Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TIN HỌC LỚP 11

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TIN HỌC LỚP 11

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong quá trình giải quyết vấn đề, GV cũng nên đặt những câu hỏi nhằm định hướng

cho HS đi đúng hướng để GQVĐ.

Ví dụ

- Lớp học nên có nhiều cửa sổ, khơng khí thống mát, bàn ghế phù hợp với

HS (tỉ lệ chiều cao giữa bàn với ghế,…)….

- Khi GV dạy bài tập và thực hành 5, đề bài ví dụ 1: Kiểm tra 1 xâu có phải

là xâu đối xứng không. Câu b yêu cầu HS kiểm tra xâu đối xứng mà không sử dụng

biến p (biến đảo của biến đã cho). Lúc này, GV đặt vấn đề, đưa ra câu hỏi định

hướng cho HS và để HS tự do nêu ra các ý tưởng giải quyết bài toán này. Mỗi khi

HS đưa ra ý tưởng, GV chỉ ra phần chưa hợp lý và gợi ý HS sửa chữa dẫn đến lời

giải đúng.

1.2.Xây dựng các tính huống gợi vấn đề, vấn đề phù hợp với khả năng

của học sinh

1.2.1 Mục đích, ý nghĩa

Tình huống gợi vấn đề là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí

luận hay thực tiễn mà HS thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng khơng phải

ngay tức khắc nhờ một thuật toán hay dựa theo một cách làm nào đó đã biết mà phải

trải qua một q trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoặc điều

chỉnh kiến thức sẵn có [PPDH mơn tốn - Nguyễn Bá Kim (CB)].

Nếu HS có thể tìm được cách giải quyết vấn đề mà GV đưa ra thì các em sẽ

cố gắng giải quyết các vấn đề khác khó hơn. Từ đó các em sẽ tích cực tham gia giải

quyết vấn đề và kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề của các em sẽ được rèn

luyện và nâng cao.

1.2.2 Cách thực hiện

GV nên đưa ra các vấn đề có mức độ từ dễ đến khó, vừa sức với trình độ của

HS. Ngồi câu hỏi chính là u cầu lời giải của bài tốn thì GV nên đưa ra những

câu hỏi mở, có nhiều đáp án để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề cũng như có có hội

thảo luận với nhau.

GV có thể xây dựng tình huống gợi vấn đề qua các cách sau [9]:

- Lật ngược vấn đề: GV đưa ra vấn đề đảo của vấn đề mà HS đã giải quyết được.

Ví dụ: Khi dạy bài cấu trúc rẽ nhánh, sau khi HS đã biết câu trúc if … else

để giải bài toán có nhiều trường hợp. GV đưa ra vấn đề là nếu khơng sử dụng if …

else thì chúng ta giải bài tốn bằng cách nào?

- Xét tương tự:

Ví dụ: từ bài tốn viết chương trình tính độ dài của một đoạn thẳng khi biết

tọa độ của hai điểm đầu mút, GV cho HS bài tốn mới: viết chương trình nhập vào

24



tọa độ của n điểm (khơng có 3 điểm nào thẳng hàng), tính tổng độ dài của các đoạn

thẳng được tạo ra.

- Khái qt hóa:

Ví dụ: HS đã biết cách tính diện tích một tam giác khi có tọa độ 3 đỉnh và tứ

giác khi có tọa độ 4 đỉnh. GV đưa ra bài tốn khái qt: tính diện tích của một đa

giác (n đỉnh).

- Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới

Ví dụ: khi dạy về Kiểu dữ liệu tệp, GV đưa chương trình nhập điểm của 1

lớp học, sử dụng kiểu mảng và để cho HS nhận xét những khó khăn khi nhập nhiều

dữ liệu: nhập nhiều dẫn đến sai sót, nhập lại, … từ đó GV giới thiệu sự cần thiết, vai

trò của kiểu dữ liệu mới: kiểu dữ liệu tệp.

- Giải bài tập mà HS chưa biết thuật giải: GV đưa ra một bài toán mà HS

chưa biết thuật giải (lưu ý: bài tốn khơng q sức đối với HS).

- Tìm sai lầm trong lời giải và sửa chữa sai lầm đó

Ví dụ: Khi dạy bài Thực hành 5 Tin học 11, GV yêu cầu HS nhập chương

trình Bài tập 1, chạy và kiểm tra kết quả. Trường hợp HS nhập xong và chạy ra kết

quả sai (xâu nhập là xâu đối xứng nhưng kết quả hiện ra màn hình là xâu khơng đối

xứng), GV chiếu bài của HS đó lên cho cả lớp xem, tìm và sửa lỗi.

