Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngoài ra, trong các cây thuộc họ Chè cũng chứa tinh dầu, một hợp chất có vai

trò quan trọng trong lĩnh vực y học. Nhờ các hợp chất có trong cây mà từ xưa y học

cổ truyền đã sử dụng các loài thuộc chi Adinandra được làm thuốc điều trị bệnh ung

thư vòm họng, đau dạ dày, rắn cắn,.... Cây Sum millett (A. millettii) được sử dụng

điều trị đau dạ dày; cây Sum nguyên A. integerrima được dùng để trị bong gân, rắn

cắn. Lá và thân cây Sum đỏ hay Sum Hải Nam A. Hainanensis (A. rubropunctata)

được dùng cho các trường hợp viêm, ung thư vòm họng [5].



B



A



C

D

Hình 1.1. Một số loài thực vật thuộc chi Dương đồng (Adinandra)

A: A. hongiaoensis, B: A. millettii, C: A. dumosa, D: A. glischroloma

Chi Adinandra là cây gỡ ít khi là cây bụi, nhánh non có lơng nhung. Lá đơn,

mọc so le, có kích thước trung bình hay lớn. Hoa mọc đơn ở nách lá, lưỡng tính,



4



hoa mẫu 5. Lá đài có lơng mềm hoặc lơng ráp. Cánh hoa khơng lơng hay chỉ có

lơng ở mặt ngồi. Nhị nhiều, có khoảng 25 nhị. Bao phấn có lơng ngắn hoặc dài

và có mũi nhọn. Bầu trên, khơng lơng hoặc có lơng mềm; nỗn nhiều. Quả khơ

khơng tự mở; hạt nhiều, nhỏ (Hình 1.1) [26].

1.2. Tình hình nghiên cứu về chi Dương đồng (Adinandra)

1.2.1. Trên thế giới

Trên thế giới có khoảng hơn 80 lồi thuộc chi Andinandra phân bố ở nhiều

vùng khác nhau. Tuy nhiên, mới chỉ thấy có các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào

loài Andinandra nitida ở Trung Quốc. Loài A. nitida là cây thuộc vùng nam Trung

Quốc, lá cây được sử dụng lâu năm làm chè uống (Shiyacha) và thuốc dược liệu

tốt cho sức khỏe. Lồi A. nitida có nhiều tác dụng điều trị như kháng khuẩn, giảm

đau, giảm huyết áp. Ở Trung Quốc, lồi A. nitida còn được sử dụng trong nhiều

công thức bào chế, thang thuốc để điều trị ung thư, chống oxy hóa.

1.2.1.1. Nghiên cứu về thành phần hóa học

Lá của cây A. nitida được sử dụng lâu năm làm chè uống và thuốc dược liệu

tốt cho sức khỏe, tuy nhiên chưa có nhiều các nghiên cứu khoa học về thành phần

hóa học và hoạt tính sinh học của lồi A. nitida. Các nghiên cứu cho thấy thành

phần hóa học của lồi A. nitida được phát hiện thuộc nhóm là flavonoid, flavonoid

glycoside và triterpene saponin [34], [35], [40], [42], [43].

Hướng nghiên cứu về thành phần hóa học: Chen và Shi (1996) đã chứng

minh lá của lồi A. nitida có nhiều tác dụng để chữa bệnh. Do đó, lồi này được sử

dụng để thương mại hóa cho ngành dược phẩm.

Năm 2003, Wang và cộng sự đã công bố phân lập được 6 hợp chất apigenin

(1), camellianin A (2), quercitrin (3), kajiichigoside F1 (4), nigaichigoside F2 (5), và

peduncloside (6) trên tạp chí Trung Quốc (Hình 1.2) [40].

