế qua thế giới nhân vật đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội.

Và chính sự đa dạng, phong phú trong việc xây dựng nhân vật Nguyễn Dữ đã đem

đến cho truyện truyền kỳ Việt Nam điều mới mẻ ở việc phát hiện chất đời thường,

trần thế trong con người trên những phương diện: khát vọng tình u đơi lứa, khát

vọng hạnh phúc gia đình, khát vọng giải phóng tình cảm bản năng tự nhiên và bi

kịch của con người trên con đường tìm kiếm hạnh phúc - điều mà TTDT chưa đề

cập đến. Vấn đề này càng được các tác giả truyền kỳ giai đoạn sau như Đoàn Thị

Điểm, Vũ Trinh phản ánh sâu hơn qua những điều trông thấy hàng ngày, hàng giờ



30



của những con người bình dị, chân chất mà khơng cần phải dùng tới “ đôi cánh

truyền kỳ để nâng đỡ” như ở các tác phẩm trước đó cụ thể: Với TKTP của nữ sĩ

Đồn Thị Điểm, chúng ta thấy nhân vật chính trong tập truyện hầu như là những

con người phàm tục có thật trong lịch sử. Tác giả viết về họ dưới góc nhìn của một

người cùng giới nên nhân vật nữ phần lớn được khắc họa sâu sắc ở diễn biến tâm lý,

nội tâm nhân vật và qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong tác phẩm. Điều này lý

giải do cùng là nhân vật nữ nên ngòi bút nhà văn khi viết về họ sẽ thấu hiểu và dễ

cảm thông hơn các tác giả trước là nam giới. Và theo lẽ đó, cả bốn tác phẩm của nữ

sĩ đều viết về nhân vật nữ và tác giả đã đề cao vai trò, vị trí của người phụ nữ, ca

ngợi họ như những thánh nữ của thời đại và hạ thấp vai trò của nam giới. Đây cũng

chính là quan niệm mới mẻ, cách tân của tác giả khi nhìn nhận, đánh giá về con

người nhất là người phụ nữ - nhân vật mà nữ sĩ dành nhiều sự quan tâm nhất.

Tiếp đến tác giả Vũ Trinh trong LTKVL, cùng nhìn và hướng về nhân vật

người phụ nữ nhưng khơng giống các tác giả đi trước, Vũ Trinh chọn cho mình một

hướng đi riêng. Tác giả khơng nhằm hướng tới ca ngợi nhân vật là liệt nữ hay thánh

nữ mà đi đến nhìn nhận họ là những con người bình dị của cuộc sống đời thường.

Tác giả đi quan tâm tới mọi đối tượng thuộc mọi tầng lớp, kể cả tầng lớp thấp hèn

như con hát, ca nhi, kỹ nữ trong xã hội đó cũng được tác giả nâng niu, trân trọng,

ngợi ca và hết lòng bảo vệ, bênh vực. Đọc truyện của Vũ Trinh người đọc có cảm

giác đó là những câu chuyện vẫn thường thấy đâu đây quanh cuộc sống. Nhân vật

của ơng cũng gần gũi như chính những nhân vật của cuộc đời thực đang diễn ra

hàng ngày.

Bằng sự cách tân hướng tới những con người bình dị, gần gũi, mộc mạc Vũ

Trinh đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ. Qua những con người bình

dị, đời thường tác giả còn phê phán tục phân biệt đẳng cấp trong xã hội thời bấy giờ

và chỉ ra người phụ nữ chính là nạn nhân của chế độ nam quyền, phải chịu mọi cay

đắng tủi nhục. Không chỉ đưa ra quan niệm mới về con người mà ngay cả trong tình

yêu nhà văn cũng thể hiện cái nhìn phóng khống: để nhân vật chủ động tìm đến với

tình u, hạnh phúc của mình chứ khơng đặt nhân vật vào vòng cương tỏa của Nho

giáo. Nhưng cũng khơng vì thế mà tác giả để cho nhân vật q dễ dãi trong tình

u, ơng cũng rất coi trọng chữ trinh nơi người phụ nữ. Do vậy, nhân vật của ơng dù



31



cởi mở tự do trong tình u nhưng họ vẫn ln biết giữ mình và chung thủy với

người mình u đến cùng. Đó chính là điểm mới mà tác giả Vũ Trinh hơn hẳn các

tác giả đi trước khi nhìn nhận và đưa ra quan niệm mới mẻ này.