Với cách tạo tình huống gợi vấn đề “Giải bài tập mà HS chưa biết thuật

giải” thì HS sẽ khơng được rèn luyện kỹ năng phát hiện vấn đề. Vì khi GV đưa ra

một bài toán mà HS chưa biết thuật giải để giải trực tiếp và yêu cầu HS giải thì lúc

này HS được đặt vào một tình huống gợi vấn đề. Hơn thế nữa, nếu HS gặp phải

nhiều bài toán xa lạ và khơng biết thuật giải thì sẽ dễ dẫn đến nhàm chán, không gợi

nhu cầu nhận thức và khơi dậy niềm tin vào khả năng huy động kiến thức, kỹ năng

của bản thân HS hoặc sẽ bị giảm sút. Và trong trường hợp này, tình huống vấn đề

GV đưa ra khơng được coi là tình huống gợi vấn đề.

Trong q trình GQVĐ, nếu vấn đề q khó sẽ dẫn đến việc HS chán nản và

bỏ cuộc vì thế, GV nên đưa ra những vấn đề phù hợp với trình độ của HS, theo mức

độ từ dễ đến khó để HS có thể giải quyết được. Khi đó các em sẽ sẵn sàng tiếp nhận

và giải quyết các vấn đề khó hơn.

1.3.Gợi động cơ - Giúp HS phát hiện, tiếp cận các vấn đề từ thực tiễn

Những vấn đề từ thực tiễn sẽ giúp cho HS có hứng thú, tạo động lực cho HS

GQVĐ. Ví dụ việc tính điểm trung bình các mơn học của 1 lớp, nếu ngồi bấm máy

tính sẽ tốn nhiều thời gian và dễ sai. Chúng ta có thể viết 1 chương trình để nhờ

máy tính tính giúp. Nhưng nếu sử dụng dữ liệu kiểu mảng hay kiểu xâu thì cũng rất

25



mất thời gian, đang nhập thì mất dữ liệu,… Từ đó cần 1 kiểu dữ liệu mới: kiểu dữ

liệu tệp.

1.4.Sử dụng phương pháp dạy học khám phá

1.4.1 Đưa ra những câu hỏi gợi ý, dẫn dắt, kích thích tư duy của học sinh

GV khơng nên chỉ ra cho HS giải pháp trực tiếp tìm ra kết quả mà nên hỏi

những câu hỏi gợi ý, có tính định hướng, cho HS có thời gian suy nghĩ, thảo luận

với nhau và nên đưa ra những câu hỏi mở để động viên các em tích cực giải quyết

vấn đề.

1.4.2 Tổ chức hoạt động học tập của HS theo nhóm nhỏ

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, sử dụng hình thức tổ chức dạy

học theo nhóm nhỏ để HS hợp tác với nhau giải quyết những nhiệm vụ mà GV đưa

ra. Nhiệm vụ của mỗi nhóm là đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề và phản biện lại

các nhóm khác. Điều này phát triển kỹ năng giao tiếp, cộng tác và hoạt động tư duy

của HS. Tuy nhiên, GV không nên tổ chức dạy học theo nhóm thường xun, vì nó

sẽ khơng phát triển được kỹ năng độc lập giải quyết vấn đề của HS.

1.5.Cung cấp cho HS kĩ thuật khi giải quyết vấn đề

Giúp HS biết cách sử dụng sơ đồ khối hay hình vẽ trong khi GQVĐ.

- Việc sử dụng hình vẽ hay sơ đồ khối để biểu diễn thuật toán phức tạp hơn

việc trình bày bằng lời. Tuy nhiên, việc này lại giúp HS hiểu rõ hơn input, output

của bài toán, quy trình của thuật tốn và mối quan hệ giữa các đối tượng.

1.6.Tổ chức hoạt động trò chơi

1.6.1. Mục đích, ý nghĩa

- Ai cũng thích chơi. Với mơn Tin lớp 11, khi học những kiến thức lập trình

Pascal, HS cảm thấy kiến thức quá trừu tượng, thực hành thì chỉ biết chép SGK mà

khơng hiểu, khơng biết mơn học có giúp ích gì trong thực tế. Điều này tạo áp lực và

khiến các em cảm thấy chán nản, không sẵn sàng tiếp nhận tri thức. Vì vậy kết hợp các

trò chơi trong quá trình dạy là một biện pháp tốt tạo môi trường học sôi động, cởi mở,

hứng thú, cảm giác thoải mái, giúp các em tiếp thu môn Tin một cách tốt hơn.

