Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

Thủy tinh thể có vai trò quan trọng trong hệ thống khúc xạ, với chức

năng chính là tập trung các tiêu điểm ảnh về võng mạc [3],[6]. Đây là cấu trúc

có khả năng khúc xạ mạnh thứ hai trong mắt người, chỉ sau giác mạc [3].

1.1.2. Định nghĩa đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể là tình trạng thủy tinh thể tự nhiên của mắt bị mờ đục,

làm cản trở ánh sáng đến võng mạc gây giảm thị lực [3],[6],[8].



Hình 1.1 Đục thủy tinh thể [3].

1.1.3. Nguyên nhân đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể có thể do nguyên nhân bẩm sinh hoặc mắc phải [3].

Đục thủy tinh thể bẩm sinh thường do các nguyên nhân di truyền. Tiền

sử gia đình có đục thủy tinh thể có vai trò trong việc thúc đẩy bệnh xuất hiện

sớm hơn bình thường và có đến 23% các trường hợp đục thủy tinh thể bẩm

sinh là có tính chất gia đình. Một phần ba số trường hợp đục thủy tinh thể

bẩm sinh là xuất hiện một cách độc lập, không liên quan tới bất kỳ bệnh lý

toàn thân hay bệnh lý nhãn cầu nào khác. Chúng có thể là do các đột biến mới

hình thành và có khả năng di truyền cho các thế hệ tiếp theo [5].



5

Đục thủy tinh thể mắc phải có thể do các nguyên nhân sau [3]:

- Liên quan tới tuổi già

- Do sử dụng một số loại thuốc: corticosteroid, chlorpromazine,

amiodaron, aspirin, thuốc tăng nhãn áp tại chỗ, pilocarpine

- Do chấn thương

- Do các bệnh lý toàn thân: đái tháo đường, hội chứng loạn dưỡng tăng

trương lực cơ, bệnh Willson, viêm da dị ứng…

- Do các bệnh lý tại mắt: viêm màng bồ đào, cận thị, tăng nhãn áp cấp tính…

Các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra mối liên quan giữa đục thủy tinh thể

và sự tiếp xúc với các tia bức xạ. Một nghiên cứu đã được tiến hành trên các

phi cơng Iceland có tiếp xúc với bức xạ vũ trụ cho thấy rằng bức xạ vũ trụ có

thể là một yếu tố gây ra đục thủy tinh thể cho các phi công này [9]. Đục thủy

tinh thể hay gặp ở những người thường xuyên tiếp xúc với tia hồng ngoại,

những người thợ thổi thủy tinh cũng là một ví dụ về tiếp xúc với bức xạ [5].

1.1.4. Điều trị đục thủy tinh thể

Cho đến nay chưa có bất kỳ loại thuốc nào có thể phòng ngừa, làm chậm

hoặc làm đảo ngược sự tiến triển của đục thủy tinh thể [6]. Để điều trị đục

thủy tinh thể người ta sử dụng phương pháp phẫu thuật lấy đi thủy tinh thể tự

nhiên [5],[8]. Có nhiều phương pháp phẫu thuật được thực hiện để lấy đi thủy

tinh thể tự nhiên như: phẫu thuật lấy thủy tinh thể trong bao, phẫu thuật lấy

thủy tinh thể ngoài bao, phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể bằng siêu âm

(phẫu thuật phaco) [6].

Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật bệnh nhân lại rơi vào tình trạng khơng có

thủy tinh thể và u cầu đặt ra là phải có một thủy tinh thể nhân tạo thay thế

để hồi phục thị lực cho bệnh nhân. Năm 1967, phẫu thuật thay thủy tinh thể

nhân tạo cho bệnh nhân đục thủy tinh thể lần đầu tiên được thực hiện thành



6

công và thủy tinh thể nhân tạo đầu tiên được sử dụng là một loại ống kính khá

dày và dễ vỡ [3],[5]. Ở Việt Nam, phẫu thuật thay thủy tinh nhân tạo được

thực hiện từ những năm 1990, khi đó thủy tinh thể nhân tạo được sử dụng là

loại thủy tinh thể nhân tạo cứng. Từ sau năm 1995, các kỹ thuật thay thế thủy

tinh thể nhân tạo bằng thủy tinh thể nhân tạo mềm được đưa vào sử dụng.