Năm 2008, Liu và cộng sự đã phân lập được flavonoid thuộc loại

camellianin A từ lá của loài A. nitida Merr. ex Li bằng phương pháp HPLC và

chứng minh được khả năng chống oxy hóa cao từ dịch chiết flavonoid bằng

phương pháp làm sạch DPPH và các gốc tự do [32]. Cùng hướng nghiên cứu này,

Liu và cộng sự (2013) đã phân lập, tối ưu hóa phương pháp tách chiết flavonoid và

thu được camellianin A từ lá của loài A. nitida; đồng thời chứng minh được khả

năng chống oxy hóa của flavonoid ở nồng độ 0,02 mg/ml [33]. Như vậy, một số



5



nghiên cứu đã chỉ ra flavonoid như epicatechin, apigenin, quercitrin, camellianin

A và camellianin B có hoạt tính sinh học và có khả năng chống oxy hóa.



Apigenin (1)



Camellianin A (2)



Quercitrin (3)



Kajiichigoside F1 (4)



Nigaichigoside F2 (5)

Peduncloside (6)

Hình 1.2. Các hợp chất flavonoid và triterpene saponins từ A. nitida

Bằng một số phương pháp sắc ký cột, thành phần hóa học của lồi A. nitida đã

được Wang và cộng sự (2008) phân lập và xác định được cấu trúc của các hợp chất

saponin gồm 6 loại lần lượt là 2alpha, 3alpha, 19alpha-trihydroxy-olean-12 en-28-oic

acid-28-O-beta-D-glucopyranoside; arjunetin; sericoside; glucosyl torenzymetate;

nigaichigoside F1 và arjunglucoside I. Trong đó chất 2alpha, 3alpha, 19alphatrihydroxy-olean-12-en-28-oic acid-28-O-beta-D glucopyranoside là hợp chất mới;

các chất còn lại là chất lần đầu tiên được phát hiện trong loài A. nitida [41].



6



Cơng bố tiếp theo năm 2008, nhóm nghiên cứu phân lập thêm 5 hợp chất

triterpene glycosides gồm arjunetin (7), sericoside (8), glucosyl torenzymetate (9),

nigaichigoside F1 (10) và arjunglucoside I (11) (Hình 1.3) [42].



Arjunetin (7)



Sericoside (8)



Nigaichigoside F1 (9)



Glucosyl torenzymetate (10)



Arjunglucoside I (11)

Hình 1.3. Các hợp chất triterpene saponins từ A. nitida

Bên cạnh các nghiên cứu của Wang và cộng sự (2008) về thành phần hóa

học, một số nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc khác lại tập trung vào phân tích thành

phần flavonoid, thành phần chiếm hàm lượng lớn (> 20%) có trong lá A. nitida với

camellianin A là thành phần chính [35], [43]. Theo nghiên cứu của Liu và cộng sự,

hàm lượng camellianin A, camellianin B và phần aglycon apigenin trong dịch

chiết EtOH chiếm tỉ lệ 41,98; 2,67 và 1,73% tương ứng [35]. Hàm lượng

flavonoid chiếm hơn 45% trong dịch chiết EtOH.

Sử dụng sắc ký lỏng 2 chiều (2D-LC) kết hợp phổ khối để phân tích thành

phần hóa học đã có hơn 57 chất đã được phát hiện trong dịch chiết MeOH lá A.



7



nitida, trong đó 5 hợp chất epicatechin (12), camellianin A (2), rhoifolin (13),

camellianin B (14) và apigenin (1) được phát hiện dựa trên thời gian lưu, khối

lượng phân tử và phổ MS/MS (Hình 1.4) [43].