Như vậy, với những điều khái quát đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn chỉ ra

ở các tác giả truyền kỳ qua mỗi giai đoạn phát triển và biến đổi liên tục đều có

những cái nhìn nhận, đánh giá, quan niệm và hướng viết khác nhau chứ không dập

khuôn máy móc khi xây dựng hình tượng người phụ nữ. Và ở mỗi giai đoạn lại có

những dấu ấn riêng và ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn. Con người nhất là người

phụ nữ được quan tâm không chỉ qua số phận, bi kịch mà cả những tâm tư, tình

cảm, những day dứt trăn trở, những khát khao thầm kín được phản ánh vào văn học

ở các giai đoạn về sau. Đó chính là sự vận động trong quan niệm người phụ nữ ở

các tác giả mà chúng tôi nghiên cứu.

2.2. Sự vận động trong bản thân hình tượng người phụ nữ qua từng

tập truyện

2.2.1. Điểm tương đồng

Truyện truyền kỳ ngay từ khi ra đời và phát triển, luôn đi theo vòng quỹ đạo

vận động liên tục. Do vậy, thể truyền kỳ qua các giai đoạn văn học đã cho thấy rất

rõ những cách tân mới mẻ của các tác giả không chỉ ở nghệ thuật biểu hiện mà trên

cả phương diện nội dung cũng thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá, phản ánh con

người rất khác nhau. Và để chứng minh cho điều đó, chúng tơi triển khai vấn đề dựa

trên điểm tương đồng của hình tượng nhân vật nữ với các biểu hiện:

a. Nhân vật người phụ nữ theo đạo lý cương thường

- Nhân vật người phụ nữ thủy chung, một lòng hướng về chồng

Từ bao đời nay, người phụ nữ vẫn ln trở thành một hình tượng đẹp, một bông

hoa bất tử trong tâm thức người Việt. Điều đó được thể hiện rất rõ trong văn học trong đó

có truyện truyền kỳ.

Trong TTDT có tất cả 19 truyện thì 7 truyện tác giả dành cho đối tượng

người phụ nữ. Tuy số lượng không nhiều nhưng cũng phần nào thể hiện được số

phận của người phụ nữ trong một thời kỳ lịch sử xã hội thịnh trị. Viết về người phụ

nữ, Lê Thánh Tông phát hiện và ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ nhất là tình yêu

thủy chung. Thủy chung biểu hiện qua sự chờ đợi. Điển hình là các nhân vật nữ



32



trong Chuyện yêu nữ Châu Mai, Hai gái thần và truyện Duyên lạ nước hoa. Ở

Chuyện yêu nữ Châu Mai kể về một nữ yêu tinh xinh đẹp tên là Ngư Nương đã thủy

chung chờ đợi chồng. Bằng phép thuật tinh thơng của mình nàng đã biến hóa kỳ ảo,

lúc biến thành cơ gái xinh đẹp, có lúc lại nhẹ như Triệu Phi Yến, lúc béo tốt như

Dương Quý Phi nhưng không phải để đi mê hoặc hay dụ dỗ người đời mà để chờ

đợi tìm lại người chồng xưa. Yêu nữ ẩn náu trong nhà hát, mong dùng tiếng hát của

mình để làm tín hiệu giúp chồng nhận ra. Mặc cho sự giàu sang quyền quý của

khách làng chơi, nàng bỏ ngoài tai những lời dụ dỗ ngon ngọt hay dọa dẫm của chủ

nhà hát, người phụ nữ ấy vẫn chung trinh một chờ đợi chồng

Cũng giống như yêu nữ Châu Mai, vợ thần núi Đơng Ngu khơng quản ngại

gian khổ đi tìm người chồng yêu dấu năm xưa của mình nay lạc xuống chốn dương

gian trong truyện Hai gái thần. Trong câu chuyện, sự xuất hiện của nàng được miêu

tả đó là một cô gái trẻ “đương tuổi cập kê, mặt hoa da tuyết”. Vẻ đẹp ấy khiến cho

“nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ tưởng. Nhưng hễ kẻ nào manh tâm trêu

ghẹo, thì tự nhiên rối trí nhức đầu” [34,37] nên khơng ai dám đến gần. Đó là ý thức

bảo vệ nhân phẩm của người phụ nữ có nhân cách cao đẹp, một lòng thủy chung với

người chồng, dù hai người đang bị thất lạc khá lâu.