Hiện nay, phẫu thuật Phaco và thay thế bằng một IOLs được sử dụng rất phổ

biến ở các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam [6],[8].

Đối với các bệnh nhân phẫu thuật thay thủy tinh thể, biến chứng lâu dài

và phổ biến nhất sau phẫu thuật là mờ đục bao sau (Posterior Capsule

Opacities – PCO) [10].

1.2. Vật liệu sinh học (Biomaterials)

1.2.1. Đại cương về vật liệu sinh học

Có rất nhiều định nghĩa đã được sử dụng cho thuật ngữ “vật liệu sinh

học”. Theo Viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ (National Institute of

Health – NIH) (1984): “Vật liệu sinh học là bất kỳ chất hoặc hợp chất nào

(khơng phải là thuốc) có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được dùng để

điều trị, tăng cường hoặc thay thế mô, cơ quan hoặc chức năng của cơ thể”

[11],[12]. Một định nghĩa rộng hơn về vật liệu sinh học được hầu hết các nhà

khoa học chấp nhận là định nghĩa của Williams (1987): “Vật liệu sinh học là

một vật liệu không sống, được sử dụng trong một thiết bị y học, dùng để

tương tác với hệ sinh học” [11].

Vật liệu sinh học chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực y khoa. Tuy nhiên

khi các kỹ thuật vô trùng chưa phát triển thì việc sử dụng các vật liệu sinh học

là khơng khả thi. Các phẫu thuật có sử dụng vật liệu sinh học phần lớn đều

thất bại do nguyên nhân nhiễm trùng. Các vật liệu sinh học sớm nhất được

cấy ghép thành công là ứng dụng cấy ghép vào hệ thống xương năm 1900.



7

Sau đó đến những năm 1930, với sự ra đời của thép không gỉ và các hợp kim

crom – cobalt đã tạo nên những thành công lớn trong việc cố định gãy xương

và các trường hợp thay khớp đầu tiên được thực hiện [13]. Cùng với sự ra đời

và phát triển của nhiều loại vật liệu mới, hiện nay vật liệu sinh học được sử

dụng rất rộng rãi trong y học, đem lại những phương pháp điều trị hiệu quả ở

nhiều chuyên ngành như: nha khoa, ngoại khoa, tim mạch, cơ xương khớp,

phục hồi chức năng, nhãn khoa…

1.2.2. Các loại vật liệu sinh học

Theo nguồn gốc, vật liệu sinh học chia thành 2 nhóm lớn [11],[14]:

Nhóm vật liệu sinh học có nguồn gốc tự nhiên: Là nhóm vật liệu có tế

bào, có khả năng sống, tự sửa chữa, cấu trúc không đồng nhất.

- Vật liệu mơ mềm: da, gân, màng ngồi tim, giác mạc…

- Vật liệu mơ cứng: xương, răng.

Nhóm vật liệu sinh học có nguồn gốc tổng hợp: Là nhóm vật liệu có cấu

trúc đồng nhất, khơng có tế bào, khơng có khả năng sống.

- Gốm: Alumina, Zirconia, Calci Sulfate, Calci phosphate, Apatites,

carbon, thủy tinh…

- Kim loại: thép không gỉ, hợp kim crom – cobalt, hợp kim titan, vàng, bạc…

- Polymer: Ultra High Molecular Weight Polyethylene (UHM WPE),

Polymethylmethacacrylate (PMMA), Polyethyletherketone (PEEK), Silicone,

Polyurethane (PU), Polytetrafluoroethylene (PTFE)

- Composit: Carbon Fiber (CF)/PEEK, CF/UHMWPE, CF/PMMA,

Zircon idSil icdB IS – GMA.

1.2.3. Các yêu cầu đối với vật liệu sinh học

Yêu cầu chung đối với vật liệu sinh học được phân thành 4 nhóm [11]:

- Tính phù hợp sinh học: vật liệu phải khơng gây ra các phản ứng có hại đối

với vật chủ và có khả năng kích thích sự hòa hợp mơ – vật liệu ghép tốt.