Camellianin A (2)



Rhoifolin (13)



Camellianin B (14)

Epicatechin (12)

Hình 1.4. Các hợp chất flavonoid từ A. nitida

Một nghiên cứu khác từ Liu về phân tích thành phần hóa học bằng phương

pháp GCMS của dịch chiết siêu tới hạn CO 2 lá của cây A. nitida và phát hiện được

16 hợp chất với γ-sitosterol là thành phần chính (47,56%). Một số hợp chất khác

3, 7, 11, 15-tetramethyl -2-hexadecen-1-ol, nonacosane, 9, 12-octadecadienal,

vitamin E, γ-tocopherol, stigmasterol được phát hiện với hàm lượng từ 2,1616,98%. Tuy nhiên dịch chiết MeOH thì tương tự như các nghiên cứu khác, chủ

yếu chứa các flavonoid như camellianin A (2), camellianin B (14) và aglycon

apigenin (1) [34].

1.2.1.2. Nghiên cứu về hoạt tính sinh học

Lồi A. nitida đã được nghiên cứu các tác dụng sinh học khác nhau như

chống oxy hóa, ức chế enzyme chuyển (ACE giảm huyết áp) và chống ung thư

[29], [30], [34], [35], [43].

Liu và cộng sự đã thử tác dụng chống oxy hóa, tác dụng ức chế enzyme

chuyển của dịch chiết EtOH, hợp chất chính camellianin A, camellianin B và

apigenin. Trong tác dụng chống oxy, kết quả cho thấy IC 50 của dịch chiết EtOH,



8



camellianin A, camellianin B và apigenin tương ứng là 14,74 μg/ml, 1,62 mg/ml,

1,8 mg/ml, và 0,95 mg/ml. Tác dụng chống oxy hóa của các hợp chất flavonoid

kém hơn nhiều so với dịch chiết EtOH trong phép thử DPPH và Rancimat (khoảng

100 lần). Kết quả cho thấy tác dụng chống oxy hóa của lá cây A. nitida có thể phụ

thuộc vào các thành phần hóa học khác [35].

Về tác dụng giảm huyết áp, ức chế enzyme chuyển (angiotensin converting

enzyme ACE) các hợp chất flavonoid camellianin A, camellianin B và apigenin có

tác dụng tốt hơn dịch chiết EtOH. Ở nồng 500 μg/ml, tác dụng ức chế enzyme

chuyển của dịch chiết EtOH, hợp chất camellianin A, camellianin B và apigenin

tương ứng là 29,7; 30,16; 40,68 và 30,27%. Hoạt tính ức chế enzyme chuyển của

dịch chiết EtOH có lẽ phụ thuộc nhiều vào các hợp chất flavonoid [35].

Do lá cây A. nitida được sử dụng để làm chè uống với tác dụng chống ung thư,

hợp chất chính camellianin A (hàm lượng được xác định chiếm 19,25% bằng HPLC

được thử nghiệm hoạt tính chống ung thư trên dòng tế bào ung thư Hep-G2 và ung

thư vú MCF-7. Ở nồng độ 200 μM, camellianin A ức chế 33,8% và 8,7% tế bào ung

thư MCF-7 và Hep-G2. Có thể thấy tác dụng độc tế bào của camellianin A là khá

yếu. Tuy nhiên, trong nghiên cứu chu trình tế bào, camellianin A làm tăng mật độ tế

bào ở giai đoạn G0/G1. Việc tăng mật độ các tế bào HepG-2 và MCF-7 trong giai

đoạn đầu của quá trình chết tế bào được phát hiện. Như vậy, camellianin A khơng

chỉ ảnh hưởng đến q trình nhân lên của tế bào ung thư mà còn thúc đẩy các tế bào

đi vào chu trình chết tế bào (apoptosis) [30].

Nghiên cứu của Liu và cộng sự (2015) khi so sánh thành phần phenolic của 4

loài thuộc chi Adinandra ở Trung Quốc là A. nitida, A. glischroloma var. jubata,

A. millettii và A. latifolia về tác dụng chống oxy hóa và so sánh chống ung thư của

4 lồi này trên các dòng ung thư HepG-2 và MCF-7 [29].