Sống những năm tháng xa chồng, giữa bao nhiêu lời ong bướm cợt trêu

kia, nhưng nàng vẫn “quyết tâm rẽ đường đi tìm người tơi u” đến cuối cuộc

đời chứ khơng thay lòng đổi dạ. Dẫu biết con đường phía trước là mịt mù, vơ

định nhưng với tình u thủy chung và niềm tin vững chắc nàng khơng quản

ngại khó khăn, gian khổ đi tìm chồng khắp chốn đã làm cho biết bao trái tim bạn

đọc phải cảm phục, ngưỡng mộ.

Tới cả nàng Mộng Trang - cơng chúa Bướm, một lòng thủy chung chờ đợi

chồng trong truyện Duyên lạ nước hoa. Trải qua bao cảnh biệt ly với bao gian nan,

thử thách. Cuối cùng vợ chồng cũng được đoàn tụ hạnh phúc. Chồng nàng sau khi

hiển vinh trở thành “Bình Man đại tướng quân” đã không quên người vợ thủa hàn

vi, sẵn sàng từ quan chết theo vợ để được cùng nhau sống ở một thế giới khác.

Qua đây, ta thấy rằng một nữ chúa Bướm, một yêu nữ Châu Mai hay vợ thần

Đông Ngu, mỗi người tuy có một số phận khác nhau nhưng với lòng thủy chung son

sắt nên cuối cùng họ vẫn được hạnh phúc bên nhau. Đồng thời, tác giả Lê Thánh



33



Tông khi phác họa nên những nhân vật của mình đều có dụng ý xây dựng và thể

hiện ở đó những con người lí tưởng, những con người là hiện thân cho mẫu hình

của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Họ khơng chỉ đẹp ở vẻ ngồi đơn sơ mộc

mạc, mà họ còn tốt lên vẻ đẹp nội tâm sáng ngời phẩm hạnh tiết nghĩa.

Tiếp đến TKML của tác giả Nguyễn Dữ, những phẩm chất đẹp đẽ của người

phụ nữ cũng được tác giả kế thừa và phát triển thông qua các nhân vật trong truyện .

Tiêu biểu là nàng Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương “tính tình thùy mị,

nết na lại có thêm tư dung tốt đẹp”. Nàng là một cơ gái hồn hảo của làng quê, một

bông hoa đầy sức hấp dẫn của vườn biếc. Chính vì nàng có nhiều ưu điểm như vậy,

nên “Trương Sinh đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Về nhà chồng, Vũ

Nương cư xử rất hiếu thuận với mọi người, coi bố mẹ chồng như bố mẹ đẻ của

mình. Phẩm chất của nàng còn được thể hiện rõ hơn khi chồng đi chinh chiến nơi

xa. Chồng ra đi nàng nhắn nhủ bằng những lời chân thành, tình nghĩa: “Lang quân

đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu trở về quê cũ, chỉ xin

ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi…” [7,201]. Những ngày xa

chồng, sống trong nỗi buồn, nỗi nhớ nhung mòn mỏi nhưng nàng luôn là một người mẹ

hiền, một nàng dâu thảo và một người vợ thủy chung: “Cách biệt ba năm giữ gìn một

tiết, tơ son điểm phấn từng đã ngi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”

[7,385]. Hay là nàng Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu cũng là

một người vợ thủy chung, tiết hạnh. Trong những ngày chồng đi chiến trận trước lời

khuyên nhủ của bà cơ Lưu thị và trước những lời “trăng gió cợt trêu” của người ngồi

nàng “thà liều mình chứ quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp lòng

người khác…” [7,218]. Phẩm chất thủy chung của nàng với người chồng là trước sau

như một, khơng gì thay đổi.