8

- Có thể khử trùng: vật liệu có thể trải qua quá trình khử trùng bằng

nhiều phương pháp khác nhau mà khơng bị biến đổi các tính chất lý hóa cũng

như khơng sinh ra các chất gây phản ứng có hại cho cơ thể.

- Có tính chức năng: tính chức năng của một vật liệu sinh học phụ

thuộc vào khả năng tạo được hình dáng phù hợp với chức năng mà chúng

sẽ thực hiện.

- Có thể chế tạo: nhiều vật liệu khơng thể chế tạo được thành sản phẩm

để có thể cấy ghép trên người nên dù có tính tương hợp sinh học cao nhưng

cũng khơng có tính ứng dụng.

Ngồi ra, các vật liệu sinh học còn phải có các đặc tính đặc biệt như không

sinh khối u, không phân hủy, độc tính thấp… Tuy nhiên tùy thuộc vào mục đích

ứng dụng, mỗi loại vật liệu lại cần đáp ứng các yêu cầu khác nhau [11].

1.2.4. Tính phù hợp sinh học của vật liệu sinh học (Biocompatibility)

Phù hợp sinh học là khả năng mà vật liệu ghép có thể gây ra đáp ứng sinh

học thích hợp trong một ứng dụng chức năng đặc biệt (Williams, 1987). Vật liệu

có tính phù hợp sinh học thường ít hoặc khơng gây phá vỡ, rối loạn các chức

năng bình thường của cơ thể. Nghĩa là khơng gây độc, không gây dị ứng, không

gây ra các phản ứng miễn dịch và không gây ung thư hay đột biến cũng như một

số phản ứng khác [15].

Tính phù hợp sinh học là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các loại vật

liệu ghép. Đánh giá tính phù hợp sinh học của vật liệu ghép với cơ thể trước khi

ứng dụng vào lâm sàng bất kỳ loại vật liệu nào là điều vô cùng cần thiết. ISO

10993 đã đưa ra các tiêu chí đánh giá tính phù hợp sinh học đối với mỗi loại vật

liệu ghép dựa trên bản chất và thời gian tiếp xúc của vật liệu [16].



9

Bảng 1.1. Các phép thử đánh giá ban đầu để xem xét khả năng phù hợp

sinh học của vật liệu [16].

Cách phân loại các trang thiết bị y

tế theo

Bản chất tiếp xúc



Tác động sinh học



Thời gian tiếp

xúc

Độ

c tế

bào



Gây

nhạ

y

cảm



Gây

kích

thíc

h

hoặ

c

phả

n

ứng

da



A



x



x



x



x



B



x



x



x



x



C



x



x



x



x



A



x



x



x



x



B



x



x



x



x



C



x



x



x



Bề mặt

bị thủng

hoặc tổn

thương



A



x



x



x



x



B



x



x



x



x



C



x



x



x



Đường

huyết,

gián tiếp



A



x



x



x



x



x



x



B



x



x



x



x



x



x



C



x



x



x



x



Mơ/

xương/

răng



A



x



x



x



B



x



x



x



x



x



x



x



x



C



x



x



x



x



x



x



x



x



Máu

tuần

hồn



A



x



x



x



x



B



x



x



x



x



x



x



C



x



x



x



x



x



x



A



x



x



x



B



x



x



x



x



x



x



x



x



C



x



x



x



x



x



x



x



x



A



x



x



x



x



x



x



x



x



B



x



x



x



x



x



x



x



x



x



C



x



x



x



x



x



x



x



x



x



A – giới hạn

(< 24 giờ)

Cách

phân

loại



Tiếp xúc



B – kéo dài

(24 giờ đến 30

ngày)

C – vĩnh viễn

(>30 ngày)



Da



Trang

thiết bị

bề mặt



Trang

thiết bị

truyền

ngồi



Trang

thiết bị

cấy

ghép



Màng

nhày



Mơ/

xương



Máu



Nhiễ

m độc

cấp

tính



Độc

tính

bán

trườn

g diễn



x



x



x



x



Đột

biế

n

gen



Khả

năn

g

cấy

ghé

p



x



Ph

ù

hợp





Tươn

g

thích

máu



x



x



x



x



x



x



x



x



x



x



x



x



x



x



Qua bảng 1.1 ta thấy thủy tinh thể nhân tạo thuộc loại trang thiết bị cấy

ghép có tiếp xúc với mô và thời gian tiếp xúc là vĩnh viễn. Phép thử ban đầu



10

đánh giá tính phù hợp mơ và độc tính tế bào là một trong các tiêu chí quan

trọng để xem xét khả năng phù hợp sinh học của vật liệu.