Hàm lượng các hợp chất phenolic trong A. nitida cao nhất là 140,54±1,04

mg/g, tiếp đến loài A. millettii (125,96±3,19 mg/g), loài A. glischroloma var.

jubata (84,14±2,97 mg/g). Lồi A. latifolia có hàm lượng phenolic ít nhất (71,29 ±

2,69 mg/g). Tương tự, thành phần flavonoid có trong loài A. nitida là cao nhất



9



88,72±2,13 mg/g, tiếp đến là loài A. glischroloma var. jubata (44,74±1,79 mg/g)

và loài A. millettii (43,54±1,48 mg/g). Lồi A. latifolia có hàm lượng flavonoid ít

nhất (19,13 ± 0,54 mg/g). Do vậy, trong 4 loài thuộc chi Adinandra nghiên cứu,

tác dụng chống oxy hóa và chống ung thư của lồi A. nitida và A. millettii có tác

dụng tốt hơn so với loài A. jubata và A. latifolia. Điều này có thể được giải thích

là phù hợp với hàm lượng các hợp chất phenolic có trong các lồi này. Dịch chiết

của các lồi Adinandra có các hợp chất phenolic tự do có khả năng ức chế q

trình nhân lên của tế bào ung thư. Các dịch chiết có thể ức chế với EC 50 từ 1,056,44 mg/ml trên tế bào ung thư gan Hep-G2 và EC50 từ 2,26-8,02 mg/ml trên tế

bào ung thư gan MCF-7 (Bảng 1.2).

Thành phần hợp chất flavonoid của lồi A. nitida có chứa camellianin A,

camellianin B, apigenin, quercitrin trong khi thành phần flavonoid của loài

A. milettii chưa được phát hiện [29].

Bảng 1.2. Tác dụng chống ung thư của dịch chiết các hợp chất phenolic tự do

trên 2 dòng tế bào Hep-G2 và MCF-7

Lồi

A. nitida

A. millettii

A. jubata

A. latifolia



EC50 (mg/ml)

Hep G2

1,49 ± 0,023

1,05 ± 0,089

1,85 ± 0,056

6,44 ± 0,46



MCF-7

2,26 ± 0,19

2,43 ± 0,23

8,02 ± 0,32

4,01 ± 0,12



Như vậy, tác dụng sinh học và thành phần hóa học của các lồi thuộc chi

Adinandra còn chưa rõ ràng, chưa được nghiên cứu sâu. Việc tiến hành nghiên

cứu về các loài thuộc chi này là rất cần thiết nhằm hiểu biết thêm về thành phần

hóa học cũng như hoạt tính sinh học. Dựa trên phương pháp hoạt tính dẫn đường,

kết hợp với phương pháp sắc kí phổ hiện đại, các hợp chất mới có tác dụng chống

ung thư trong chi Adinandra sẽ được phát hiện.

1.2.2. Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu duy nhất về loài thuộc chi Adinandra được Lê

Nguyễn Thành và Vũ Thị Kim Oanh bước đầu thực hiện trên loài Adinandra

rubropunctata. Nghiên cứu đã phát hiện ra lớp chất triterpen vòng ursan (ursolic

10



acid) và vòng lupan (betulinic acid) từ thân của loài A. rubropunctata, các hợp

chất betulinic acid, ursolic acid thường có hoạt tính chống ung thư tốt.

1.3. Nghiên cứu sử dụng mã vạch DNA trong phân loại thực vật

Theo phương pháp truyền thống, việc phân loại hay giám định sinh vật chủ

yếu dựa trên chỉ thị về hình thái hoặc các đặc tính sinh lý, sinh hóa bên trong nhờ

vào bảng hướng dẫn định danh có sẵn. Phương pháp phân loại truyền thống này

trong nhiều trường hợp còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế như là nhiều sinh vật

có hình thái rất giống nhau nhưng thực tế lại rất khác nhau trong hệ thống phân

loại (hệ gen rất khác nhau). Ngược lại nhiều sinh vật có hình thái rất khác nhau

nhưng lại rất gần nhau trong hệ thống phân loại (hệ gen rất giống nhau). Mặt khác,

