Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số nội dung cơ bản về kỹ năng

Một số nội dung cơ bản về kỹ năng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo tác giả Phan Quốc Lâm, kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức

(phương thức hành động chung – khái niệm, hiểu biết) để giải quyết một nhiệm vụ,

tình huống mới có bản chất với tình huống điển hình nhưng bị che lấp bởi những

yếu tố không bản chất, khơng quan trọng. Nói cách khác, kĩ năng là con đường,

cách thức để tri thức lý thuyết trở lại thực tiển. Kĩ năng bao giờ cũng phải dựa trên

một cơ sở hiểu biết (mục đích, cách thức, và những điều kiện để giải quyết nhiệm

vụ…), đó là kiến thức của chủ thể.[]

Theo Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998): “ Kĩ năng –

khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp, …) để giải quyết

một nhiệm vụ mới” [10, tr.80].

Trong từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn, kỹ năng là “năng

lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể

lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng. Ở mức độ kỹ năng, cơng việc

hồn thành trong điều kiện hồn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác

chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng. Kỹ năng được hình thành

qua luyện tập” [6].

Từ những khái niệm trên cho thấy rằng:

+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng. Tri thức ở đây bao

gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động.

+ Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân.

+ Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm

đạt được mục đích đã đặt ra.

Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng hiệu

quả những tri thức, kinh nghiệm về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh

hội để thực hiện những hành vi tương ứng một cách hiệu quả.

1.2. Đặc điểm của kỹ năng

- Mức độ tham gia của ý chí cao.

- Hành động ln có sự kiểm tra của thị giác.

- Chưa bao quát toàn bộ hành động, thường chú ý ở phạm vi hẹp hay động

tác đang làm.

- Tốn nhiều năng lượng thần kinh và cơ bắp.

1.3. Phân loại kỹ năng

Người ta phân kỹ năng thành hai loại cơ bản là: Kỹ năng cứng và Kỹ năng

mềm. Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường

hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng. Kỹ năng mềm là loại kỹ năng mà chúng



5



ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp. Kỹ năng mềm là

loại kỹ năng vô cùng phong phú và quan trọng. Để thành công trong cuộc sống, chúng

ta cần có hai loại kỹ năng cứng và kỹ năng mềm..cần phải vận dụng linh hoạt và phù

hợp hai loại kỹ năng cơ bản này trong cuộc sống và công việc. Hiện nay, nhiều ý kiến

khoa học cho rằng: Kỹ năng mềm quyết định 75% sự thành đạt.

Có khá nhiều quan niệm hay định nghĩa khác nhau về Kỹ năng mềm tùy theo

lĩnh vực nghề nghiệp, góc nhìn chun mơn, ngữ cảnh, phát biểu và thậm chí là việc

đặt thuật ngữ này bên cạnh những thuật ngữ nào.

a. Kỹ năng cứng

b. Kỹ năng mềm

Hiểu một cách đơn giản “Kỹ năng mềm là những kỹ năng con người tích

lũy được để làm cho mình dẽ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt

được hiệu quả”.

Tác giả Forland, Jeremy định: “Kỹ năng mềm là một thuật ngữ thiên về mặt

xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng ngơn ngữ giao tiếp, khả

năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người

với người. Nói khác, đó là kỹ năng liên quan đến việc con người hòa mình, chung

sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng” [].

Tác giả Giusoppe Giusti cho rằng: “Kỹ năng mềm là những biểu hiện cụ thể

của năng lực hành vi, đặc biệt là những kỹ năng cá nhân hay kỹ năng con người. Kỹ

năng mềm thường gắn liền với những thể hiện của tính cách cá nhân trong một

tương tác cụ thể, đó là kỹ năng chuyên biệt rất "người" của con người” [].

Nhà nghiên cứu N.J. Pattrick định nghĩa: “Kỹ năng mềm là khả năng, là cách

thức chúng ta tiếp cận và phản ứng với mơi trường xung quanh, khơng phụ thuộc và

trình độ chuyên môn và kiến thức. Kỹ năng mềm không phải là yếu tố bẩm sinh về

tính cách hay là những kiến thức của sự hiểu biết lí thuyết mà đó là khả năng thích

nghi với mơi trường và con người để tạo ra sự tương tác hiệu quả trên bình diện cá

nhân và cả công việc” [].

Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa thì cho rằng: “Kỹ năng mềm là

thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc như: một số nét tính

cách (quản lí thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới), sự tế

nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, kỹ năng làm việc theo

nhóm... Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ với người khác.

Những kỹ năng này là thứ thường không được học trong nhà trường, không liên

quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, nhưng không phải là kỹ năng

6



đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người. Kỹ năng mềm quyết

định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc” [].

Như vậy, có thể nói có khá nhiều định nghĩa khác nhau về Kỹ năng mềm.

Dựa vào những cơ sở phân tích trên, định nghĩa Kỹ năng mềm: “Kỹ năng mềm là

khả năng thiên về mặt tinh thần của cá nhân nhằm đảm bảo cho q trình thích ứng

với người khác, cơng việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ

thực hiện cơng việc một cách hiệu quả”.

1.4. Mối quan hệ giữa năng lực, kiến thức, kỹ năng và thái độ

Một năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kĩ năng và thái

độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối

cảnh thực và có nhiều biến động. Để thực hiện một nhiệm vụ, một cơng việc

có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thơng

qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần chuyển hóa những kiến thức,

kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra

trong mơi trường mới.