1.2.5. Tính phù hợp mơ của vật liệu sinh học (Histocompatibility).

1.2.5.1. Phản ứng của cơ thể với vật liệu ghép.

Sau khi được cấy ghép, sự tương tác giữa hệ miễn dịch của cơ thể người

nhận và vật liệu sinh học sẽ xảy ra rất phức tạp và kết quả là vật liệu ghép có

gây phản ứng đủ để kích thích sự hòa hợp mơ – vật liệu tốt hay khơng [17],

[18]. Trong q trình đó, sự xuất hiện phản ứng viêm là tất yếu và là một phản

ứng bình thường khi một vật lạ mới được đưa vào cơ thể.

Sau khi cấy ghép, sự tương tác giữa vật liệu và hệ thống miễn dịch của

cơ thể nhận có liên quan đến đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu.

Đầu tiên, trên bề mặt của vật liệu sẽ hình thành các cục máu đơng tạm thời,

sau đó là viêm cấp tính vơ khuẩn tiến triển đến viêm mạn tính, phát triển mơ

hạt và cuối cùng là sự xơ hóa [17],[19]. Các đặc điểm của vật liệu sinh học về

kích thước, hình dạng, tính chất lý hóa…đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng

đến mức độ và thời gian phản ứng của cơ thể [18],[19]. Do đó mức độ, diễn

biến và thời gian quá trình phản ứng của cơ thể nhận sau khi ghép vật liệu

sinh học sẽ đặc trưng cho tính phù hợp mơ của vật liệu được cấy ghép.

1.2.5.2. Diễn biến quá trình phản ứng của cơ thể sau ghép vật liệu sinh học.

Phản ứng viêm: Viêm là quá trình phản ứng tự vệ của cơ thể nhằm chống

lại các tác nhân xâm nhập [20]. Trong cấy ghép vật liệu sinh học, ngay sau khi

cô lập vùng tổn thương bằng các phản ứng huyết quản huyết, phản ứng viêm

cấp tính và viêm mạn tính sẽ xảy ra theo thứ tự kế tiếp nhau. Phản ứng viêm

cấp tính được biểu hiện bằng các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau và đặc trưng là

sự xâm nhập của bạch cầu đa nhân trung tính. Các phản ứng viêm cấp tính đối

với vật liệu sinh học thường xảy ra nhanh chóng. Sau đó tiến triển thành viêm

mạn tính với sự xuất hiện của các bạch cầu đơn nhân, các lympho bào tại vị



11

trí tổn thương. Phản ứng viêm mạn tính đối với vật liệu sinh học thường bị

giới hạn tại vị trí cấy ghép. Phản ứng viêm sau khi thực hiện cấy ghép vật liệu

bao gồm cả viêm cấp tính và viêm mạn tính thường kéo dài khơng q hai

tuần. Nếu phản ứng kéo dài trên 3 tuần thường là dấu hiệu của sự nhiễm trùng

và thải ghép [19].

Sự phát triển của mô hạt: sau khi phản ứng viêm kết thúc, ở những vị trí

ghép vật liệu sinh học, mơ hạt được hình thành. Mơ hạt được xác định bởi sự

xuất hiện của các đại thực bào, xâm nhập nguyên bào sợi và sự tăng sinh các

mạch máu. Các nguyên bào sợi hoạt động tổng hợp collagen và proteoglycan,

là tiền đề cho sự xơ hóa [18],[19].

Sự xơ hóa: là hiện tượng cuối cùng trong q trình lành hóa vết thương.

Vị trí tổn thương do q trình cấy ghép vật liệu sinh học sẽ được sửa chữa

bằng quá trình tái tạo mô mới thay thế cho mô bị tổn thương hoặc sẽ hình

thành sẹo xơ.