phương pháp phân loại truyền thống dựa trên các đặc điểm hình thái rất khó phân

biệt được sự khác biệt giữa các biến dị dưới loài. Đặc biệt, đối với những mẫu vật

có nguồn gốc sinh vật đã bị biến đổi về hình thái như là những mẫu sinh vật đã

chết, bị chôn vùi dưới đất, ở các cơng trình xây dựng, đã qua chế biến thì khơng

thể xác định được bằng chỉ thị hình thái. Gần đây, nhờ vào sự phát triển của khoa

học công nghệ nói chung và các kỹ thuật sinh học phân tử nói riêng đã cho phép

các nhà nghiên cứu nhanh chóng xác định được sự khác biệt về vật chất di truyền

giữa các lồi sinh vật, thậm chí giữa các cá thể sinh vật trong cùng lồi. Từ đó có

thể định danh được sinh vật và xác định được mối quan hệ di truyền giữa các cá

thể, quần thể hay xuất xứ. Việc kết hợp giữa chỉ thị hình thái và chỉ thị phân tử

DNA sẽ nhanh chóng xác định được sự khác biệt giữa sinh vật này với sinh vật

khác một cách chính xác. Vì vậy, các kỹ thuật sinh học phân tử được xem là cơng

cụ hỡ trợ có hiệu quả cho việc phân tích di truyền ở các lồi sinh vật. Trong đó,

mã vạch DNA được xem như là một công cụ để giám định sinh vật và xác định

mối quan hệ di truyền giữa các loài [12].

Mã vạch DNA là kỹ thuật sử dụng một trình tự DNA ngắn nằm trong hệ gen

của sinh vật như một ch̃i kí tự duy nhất giúp phân biệt hai lồi sinh vật với nhau.

Vùng gen matK (gen mã hóa cho maturaseK) được phát hiện đầu tiên trên

cây thuốc lá (Nicotiana tabacum) khi giải trình tự vùng gen matK mã hóa cho



11



tRNALys (UUU) của lục lạp. Nó gồm 1 đoạn ORF chứa 509 nucleotit nằm trong

intron của gen trnK và chưa rõ chức năng. Các nghiên cứu sử dụng trình tự gen

matK để xây dựng cây phát sinh loài cho thấy gen matK có tính đa dạng hơn

những gen khác có trong lục lạp. Do vậy gen matK trở thành gen chỉ thị quan

trọng để giúp phân loại thực vật [38].

Nhận thấy vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của việc xây dựng ngân hàng mã

vạch DNA, ở Việt Nam các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý đã bước đầu

tiếp cận và quan tâm đến hướng nghiên cứu này, nhằm hướng tới xây dựng một

ngân hàng dữ liệu mã vạch DNA quốc gia cho các loài sinh vật (động vật, thực

vật, vi sinh vật,...) phục vụ phân loại, giám định, chẩn đoán bệnh, bảo tồn và quản

lý thương mại nguồn tài nguyên sinh vật ở nước ta.

Năm 2003, Paul Hebert đưa ra khái niệm đầu tiên về mã vạch DNA nhằm

giúp nhận diện các mẫu vật. Mã vạch DNA sử dụng một trình tự DNA ngắn nằm

trong hệ gen của sinh vật như một ch̃i kí tự duy nhất giúp phân biệt hai loài sinh

vật với nhau [31].