- Trong trò chơi, chính HS là người kiến tạo tri thức, tự các em hình thành

hoặc điều chỉnh kiến thức của mình để đáp ứng yêu cầu mà tình huống đưa ra, chứ

khơng phải do GV truyền thụ.

1.6.2 Cách thực hiện

GV có thể tổ chức trò chơi:

- Vào đầu giờ, kiểm tra bài cũ:

- Để củng cố bài:



26



Ví dụ: Để củng cố hoặc kiểm tra bài cũ bài: Kiểu xâu có thể cho HS chơi trò ơ

chữ, trắc nhiệm hay đoán từ (một HS lên bốc thăm nội dung 1 câu lệnh hay tên câu lệnh,

sau đó diễn tả cho bạn của mình mà khơng sử dụng những từ có trong tờ giấy).

4. Soạn giảng vận dụng các biện pháp đã đề xuất trong dạy học Tin học

11 THPT

4.1 Chương V: Tệp và các thao tác với tệp - Bài 14+15: Kiểu dữ liệu tệp

và thao tác với tệp (1 tiết)

BÀI 14 + 15: KIỂU DỮ LIỆU TỆP VÀ THAO TÁC VỚI TỆP

I. Mục đích, yêu cầu

1. Kiến thức

Học sinh nắm được:

- Khái niệm và vai trò của kiểu tệp.

- Hai cách phân loại tệp: theo cách tổ chức dữ liệu và theo cách truy cập.

- Hiểu bản chất của tệp văn bản.

- Biết các bước làm việc với tệp: gán tên cho biến tệp; mở tệp; đọc ghi tệp;

đóng tệp.

2. Kỹ năng

- Biết khai báo biến tệp và các thao tác cơ bản làm việc với tệp văn bản.

- Sử dụng một số hàm và thủ tục chuẩn làm việc với tệp.

3. Thái độ

- Thấy sự cần thiết và tiện lợi của kiểu dữ liệu tệp.

- Giáo dục ý thức lưu trữ dữ liệu phòng chống mất mát dữ liệu.

4. Năng lực

- Năng lực tư duy.

- Năng lực ngôn ngữ.

- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.

II. Phương pháp

Phương pháp dạy học mới: Sử dụng các bước của dạy học phát hiện và giải

quyết vấn đề kết hợp một số biện pháp:

- Tạo môi trường học tập để tất cả học sinh trong lớp đều được phát triển.

- Giúp HS phát hiện, tiếp cận các vấn đề từ thực tiễn.

- Xây dựng các tính huống gợi vấn đề, vấn đề phù hợp với khả năng của HS.

- Tổ chứ hoạt động của HS theo nhóm nhỏ

- Tổ chức hoạt động trò chơi.

- Kết hợp các phương pháp: vấn đáp, thuyết trình.

III. Chuẩn bị

1. Giáo viên: SGK Tin Học lớp 11, Giáo án Tin học 11 bài 14, 15, máy tính.

2. Học sinh: SGK Tin Học lớp 11, vở lý thuyết, đọc trước bài.

IV. Tiến trình lên lớp, nội dung bài giảng

1. Ổn định lớp

- Ổn định lớp

- Kiểm tra sĩ số: Yêu cầu lớp trưởng báo cáo sĩ số.

2. Kiểm tra bài cũ (kết hợp trong quá trình giảng dạy)



27



3.Nội dung

Giai đoạn 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề

Hoạt động của

Hoạt động của GV

Nội dung

HS

- GV: Chiếu 1 chương trình

- HS lên bảng

lên bảng. Cơ có 1 chương



chạy chương



trình Nhập vào họ tên học



trình.



sinh, điểm tốn của một lớp

và tính trung bình cộng điểm

tốn của lớp đó. Sau đó GV

u cầu 1 HS lên bảng chạy

thử chương trình với bộ số

mẫu.

- GV (?): Bài toán này sử

dụng dữ liệu kiểu mảng để

lưu tên học sinh và điểm

tốn. Theo em khi chạy

chương trình này, em gặp

những khó khăn gì?Và sau

khi tính xong điểm trung

bình, chúng ta có lưu lại

được khơng?



- HS trả lời: Khi

chạy chương

trình này sẽ mất

nhiều thời gian

để nhập dữ liệu,

số lần nhập

nhiều dễ dẫn

đến sai sót, khi

đó thì phải nhập

lại hồn tồn.

Sau khi tính

xong điểm trung

bình thì khơng

lưu lại được.



- GV: Vậy vấn đề đặt ra ở đây

là chúng ta cần có 1 kiểu dữ

liệu mới khắc phục được các

nhược điểm trên. Đó là kiểu

28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TIN HỌC LỚP 11

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×