Theo tác giả Lê Đình Roanh (2009), diễn biến thời gian của các phản

ứng hàn gắn vết thương sẽ được diễn ra như sau [21]:

- 0 giờ (Ngay khi phẫu thuật): đường rạch sẽ được lấp đầy bởi các cục

máu đông.

- 3 giờ đến 24 giờ sau phẫu thuật: phản ứng viêm cấp diễn ra với sự tập

trung của các bạch cầu đa nhân trung tính tại ổ viêm (vị trí tổn thương).

Những tế bào này được thu hút đến ổ viêm bởi các chất hóa ứng động như

histamin, leukotrien, bổ thể C5a… Vai trò của các bạch cầu đa nhân trung tính

là thực bào mơ bị tổn thương và các vi khuẩn có thể xâm nhập vào mơ trong

q trình phẫu thuật.

- 24 giờ đến 48 giờ sau phẫu thuật: các tế bào biểu mô di chuyển từ mép

vết thương tạo màng đáy và sự tăng sinh của tế bào là tối thiểu.



12

- Ngày thứ 3 sau phẫu thuật: bắt đầu quá trình chuyển từ phản ứng viêm

cấp sang viêm mạn tính. Các bạch cầu đa nhân trung tính dần được thay thế

bởi các bạch cầu đơn nhân (đại thực bào, lympho bào). Các đại thực bào sẽ

tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thực bào của bạch cầu đa nhân trung tính đồng

thời chúng có nhiệm vụ trình diện kháng nguyên với các tế bào miễn dịch đặc

hiệu (lympho bào). Sau q trình này, mơ hạt bắt đầu xuất hiện.

- Ngày thứ 5 sau phẫu thuật: vết thương đã được lấp đầy bởi mô hạt giàu

mạch máu tân tạo, q trình tăng sinh biểu mơ diễn ra mạnh mẽ và bắt đầu

xuất hiện collagen.

- Tuần thứ 2 sau phẫu thuật: quá trình viêm và phản ứng mơ hạt giảm

dần, thay vào đó là sự tăng sinh nguyên bào sợi và tích lũy collagen tại vị trí

tổn thương.

- Tháng thứ 2 sau phẫu thuật: vết sẹo đã được hình thành bao gồm mơ

liên kết khơng viêm được bao phủ bởi một lớp thượng bì nguyên vẹn.

1.3. Thủy tinh thể nhân tạo

1.3.1. Lịch sử ra đời thủy tinh thể nhân tạo.

Các thủy tinh thể nhân tạo đầu tiên được nghiên cứu chế tạo từ thủy tinh,

nặng và dễ vỡ [5]. Harold Ridley (1906 – 2001) là người đầu tiên phát minh

ra thuỷ tinh thể (IOL) chế tạo từ nhựa dẻo. Sau chiến tranh thế giới thứ II, ông

có cơ hội để tiếp xúc với những phi công vơ tình bị các mảnh vỡ của vòm

kính buồng lái máy bay găm vào mắt. Qua thời gian nghiên cứu Ridley đã

nhận thấy rằng các mảnh vỡ này không gây ra bất kỳ phản ứng có hại nào với

mắt và ông đã tìm ra nguồn gốc của các mảnh vỡ là poly methyl methacrylat.

Ông tiến hành sử dụng vật liệu này để chế tạo thủy tinh thể nhân tạo và ứng

dụng vào điều trị bệnh đục thủy tinh thể. Phẫu thuật cấy ghép IOL bằng nhựa

đầu tiên vào mắt người được tiến hành vào ngày 29 tháng 11 năm 1949 [23].

Trải qua hơn 50 năm, công nghệ chế tạo IOL đã được cải tiến không ngừng,



13

rất nhiều loại vật liệu đã được sử dụng để sản xuất IOL nhằm tạo ra IOL tối

ưu nhất, phù hợp nhất với mắt người.

1.3.2. Vật liệu chế tạo thủy tinh thể nhân tạo

Các vật liệu được lựa chọn để sản xuất thủy tinh thể nhân tạo cần đáp

ứng được các tiêu chuẩn sau đây [5]:

- Vật liệu phải có tính phù hợp sinh học

- Vật liệu phải khơng bị phân hủy, giáng hóa, khơng gây phản ứng hoặc

biến mất trong toàn bộ thời gian sử dụng của nó, có tính ổn định và trơ.