Ở Việt Nam, nghiên cứu về mã vạch DNA được triển khai ở một số cơ sở

nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn nhỏ lẻ, tập trung trên một số đối

tượng sinh vật, chưa có tính hệ thống, đồng bộ nên chưa thể xây dựng được cơ sở

dữ liệu về mã vạch DNA. Vũ Thị Thu Hiền và Đinh Thị Phòng (2011) đã sử dụng

kỹ thuật DNA vào việc đánh giá mối quan hệ di truyền tập đoàn cây gỡ trắc đỏ

(Dalbergia cochinchinensis) ở Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng. Kết quả

nghiên cứu đã cho thấy, trong số 51 chỉ thị phân tử (28 chỉ thị RAPD và 23 chỉ thị

ISSR) phân tích cho 35 mẫu D. cochinchinensis thì có 31/51 chỉ thị (12/28 RAPD

và 19/23 ISSR) cho tính đa hình. Tổng số có 163 phân đoạn DNA được nhân bản

thì có 99 phân đoạn đa hình (chiếm 60,74%), số lượng các phân đoạn nhân bản

dao động từ 1 đến 8 với kích thước nhân bản trong khoảng 250 bp đến 2000 bp.

Mối quan hệ di truyền của 35 mẫu D. cochinchinensis được thể hiện trên sơ đồ

hình cây, đã phân ra làm 02 nhánh và có hệ số sai khác di truyền dao động trong

khoảng 5,1% (1-0,949) đến 29,3% (1-0,707). Nhánh chính I duy nhất là mẫu DC9

với hệ số sai khác di truyền với các mẫu còn lại khoảng 29,3% (1-0,707). Nhánh



12



chính II bao gồm 34 mẫu còn lại và có hệ số sai khác di truyền dao động trong

khoảng từ 5,1% (1-0,949) đến 26,0% (1-0,740) [8].

Nguyễn Thị Thanh Nga (2012) tiến hành đề tài “Đánh giá tính đa dạng di

truyền một số lồi Codonopsis ở Việt Nam bằng kỹ thuật mã vạch DNA”. Nghiên

cứu đã góp phần xác định các mã vạch có thể phân biệt được các loài thuộc chi

Codonopsis bằng cách kết hợp giữa phương pháp phân loại hình thái truyền thống

với phương pháp phân tích trình tự DNA của một gen mã vạch như ITS, matK,

trnK. Nghiên cứu đã khuếch đại thành công hai vùng gen ITS và matK. Kết quả

phân tích sự đa hình trên mỡi vùng gen cho thấy vùng gen ITS có kích thước từ

638-650 bp xuất hiện 113 điểm đa hình, chiếm 17,4% trên tồn bộ trình tự vùng gen,

có độ đa hình cao hơn so với gen matK kích thước 871 bp với 61 điểm đa hình xuất

hiện, chiếm 7% trên tồn bộ trình tự và cây phát sinh chủng loại được xây dựng. Dựa

vào kết quả phân tích trình tự DNA và cây phát sinh chủng loại thu được, có thể kết

luận vùng gen matK có khả năng phân biệt tốt hơn vùng gen ITS, vùng gen matK có

thể được sử dụng để phân biệt dưới loài của chi Codonopsis [21].

Năm 2013, Trần Thu Hoa và cộng sự đã tiến hành “khảo sát đặc tính dược

liệu và bước đầu định danh bằng trình tự gen ITS và matK cho một mẫu Ngải mới

tìm thấy ở vùng núi Cấm - An Giang” nhằm hướng đến ứng dụng trong việc điều

chế các thuốc chữa bệnh, nhóm nghiên cứu đã thu thập được hơn 20 mẫu cây họ

Gừng có tên bắt đầu bằng chữ “Ngải” tại vùng núi Cấm. Đặc điểm chung của các

mẫu này là hình thái của chúng khá giống nhau. Trong đó, lồi “Ngải sậy củ lớn”

(tên phổ thông thường gọi ở vùng núi Cấm, Tịnh Biên, An Giang) đã được chứng

minh là cây thuốc có tiềm năng trị ung thư. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng cây

phát sinh loài [9].