Nếu như ở tác giả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ phác họa chân dung nhân

vật vẫn còn trộn lẫn chất thần thì đến Đồn Thị Điểm chân dung nhân vật của bà

hầu như là những người phàm tục có thật trong lịch sử và được lý tưởng hóa thơng

qua bút pháp kỳ ảo. Nhân vật Đinh phu nhân trong Người liệt nữ ở An Ấp - là nhân

vật có thực trong lịch sử - vợ của tiến sĩ trẻ Đinh Nho Hoàn đã tự vẫn theo chồng

khi nghe tin chồng chết trên đường đi sứ. Phẩm chất thủy chung của nàng thể hiện

rất rõ ở hành động: sống thì mong sánh vai cùng nhau, chết nguyện đi theo để thỏa



34



nỗi nhớ thương vợ chồng có nhau khơng chia cắt. Hành động thủy chung của nàng

cũng chẳng khác gì các cơ gái trong TTDT hay TKML. Ở phương diện nào đi nữa,

họ vẫn luôn tỏa sáng phẩm chất, nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Á Đông rất

thủy chung son sắt với đức lang qn của mình. Chính vì vậy, các cô gái hiện lên

trên trang viết của các tác giả khơng chỉ là người phụ nữ có vẻ đẹp “quốc sắc thiên

hương” mà ở họ còn hội tụ đầy đủ những phẩm chất “công - dung - ngôn - hạnh”

của người phụ nữ truyền thống, đặc biệt là tấm lòng thủy chung son sắt một lòng

hướng về người chồng.

Những người phụ nữ đó khơng chỉ sống đúng mực theo những quy định đạo

đức Nho giáo mà họ còn một lòng theo chồng, thủ tiết với chồng ngay cả khi chưa

được kết nghĩa trăm năm như trong LTKVL của tác giả Vũ Trinh. Cơ gái trong Ca

kỹ họ Nguyễn, vì xuất thân là ca kỹ nên gia đình chàng phản đối, ngăn cấm nhưng

người con gái ấy vẫn sẵn sàng hi sinh vì người mình yêu, hi sinh ngay cả khi chàng

trai phụ bạc tấm chân tình, cưới người con gái khác làm vợ thì cơ vẫn: “Tiền trình

của chàng còn xa mn dặm, thiếp hèn hạ khơng xứng hầu hạ khăn lược cho

chàng. Đó là số phận của thiếp” [50,69]. Hay người con gái trong Chuyện tình ở

Thanh Trì cũng vì mối tình sâu nặng với chàng lái đò nghèo mà một lòng thủy

chung sắt son, ơm trọn tấm chân tình đến héo mòn. Tấm lòng thủy chung của nàng

đã hóa thành khối đá in bóng hình chàng trai và hình ảnh con đò trong trái tim chỉ

đến khi có giọt nước mắt của chàng lái đò nhỏ xuống khối đá ấy mới tan chảy được.

Lòng thủy chung của nhân vật nữ trong truyện, không không chỉ dừng lại ở

một lòng hướng về đối phương mà ngay cả hành động thủ tiết theo chồng hay ở vậy

thờ chồng cũng là một cách thể hiện cho phảm chất thủy chung ấy. Đó là Người con

gái trinh liệt ở Cổ Trâu khi chồng mất, người vợ mới 20 tuổi nhưng nàng đã tự tử theo

chồng. Hay Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Thất đã ở vậy không tái giá để giữ trọn

mối tình thủy chung với người chồng. Những người phụ nữ này khi có chồng đều trao

gửi hết tâm tình và tấm lòng cho nhà chồng. Họ là những người bình thường, họ có

một cuộc sống bình dị nhưng họ đã làm được những điều phi thường mà người người

ngưỡng mộ.

Tóm lại, ở các tác giả Lê Thánh Tơng, Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm và Vũ

Trinh qua một vài nhân vật nữ tiêu biểu đã cho thấy ở các tác giả khi tiếp cận và



35



phản ánh về nhân vật nữ có sự khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất khi đưa ra

cách nhìn nhận, đánh giá về người phụ nữ. Đó là những người phụ nữ thủy chung,

son sắt trong tình u.

