Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giúp bạn đọc thấy được hệ thống sự phát triển của thể loại truyền kỳ, sự cách tân trong bút pháp nghệ thuật khi viết về hình tượng người phụ nữ

Giúp bạn đọc thấy được hệ thống sự phát triển của thể loại truyền kỳ, sự cách tân trong bút pháp nghệ thuật khi viết về hình tượng người phụ nữ

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Lê Thánh Tông - Thánh Tông di thảo, do Nguyễn Bích Ngơ dịch, Nxb

Văn hóa và Viện Văn học, Hà Nội, 1963.

- Nguyễn Dữ - Truyền kỳ mạn lục, do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, Trần

Thị Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lý, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999.

- Đoàn Thị Điểm - Truyền kỳ tân phả, do Ngơ Lập Chi và Trần Văn Giáp dịch

và chú thích, Hoàng Hữu Yên giới thiệu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962.

- Vũ Trinh - Lan Trì kiến văn lục, do Hồng Văn Lâu dịch, Nxb Hồng

Bàng, 2013.

Ngồi ra, chúng tơi có tham khảo thêm một số truyện truyền kỳ khác để đối

chiếu, so sánh.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Chỉ ra: Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua các tập truyện có liên

quan đến đề tài trên hai phương diện chính là: nội dung và nghệ thuật .

- Ở phần nội dung:

+ Điểm tương đồng

+ Điểm khác biệt

+ Lí giải sự khác biệt đó

- Ở phần nghệ thuật :

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật

+ Nghệ thuật kể chuyện

+ Mối quan hệ giữa yếu tố kỳ ảo và yếu tố hiện thực

+ Kết cấu

6. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp

nghiên cứu, trong đó cơ bản nhất là ba phương pháp sau:

6.1. Phương pháp văn học sử

Chúng tôi dùng phương pháp này để tìm hiểu quá trình phát triển của lịch sử văn

học Việt Nam trung đại cùng quá trình phát triển của thể loại truyền kỳ. Từ đó thấy được

ở mỗi thời kỳ các nhà văn đều có sự đổi mới trong tư tưởng, quan niệm sáng tác khi nhìn

nhận, đánh giá về hình tượng người phụ nữ.



7



6.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp

Đây là phương pháp cơ bản, xuyên suốt đề tài giúp làm sáng tỏ những luận

điểm, luận cứ đưa ra để đi tới những kết luận quan trọng.

6.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để chỉ ra những điểm tương đồng và

khác biệt trong việc xây dựng đề tài viết về người phụ nữ trong TTDT tương truyền

của Lê Thánh Tông, TKML của Nguyễn Dữ, TKTP của Đoàn Thị Điểm và LTKVL

của Vũ Trinh so với các tác phẩm của các tác giả nổi tiếng trước đó và trong cả tiến

trình lịch sử văn học trong và ngồi nước. Đồng thời, qua đó thấy được sự biến đổi

của các nhân vật nữ trong các tác phẩm về quan niệm nghệ thuật.

Ngoài những phương pháp trên, chúng tơi có sử dụng thêm thao tác thống

kê, phân loại. Những phương pháp trên sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh

hoạt trong quá trình nghiên cứu.

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo và Phụ lục, nội dung

chính của luận văn được triển khai trên 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung

- Chương 2: Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML,

TKTP và LTKVL trên phương diện nội dung

- Chương 3: Sự vận động trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ

nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL



8



PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Giới thuyết khái niệm

1.1.1. Sự vận động

Sự vận động là một khái niệm mang tính lý luận được dùng để chỉ sự phát

triển và biến đổi liên tục của các sự vật hiện tượng, trào lưu, khuynh hướng... không

chỉ trong các ngành khoa học xã hội (văn học, sử học, địa lí) mà ngay cả trong lĩnh

vực triết học thì khái niệm sự vận động càng thể hiện rõ nét hơn. Theo Mác - Lênin:

“Vận động là sự tự thân, vận động của vật chất, được tạo nên từ sự tác động lẫn

nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất” [10,157]. Còn theo

Ăngghen: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao gồm tất cả mọi sự thay

đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến

tư duy” [10,15]. Nói cách khác, vận động chính là một phương thức tồn tại của các

sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.