Hà Văn Huân (2014) đã lựa chọn gen matK để làm mã vạch phục vụ cho các

nghiên cứu về đa dạng di truyền, phân loại và giám định lồi góp phần nâng cao

hiệu quả bảo tồn nguồn gen và phát triển loài Sến mật ở Việt Nam. Trên cơ sở các

thông tin của gen matK đã công bố, một cặp mồi đặc hiệu đã được thiết kế để

nhân dòng gen matK từ DNA tổng số của 3 mẫu Sến mật trồng tại Thanh Hóa (S1,

S2 và S3). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Trình tự nucleotit của gen matK

phân lập từ mẫu S1, S2 và S3 dài 1521 nucleotit, trong đó, trình tự nucleotit của

gen matK ở mẫu S1 và S3 giống nhau 100%, trình tự nucleotit của mẫu S2 có sai

khác với hai mẫu S1 và S3 duy nhất 1 nucleotit ở vị trí 877 (C được thay thế bằng

13



G). Trình tự nucleotit của gen matK phân lập từ mẫu S1, S2 và S3 (được ký hiệu

là Senthanhh) có sự tương đồng đến 98,43% so với trình tự nucleotit của gen

matK ở cây Sến lá to (Madhuca macrophyll) đã công bố trên GenBank (mã số:

DQ924091.1). “Senthanhh” có thể được sử dụng là cơ sở dữ liệu quan trọng phục

vụ cho các nghiên cứu về đa dạng di truyền, phân loại và giám định lồi góp phần

nâng cao hiệu quả bảo tồn nguồn gen và phát triển loài Sến mật ở Việt Nam [11].

Các nghiên cứu trên đã tạo tiền đề quan trọng cho hướng nghiên cứu ứng

dụng chỉ thị phân tử vào việc phân loại, giám định, đánh giá đa dạng di truyền,

bảo tồn và quản lý thương mại nguồn tài nguyên sinh vật ở nước ta.

1.4. Các nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của các lồi cây thuốc

Năm 1992, Nakatomi và cộng sự đã nghiên cứu về các hợp chất alkaloid có

mùi hăng của cây Cúc áo. Nghiên cứu nhận thấy cặn chiết từ cây Cúc áo có khả

năng ức chế được nhiều loại vi sinh vật: Staphylococcus albus, Escherichia coli,

Klebsiella pneumoniae, Salmonella gallinarum, Pseudomonas aeruginosa,

Proteus vulgaris và nấm enzyme Candida albicans [36]. Năm 2006, Mai Sỹ Tuấn

và cộng sự đã nuôi cấy in vitro thành công được cây Cúc áo. Bước đầu công bố

khả năng kháng tế bào ung thư biểu mơ vòm họng, tế bào ung thư vú ở người và

kháng vi sinh vật kiểm định của cặn chiết thô từ chồi cây Cúc áo nuôi trên môi

trường thạch [27].

Võ Thị Mai Hương và Trần Thanh Phong (2013) đã nghiên cứu dịch chiết

của quả Nhàu (Morinda citrifolia L.) đều có khả năng kháng với 4 loại vi sinh vật

kiểm định gồm S. aureus, Salmonella typhi, E. coli và Bacillus pumilus. Trong đó,

lồi S. aureu là chủng nhạy cảm nhất với dịch chiết [13]. Năm 2015, Bùi Thị Lê

Minh và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của tỏi (Allium sativum L.)

trên vi khuẩn E. coli và ảnh hưởng của tỏi lên sự sinh trưởng của gà được bổ sung

tỏi tươi vào khẩu phần thức ăn tại Đại học Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy

các khuẩn E.coli nhạy cảm với dịch chiết tỏi tươi với giá trị MIC 12,5-35 µg/ml;

sự tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn ở các khẩu phần ăn có bổ sung thêm tỏi

và khơng bổ sung thêm là khác nhau, việc bổ sung thêm tỏi tươi vào khẩu phần

thức ăn của gà phòng được bệnh tiêu chảy do vi khuẩn E.coli gây ra [20].



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×