- Người phụ nữ ln có ý thức giữ gìn phẩm tiết

Trong xã hội xưa kia, người phụ nữ luôn sống và chịu sự chi phối của Nho

giáo nên những người phụ nữ bị mất trinh tiết hoặc chưa chồng mà chửa đều là điều

cấm kỵ, sẽ bị xử phạt bằng cách đuổi khỏi làng hoặc cạo đầu bôi vôi, thả trôi sông

không thương tiếc. Quan điểm Nho giáo cho rằng những người phụ nữ “lệch chuẩn” ấy

sẽ mang lại xui xẻo cho dân làng, dòng tộc và gia đình. Do vậy, phẩm tiết là yếu tố vô

cùng quan trọng, là thước đo nhân cách của người phụ nữ. Người phụ nữ một khi đã bị

thất tiết thì nghĩa là phẩm hạnh, nhân cách cũng bị hoen ố theo. Và để đánh giá nhân

cách của người phụ nữ trước hết người xưa nhìn vào họ có phải là người phụ nữ trinh

tiết hay không.

Các tác giả truyền kỳ cũng hết sức coi trọng chữ trinh nơi người phụ nữ. Bởi

đó là một trong những yếu tố quan trọng để xã hội phong kiến đánh giá nhân cách

của họ. Chẳng thế mà nàng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của

Nguyễn Dữ chỉ vì cái bóng, nàng đã nói dối con trẻ là cha nó mà vơ tình Trương

Sinh nghi nàng là thất tiết, là hư hỏng rồi đánh và đuổi nàng đi. Và cũng vì chữ

trinh chung thủy“gái chính chuyên chỉ lấy một chồng” mà cô gái trong truyện Tinh

chuột của Lê Thánh Tông bị con yêu chuột giả danh người chồng đêm đêm lẻn vào

phòng tình tứ, người chồng khơng hiểu cũng nghĩ nàng thất tiết, phản bội… Song

cái án oan ấy không phải cơ gái nào cũng đòi lại cơng bằng giống như cô gái trong

truyện Tinh chuột được trở về trong sự chào đón của gia đình, người thân mà bên

cạnh đó còn có những người như nàng Vũ Thị Thiết phải lấy cái chết đầy bi thảm

của mình để minh oan cho tấm lòng trung trinh sáng ngời “hướng về chồng một

phương” thuở ấy.

Đặc biệt là người ln có thái độ xem trọng phụ nữ và ca ngợi những phẩm

chất tốt đẹp của họ, tác giả Vũ Trinh khi khác họa về những người phụ nữ thủy chung,

tiết liệt, ông luôn gắn họ với quan niệm về chữ “trinh” rất tiến bộ. Những câu chuyện

tình u của ơng khơng mang màu sắc nhục cảm mà chỉ đầy ân tình, hào khí mà trong

truyện TKML của Nguyễn Dữ ta không thấy được. Có thể thấy rằng người phụ nữ



36



trong sáng tác của ông không có bóng dáng của người phụ nữ “lệch chuẩn” như trong

truyện của Nguyễn Dữ mà chủ yếu là những nhân vật sống theo đạo lý luân thường,

giữ gìn trinh tiết phẩm hạnh với người mình yêu trước sau như một. Đó là cơ ca kỹ

trong Ca kỹ họ Nguyễn, cô gái ấy đã yêu chàng nho sinh bằng một tình yêu cao thượng,

sẵn sàng hi sinh vì người mình u. Tấm chân tình của cơ khiến cho người đọc có thể

vứt bỏ hồn tồn cái nhìn kỳ thị đối với thân phận con hát trong xã hội bấy giờ để thay

vào đó bằng lòng ngưỡng mộ, cảm phục đối với cơ gái. Nhưng khơng phải vì u say

đắm mà có thể dễ dàng hiến dâng tất cả, cơ đã có hành động ứng xử rất nghiêm nghị,

chuẩn mực khi Vũ Khâm Lân có ý lả lơi: “Nếu thiếp dâm đãng thì thiếu gì bọn đàn

ơng?” [50,62]. Ngồi ra còn có cơ gái trong truyện Người đàn bà trinh tiết ở Thạch

Hán, Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu cũng cũng thể hiện việc giữ gìn phẩm tiết qua

hành động thủ tiết thờ chồng không đi thêm bước nữa khi chồng qua đời.