Như vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là

nguồn lực để người học tìm được giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ

hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp. Khả năng đáp ứng

phù hợp với bối cảnh thực là đặc trưng quan trọng của năng lực, tuy nhiên,

khả năng đó có được lại dựa trên sự đồng hóa và sử dụng có cân nhắc những

kiến thức, kĩ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể.

Những kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực là

những kiến thức mà người học phải năng động, tự kiến tạo, huy động được.

Việc hình thành và rèn luyện năng lực được diễn ra theo hình xốy trơn ốc,

trong đó các năng lực có trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới; và

đến lượt mình, kiến thức mới lại đặt ra cơ sở để hình thành những năng lực

mới.

Kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành,

vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong

một mơi trường quen thuộc. Kĩ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến

thức, những hiểu biết và trải nghiệm,... giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn

cảnh thay đổi.



7



Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong mỗi

lĩnh vực hoạt động nào đó. Khơng thể có năng lực về tốn nếu khơng có kiến

thức và được thực hành, luyện tập trong những dạng bài toán khác nhau. Tuy

nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc

đã được coi là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn

kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện

thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn

khi điều kiện và bối cảnh thay đổi.

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng []

Theo:

- Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn sàng hay bị

che phủ bởi những yếu tố phụ làm chệch hướng tư duy có ảnh hưởng đến sự hình

thành kỹ năng.

- Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng. Vì thế,

tạo ra tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp cho học sinh dễ dàng trong việc hình

thành kỹ năng.

- Có khả năng khái qt đối tượng một cách tồn thể.

1.6.Sự hình thành kỹ năng[]

- Thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho HS nắm vững

một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin

chứa đựng trong bài tập, nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể.

- Muốn vậy, khi hình thành kỹ năng cho HS cần:

+ Giúp cho HS biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm

và mối quan hệ giữa chúng.

+ Giúp HS hình thành mơ hình khái qt để giải quyết các bài tập, các đối

tượng cùng loại.

+ Xác lập được mối liên hệ giữa bài tập mơ hình khái quát và các kiến thức

tương xứng.

2. Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học rèn luyện kỹ năng

phát hiện và giải quyết vấn đề

2.1.Quan điểm về kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề

2.2.1 Quan điểm về vấn đề

Theo Nguyễn Bá Kim (2004) để hiểu đúng thế nào là một vấn đề, ta bắt đầu

từ khái niệm hệ thống.

- Hệ thống: Là một tập hợp gồm những phần tử cùng với những quan hệ

giữa những phần tử của tập hợp đó.



8



- Tình huống: Là một hệ thống phức tạp gồm chủ thể và khách thể, trong đó

chủ thể là người còn khách thể là một hệ thống nào đó.

- Tình huống bài tốn: Là tình huống mà chủ thể chưa biết ít nhất một phần

tử của khách thể. Lúc này tình huống còn được gọi là tình huống bài tốn đối với

chủ thể.

- Bài tốn: Trong một tình huống bài tốn, nếu chủ thể đặt ra mục đích tìm

phần tử chưa biết nào đó dựa vào một số những phần tử cho trước ở trong khách thể

thì ta có một bài tốn.

- Vấn đề: Một bài toán được gọi là vấn đề nếu chủ thể chưa hề có trong tay

một thuật giải nào đó để tìm ra phần tử chưa biết của bài toán.

Theo từ điển của Hồng Phê thì : “Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên

cứu, giải quyết” .

Như vậy, vấn đề là một tình huống được chủ thể chấp nhận giải quyết bằng

những “vốn” sẵn có của mình. Ở đây chúng ta hiểu “vốn” sẵn có là những tri thức,

kĩ năng, phương thức đã có sẵn nhờ kinh nghiệm sống, nhờ tích luỹ trong q trình

học tập. Vấn đề ở đây được hiểu khác so với vấn đề trong nghiên cứu khoa học.

Trong nghiên cứu khoa học, thuật giải không chỉ riêng đối với chủ thể mà cả nhân

loại đều chưa biết và chủ thể đang đi tìm thuật giải đó. Nhưng trong dạy học chỉ có

HS chưa biết thuật giải còn cả nhân loại đều đã biết thuật giải đó.

Một điều cần chú ý là vấn đề là một bài tốn nhưng nhiều khi một bài tốn

có thể khơng phải là một vấn đề. Một bài toán chỉ trở thành có vấn đề khi trong tay

chủ thể chưa có thuật giải, còn đối với những bài tốn mà chỉ u cầu chủ thể áp

dụng những thuật giải vào các tình huống khác nhau thì đó khơng phải là vấn đề. Và

một bài tốn có thể là vấn đề đối với đối tượng này nhưng lại không phải là vấn đề

đối với đối tượng khác.

2.2.2 Quan điểm về kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề

Một định nghĩa chung và được chấp nhận rộng rãi về giải quyết vấn đề:

“Giải quyết vấn đề là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống

khơng có quy trình, thủ tục, giải pháp thơng thường có sẵn. Người giải quyết vấn đề

có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức

biết cách làm thế nào để đạt được nó. Sự am hiểm tình huống vấn đề, và lý luận dẫn

việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thành quá trình

giải quyết vấn đề” [2, tr. 48]



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số nội dung cơ bản về kỹ năng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×