Trong văn học, “sự vận động” được hiểu: Là sự biến đổi, thay đổi dựa trên

cơ sở tiếp thu cái mới, kế thừa cái cũ và loại trừ cái lạc hậu để đưa nền văn học sang

một trang mới phù hợp với từng giai đoạn lịch sử dân tộc, từng thời kì văn học. Lịch

sử văn học dân tộc ta trải qua nhiều thời kỳ phát triển, tức là trải qua nhiều quá trình

vận động ở nhiều thể loại khác nhau, đơn cử như: Thể truyền kỳ nước ta từ thế kỷ

XV đến thế kỷ XVIII đã có sự kế thừa và tiếp thu những tinh hoa của truyền kỳ khu

vực mà tiêu biểu là thể truyền kỳ của Trung Quốc. Thể truyền kỳ ngày càng bộc lộ

rõ sự vận động, phát triển của mình qua các giai đoạn văn học đặc biệt là về chủ đề

được mở rộng; đối tượng phản ánh gần gũi với cuộc sống, con người trần thế hơn;

yếu tố kỳ - thực, kết cấu luân chuyển linh hoạt phù hợp với yêu cầu thời đại; lời

bình, lời bàn về sau này được giảm tải và mất dần đi. Đồng thời, chủ đề của thể loại

truyền kỳ giai đoạn sau cũng được mở rộng phạm vi hơn, khơng còn giới hạn trong

chủ đề yêu nước mà mở rộng ra các chủ đề về gia đình, xã hội, tình yêu nam nữ một

cách đậm nét. Do vậy, có thể khẳng định rằng: càng giai đoạn sau thì sự vận động

trong thể loại truyền kỳ càng rõ nét và trong hình tượng nhân vật, đặc biệt là nhân

vật người phụ nữ trong các tập truyện của các tác giả truyền kỳ được thể hiện ở



9



ngay quan niệm về người phụ nữ, quan niệm về tình u, tính cách, đời sống nội

tâm. Nếu yếu tố kỳ ảo trước đây là bút pháp chủ đạo trong các truyện thì ở giai đoạn

sau nó giữ vai trò như yếu tố nền, làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, thu hút bạn

đọc, thì yếu tố thực càng trở nên hiện thực gần gũi với đời sống hơn.

1.1.2. Truyện truyền kỳ và đặc trưng thể loại

a. Khái niệm truyền kỳ

Truyện truyền kỳ có nguồn gốc từ truyện kể dân gian Trung Quốc, sau đó

được các tác giả ghi chép lại, nâng cao thành một thể loại trong văn học. Từ điển

thuật ngữ văn học định nghĩa truyền kỳ là “thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học

Trung Quốc hình thành ở đời Đường (…) Kỳ có nghĩa là khơng có thực, nhấn mạnh

tính chất hư cấu” [36,286]. Các tác giả cuốn Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết

về khái niệm này đầy đủ, chi tiết hơn:“Một hình thức văn xi tự sự cổ điển Trung

Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân gian sau được các nhà văn nâng lên thành văn

chương bác học, sử dụng những mơ típ kỳ qi, hoang đường lồng trong một cốt

truyện có ý nghĩa trần thế (…) Tuy nhiên trong truyện bao giờ cũng có nhân vật là

người thật, và chính những nhân vật mang hình thức phi nhân thì cũng chỉ là sự

cách điệu, phóng đại của tâm lý, tính cách một loại người nào đấy, và vì thế truyện

truyền kỳ vẫn mang rất đậm những yếu tố nhân bản, có giá trị nhân bản sâu sắc”

[36, 447].

Như vậy, các định nghĩa về thể loại này khá thống nhất. Nhìn chung, các nhà

nghiên cứu đều đồng quan điểm truyền kỳ là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung

đại, được đặc trưng bởi tính chất hư cấu, kì lạ trong nhân vật, cốt truyện nhằm phản

ánh hiện thực.

b. Sơ lược đặc trưng và các giai đoạn phát triển của truyện truyền kỳ Việt Nam

- Đặc trưng

Đặc trưng quan trọng nhất của truyền kỳ đó là sự kết hợp hòa quyện của hai

yếu tố kỳ và thực. Cái kỳ là một phạm trù mỹ học, được coi là đặc trưng tư duy của

người phương Đông và là thế giới quan thời kỳ cổ trung đại. Không phải ngẫu nhiên

mà những tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu của phương Đông đều chứa đựng nhiều yếu

tố kỳ. Cái kỳ trong truyện truyền kỳ đã phát triển từ thụ động đến tự ý thức, từ ảnh

hưởng của văn học dân gian, sử ký, tôn giáo đến việc được nhà văn sử dụng như



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giúp bạn đọc thấy được hệ thống sự phát triển của thể loại truyền kỳ, sự cách tân trong bút pháp nghệ thuật khi viết về hình tượng người phụ nữ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×