- Người mẹ yêu thương con vô bờ bến

Người phụ nữ trong truyện truyền kỳ hiện lên khơng chỉ đẹp trong tình

u,khơng chỉ đẹp trong tình thân cha mẹ, làng xóm mà hơn hết họ đẹp trong tình mẫu

tử thiêng liêng.

Trong TTDT ta bắt gặp hình ảnh người mẹ già 36 năm trời tựa cửa chờ con

trai đi báo thù cho cha trong Hai gái thần của Lê Thánh Tông, khiến cho chúng ta

cảm phục trước tình mẫu tử ln hướng về đứa con thân u cho dù người con

khơng còn ở cạnh mình. Đó còn là hình ảnh người mẹ trong Chuyện người con gái

Nam Xương của Nguyễn Dữ, nàng Vũ Nương vì thương yêu con, xót cho con sinh

ra khơng biết mặt người cha và muốn hình thành cho con khái niệm về tình phụ tử

thiêng liêng trong tâm thức đứa bé mà vô tình nàng đã qn rằng người chồng ấy có

tính hay ghen nên đã thản nhiên chỉ vào bóng mình hàng đêm để nói với con đó là

cha bé. Và chính sự vơ tình ấy, đã tạo nên nguồn cơn cho nỗi oan khiên của cuộc

đời nàng sau này. Nhưng suy cho cùng hành động đó cũng chỉ vì lòng thương con

và thủy chung hướng về chồng yêu thương.

Hay nhân vật Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, nàng

cũng là một người từ mẫu hết mực yêu thương các con. Chi tiết nàng đứt từng khúc

ruột khi bộc bạch với con bằng những lời lẽ nghẹn ngào: “Cha con bạc tình, mẹ đau

buồn lắm, biệt ly là chuyện thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì.



37



Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thơi” [7,223] đã nói rõ tấm lòng bao la, vĩ

đại của người mẹ lúc nào cũng nghĩ và thương các con vô bờ bến. Bởi thế, mà ngay

cả khi chết đi rồi, đã hóa thành tiên nhưng vì thương con, vì vương vấn chữ tình mà

nàng hiện về bảo chồng khuyên hai con bền chí đi theo vị chân nhân họ Lê thì nàng

chết cũng cam lòng.

Sang thế kỷ XVIII với tác phẩm TKTP của Đoàn Thị Điểm và LTKVL của

Vũ Trinh thì tình mẫu tử thiêng liêng ấy lại được các tác giả đi sâu hơn nữa và

hướng về những con người trần thế có thật ngồi đời. Với Đồn Thị Điểm, có thể

thấy đây là một tác giả nữ đầu tiên của văn học truyền kỳ Việt Nam, dám lên tiếng

bênh vực cho số phận người cùng giới với mình dưới chế độ phong kiến vẫn còn

đang ngự trị, quả không phải là một chuyện dễ dàng nhưng với bản lĩnh táo bạo và

tài năng xuất chúng bà đã làm được điều đó. Các nhân vật nữ của nữ sĩ hiện lên là

những con người có thực ở đời và được nữ sĩ tô vẽ bằng bút pháp thần kỳ, lý tưởng

hóa như Thánh nữ. Song tất cả họ đều là những nhân vật biểu tượng cho người phụ

nữ Việt Nam: trung hậu - tiết liệt - đảm đang muôn đời nay. Và ngay cả trên phương

diện là người mẹ thì các nhân vật của nữ sĩ cũng ln tỏa sáng. Đó là nàng Liễu

Hạnh trong Nữ thần ở Vân Cát, dù đã thoát tục sang cõi tiên nhưng tiên chúa vẫn

một lòng lo cho con, khuyên chồng cáo quan về làng, không lấy vợ, chỉ chăm lo

việc dạy con. Tình mẹ dành cho con khơng chỉ là sự trải lòng khi người mẹ đang có

mặt trên thế gian mà ngay cả khi người mẹ ấy khơng còn trên cõi trần thì tình yêu