- Vật liệu phải thể hiện các đặc tính quang học để giúp cho người dùng

có được thị lực giống như thủy tinh thể tự nhiên của mắt. Đối với yêu cầu này,

các đặc tính sau là cần thiết: ổn định về thành phần hóa học, mật độ, chỉ số

khúc xạ, truyền sáng.

- Phải mỏng và có tính mềm dẻo: vật liệu phải đảm bảo có thể đưa vào

mắt bằng các phương pháp phẫu thuật.

Hiện nay, IOLs được sản xuất từ hai nhóm vật liệu chính là acrylic và

silicone [24].

Acrylic gồm 2 nhóm là Hydrophobic Acrylic và Hydrophilic Acrylic.

- Hydrophobic Acrylic (Acrylic kỵ nước):

Polymethyl methacrylate (PMMA): đây là loại vật liệu có hàm lượng

nước cực thấp, thấp hơn 1% [25]. Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, các IOLs sản xuất

từ PMMA rất ít được sử dụng do nó cần có một đường rạch lớn khi phẫu thuật

để có thể đưa vào trong mắt. Tuy nhiên, đối với các nước mà kỹ thuật rạch

bao ngồi để bộc lộ nhân mắt còn được thực hiện thủ cơng thì nó vẫn đóng

một vai trò quan trọng. Hiện nay, PMMA được sử dụng cho IOL đặt tại chỗ

do có độ cứng nhất định giúp chống nghiêng và ổn định tại vị trí đặt [24].

Acrylic kỵ nước có tính mềm dẻo: đây là nhóm vật liệu được sử dụng

phổ biến nhất hiện nay. Chúng là những vật liệu mềm dẻo, có thể gập lại ở



14

nhiệt độ phòng, chỉ số khúc xạ cao và hàm lượng nước rất thấp. Một trong

những hạn chế của loại vật liệu này là có thể gây ra chứng loạn thị sau phẫu

thuật, tuy nhiên với những thay đổi về kiểu dáng thiết kế, tỷ lệ loạn thị đã

được giảm đáng kể [24]

- Hydrophilic Acrylic (Acrylic ưa nước): Đây là nhóm vật liệu có hàm

lượng nước cao, dao động từ 18-38%. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng IOLs

được chế tạo từ Acrylic ưa nước có tỷ lệ gây biến chứng PCO cao hơn các

IOLs chế tạo từ Acrylic kỵ nước hay Silicon. Hiện tượng này được giải thích

là do hàm lượng nước cao đã thu hút các tế bào biểu mô bao sau thủy tinh thể

đến và phát triển hoặc có thể do IOLs này khơng có cạnh sắc như loại acrylic

kỵ nước nên làm giảm khả năng cản trở sự tái tạo của các tế bào biểu mô bao

sau thủy tinh thể [24],[26]. Một vấn đề lớn với một số IOL Acrylic ưa nước là

bị mờ đục sau ghép do hiện tượng vơi hóa. Điều này dẫn đến hậu quả là bệnh

nhân phải ghép lại lần hai [27],[28],[29].

Silicone: Silicone là loại vật liệu đầu tiên được sử dụng để chế tạo các

IOL có tính mềm dẻo cao. Nó là một loại vật liệu rất tốt, đặc biệt là có khả

năng làm giảm biến chứng PCO sau phẫu thuật. Thiết kế của loại IOL này là

sự lựa chọn ưa thích cho phương pháp phẫu thuật sử dụng kim phun với các

vết mổ nhỏ hơn 2.8 mm.

1.3.3. Các kiểu dáng của thủy tinh thể nhân tạo.

Kiểu dáng của thủy tinh thể nhân tạo hiện nay rất đa dạng: có thể nhiều

mảnh hoặc một khối; dạng đĩa hoặc kiểu vòng mở; góc cạnh hoặc tiếp xúc

phẳng; có các vị trí tiếp xúc đặc biệt với các khe, góc tiền phòng, cố định

mống mắt; có thể đơn tiêu cự hoặc đa tiêu cự … [24]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×