ấy vẫn theo con trên mọi nẻo đường. Hay đó còn là người mẹ sẵn sàng hi sinh tuổi

xn son trẻ của mình, để ni dạy con thơ khi chồng đã mất trong Liên Hồ Quận

công của tác giả Vũ Trinh. Là người mẹ sẵn sàng bước dậy khi đã về thế giới bên

kia để đi tìm kiếm thức ăn ni con, giành lại sự sống cho con trong Đẻ lạ. Truyện

khơng chỉ thể hiện lòng cao cả và sự ngưỡng mộ của người mẹ luôn che chở, bảo vệ

cho con mà ngay cả khi chết đi rồi người mẹ ấy vẫn cố gắng hiển linh để đi mua đồ

ăn chăm sóc, giành lấy sự sống cho đứa trẻ khỏi lưỡi hái tử thần là điều khơng gì có

thể so sánh được.

- Giúp chồng xây dựng nghiệp lớn

Ngồi thể hiện vai trò, vị trí trong gia đình như đã nói ở trên người phụ nữ

còn giúp chồng yên tâm tề gia trị quốc, xây dựng nghiệp lớn. Đó là nàng Mộng



38



Trang truyện Duyên lạ nước hoa, chi tiết kể việc Chu Sinh khi nghe Quốc mẫu nói

chàng phải tạm thời chia li vợ con một thời gian vì việc nước đang bị qn Ơ Thước

giày xéo, Chu sinh đã vội vàng chạy thẳng đến phòng vợ mà khóc lóc thảm thiết rồi

ngất đi, Mộng Trang đã trấn an tinh thần chồng bằng câu nói: “Trước tạm tạm chia,

sau lại hợp, đó là lẽ thường trong đời”. Và chi tiết Mộng Trang dự đoán được việc

binh đao sẽ xảy ra ở dương gian nên khi chia tay đã gửi tặng cho chồng bài thơ,

trong đó nàng đã nói rất rõ cách đánh giặc theo hướng nào sẽ chiến thắng được kẻ

thù mà kế sách vẫn vẹn toàn… Như thế để thấy được, ở người phụ nữ không chỉ có

tấm lòng chung trinh, thủy chung son sắc trong tình u mà vai trò của họ cũng

khơng kém phần quan trọng trong gia đình và xã hội.

Tóm lại, vai trò của người phụ nữ quả thật là rất nhiều, rất đáng trân trọng và

ngợi ca. Thế nên, với một cái nhìn mới mẻ và trái tim nhân đạo cao cả Lê Thánh

Tông đã phát hiện và khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ quan trọng ở chính

ngay trong xã hội mà Nho giáo đang trị vì rất nghiêm ngặt.

Trong Bích Câu kỳ ngộ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, nàng Giáng Kiều cũng

được tác giả miêu tả là một người phụ nữ có trách nhiệm và có bản lĩnh, mặc dù là

một tiên nữ nhưng nàng ln có ý thức về một cuộc sống thực tại nơi trần thế: Vốn là

một tiên nữ ở Nam Nhạc, Tú Uyên sau khi gặp nàng ở chùa Ngọc Hồ thì “ln ln

tưởng nhớ” đến khi lấy được người trong tranh, cuộc đời Tú Uyên dường như được

sang trang. Nhưng rồi Tú Uyên quen thói rượu chè, trong cơn say lỡ đuổi đánh Giáng

Kiều khiến nàng bỏ đi, đến khi tỉnh ra thì hối hận cũng khơng kịp nữa: “Chàng lúc ấy

như hồn lìa khỏi xác, rời rã chân tay”, “nước mắt như mưa, mấy lần chết đi sống lại,

bỏ ăn bỏ ngủ đến một tháng” dần thành bệnh, bèn quyết lòng “Ninh cam tử tương

kiến, Bất nhẫn sinh biệt ly” (Thà rằng chết gặp mặt, Còn hơn sống biệt ly). Chính

Giáng Kiều đã cứu Tú Un, sau đó sinh con đẻ cái cho chàng, lại “chỉ rõ nẻo mê,

dẫn vào đường giác”, giúp chàng học đạo. Cuối cùng cả nhà thành tiên, cưỡi hạc lên

trời. Nếu khơng có Giáng Kiều, chắc hẳn Tú Un vẫn còn chìm đắm trong men

rượu, mắc cạn trong tấm lưới trần gian. Có thể nói, vai trò của Giáng Kiều đối với Tú

Un khơng khác gì một vị thần bảo hộ.

Ngay cả nàng Bích Châu trong Đền thiêng ở cửa bể vốn là một cung nữ tuyệt

đẹp khơng chỉ ở nhan sắc mà còn là người có tầm nhìn xa trơng rộng, ở khả năng phi



39



phàm sánh vai cùng nam giới. Việc nàng dám ngăn cản ý vua là điều rất tạo bạo,

không phải chuyện tầm thường mà ngược lại có thể phải đối diện với cái chết. Sử xưa

đã ghi chép biết bao câu chuyện về các vị thần một lòng vì nước quên thân, ngăn cản

vua tránh làm điều bạo loạn mà đều nhận lấy cái chết oan ức. Huống chi nàng chỉ là

một cung nữ tầm thường? Song vì nghiệp lớn của đức lang quân và vận mệnh dân

tộc nàng nguyện gieo mình cho thủy qi. Tấm lòng trung chinh vì lang quân của

nàng đến lúc mất đi vẫn tỏa sáng rạng ngời.

Cũng trong cảm hứng ngợi ca phẩm chất của người vợ ln hết lòng vì

chồng, đảm đang vun vén dựng xây nghiệp lớn cho chồng. Hình ảnh người phu

nhân “làm thơ khuyên chồng lúc ông dậy muộn” trong truyện Người liệt nữ ở An

Ấp và người vợ sớm hôm dệt vải nuôi chồng đèn sách trong Lan Hồ quận công

đều vẽ lên một bức tranh hạnh phúc vợ chồng có nhau, đồng cam cộng khổ, chia

sẻ ngọt bùi, một lòng chịu mọi gian truân, tạo mọi điều kiện để hỗ trợ người

chồng yên tâm học hành, thi cử.

Cảm động hơn cả trong LTKVL đó là người con gái út họ Nguyễn (Tháp Báo

Ân) cảm tạ mối ân nghĩa vợ chồng chẳng được bao lâu với chàng thư sinh họ Nguyễn

mà đến lúc chết đi rồi nàng vẫn hiện về báo vào giấc mộng của quan chấm thi để xin

chiếu cố cho bài thi còn non kém để chàng được đỗ đạt… Tóm lại, qua các nhân vật

nữ tiêu biểu trên, các tác giả truyền kỳ đều đi tới khẳng định vai trò của người phụ nữ

là vơ cùng quan trọng. Họ không chỉ là một người vợ, người mẹ trong gia đình mà

họ còn là người phụ nữ bản lĩnh có học trong xã hội. Bởi thế mà, dân gian có câu:

đằng sau sự thành cơng của người đàn ơng ln có bóng hình của người phụ nữ.

- Nhân vật người phụ nữ hiếu thuận và giàu đức hi sinh

Như một đức tính tốt đẹp khơng thể thiếu trong phẩm chất “công - dung ngôn - hạnh” của người phụ nữ Việt Nam là lòng hiếu thảo và giàu đức hi sinh.

Phẩm chất ấy đã được nhắc đến nhiều trong truyện truyền kỳ nói riêng và văn học

dân tộc nói chung. Họ thật sự đã tuyệt vời trong tư cách người vợ, người mẹ. Và họ

còn tỏa sáng hơn trong vai trò của người con đối với cha mẹ. Việc chăm sóc, phụng

dưỡng hay sẵn sàng xả thân hi sinh vì cha mẹ là những đức tính q báu của người

phụ nữ. Đức tính ấy trở thành nguồn cảm hứng ngợi ca cho các tác giả văn học

xuyên suốt truyện truyền kỳ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII sáng tác về họ.



40



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×