Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hoàn thiện quy trình thanh toán tín dụng chứng từ

Hoàn thiện quy trình thanh toán tín dụng chứng từ

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhiều chi phí càng tốt, trên cơ sở đó giảm mức phí dịch vụ đáp ứng khả năng cạnh

tranh của ngân hàng.

1.1.



Hồn thiện thanh tốn L/C hàng xuất



Trong nghiệp vụ thanh tốn L/C hàng xuất thì thơng thường các ngân hàng của

nước xuất khẩu thường đóng vai trò là ngân hàng thông báo. Sự hiệu quả trong hoạt

động của ngân hàng thơng báo sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng của mình, cũng

như lợi ích cho quốc gia. Vì vậy trong q trình thực hiện nếu thấy có dấu hiệu bất

ổn thì ngân hàng phải thơng báo nhanh chóng và đầy đủ nhất.

Ngân hàng thông báo tham gia vào phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ

với tư cách là ngân hàng cung ứng dịch vụ thu phí và khơng bị ràng buộc trách

nhiệm phải thanh tốn. Tuy nhiên quyền lợi luôn đi đôi với nghĩa vụ. Trong thực tế

ngân hàng thơng báo có thể nhận được thư tín dụng bằng điện (Telex, Swift) không

đầy đủ và không rõ ràng có thể do sai mã test hoặc khơng xác định được mẫu điện,

trong trường hợp này NHTB phải yêu cầu NHPH mở lại thư tín dụng đó hoặc cung

cấp mã test chính xác nhằm phòng ngừa gặp phải thư tín dụng giả. Nếu ngân hàng

thơng báo được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo cho người xuất khẩu ở

nước thứ ba không phải là nước mà ngân hàng thông báo đang hoạt động mà ngân

hàng thông báo không muốn thơng báo những thư tín dụng kiểu như thế thì phải gửi

ngay lập tức quyết định của mình cho ngân hàng mở biết một cách kịp thời bằng

phương tiện thơng báo nhanh nhất mà ngân hàng hiện có.

Ngồi tư cách là ngân hàng cung ứng dịch vụ thu phí, ngân hàng thơng báo

còn có thể được u cầu xác nhận thư tín dụng. Trong trường hợp này ngân hàng

xác nhận sẽ phải gánh chịu rủi ro cùng ngân hàng mở. Nghiệp vụ này chỉ được thực

hiện với những ngân hàng mở được Ngân hàng VCB cấp tín dụng, có uy tín hoặc có

quan hệ làm ăn lâu năm với Ngân hàng VCB. Tuy nhiên vẫn có thể xác nhận đối với

các ngân hàng mở không phải là khách hàng quen thuộc nhưng phải nghiên cứu kỹ

khách hàng và yêu cầu được chiết khấu tồn bộ chứng từ nhằm phòng tránh khả

năng bộ chứng từ bị từ chối thanh toán. Đối với những quốc gia tình hình tài chính

khơng ổn định, khủng hoảng kinh tế có thể dẫn đến việc hàng loạt các tổ chức tài

chính, tín dụng bị đóng cửa. Với những L/C được mở ở ngân hàng những nước này

khơng nên chiết khấu chứng từ vì độ rủi ro là rất cao.



35



Trong nghiệp vụ chiết khấu chứng từ hiện nay thì Ngân hàng VCB mới chỉ áp

dụng phổ biến là hình thức chiết khấu truy đòi, còn hình thức chiết khấu miễn truy

đòi được áp dụng chưa nhiều. Sở dĩ như vậy, bởi vì trong hồn cảnh hiện nay Ngân

hàng VCB chưa hoàn toàn đủ điều kiện để áp dụng hình thức chiết khấu có khả

năng rủi ro cao này. Những trường hợp áp dụng hình thức chiết khấu miễn truy đòi

đều đem lại thiệt hại ít nhiều cho ngân hàng .Tuy nhiên, trong tương lai ngân hàng

nên đưa ra hình thức này để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, tạo uy tín và

lòng tin cậy trong khách hàng. Khơng phải vì nó có nhiều rủi ro mà ta khơng áp

dụng, mà ta phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ lưỡng về nó sao cho khi hoạt động thì sẽ

hạn chế được rủi ro xuống mức thấp nhất. Để ngăn ngừa rủi ro trong chiết khấu

chứng từ cần phải chuẩn bị kỹ những điều kiện khách quan và chủ quan cho nó.

Xuất phát từ yêu cầu khách quan là khả năng thanh toán của các bên, ngân hàng cần

xây dựng cho mình một hệ thống thơng tin gồm các kênh nội bộ và kênh ngoài ngân

hàng. Trong nội bộ ngân hàng cần có sự kết hợp giữa các phòng chức năng, giữa

các ngân hàng VCB trong cùng hệ thống. Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần thiết lập

một hệ thống thông tin giữa các ngân hàng về tình hình vay nợ, uy tín của doanh

nghiệp, phát huy hiệu quả của bộ máy thông tin giữa các ngân hàng đại lý để có

thơng tin chính xác về ngân hàng mở thư tín dụng và nhà xuất khẩu. Nếu các kênh

thông tin này được tổ chức tốt ngân hàng còn biết được xu hướng của thị trường

trong thời gian tới.

Cụ thể, ngân hàng cần thông qua hệ thống thông tin để nghiên cứu tình hình

kinh tế chính trị của nước nhà nhập khẩu để quyết định chấp nhận hay từ chối chiết

khấu cho bộ chứng từ của nhà xuất khẩu. Đối với những quốc gia đang có nội chiến,

chiến tranh sắc tộc hay tình hình chính trị khơng ổn định, khủng hoảng kinh tế thì

ngân hàng khơng nên chiết khấu bộ chứng từ vì rủi ro cao. Hơn nữa, ngân hàng

cũng cần xem xét đến các yếu tố như:

- Uy tín của nhà xuất khẩu, thực trạng hoạt động và khả năng trả nợ của nhà

xuất khẩu. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định đối với ngân hàng để đưa ra

quyết định đồng ý hay từ chối chiết khấu bộ chứng từ.

- Khả năng thanh toán của ngân hàng mở.

- Loại hàng hoá và mức biến động giá cả của loại hàng hoá này trên thị trường.

- Mối quan hệ giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.



36



- Đối với những tín dụng thư có điều khoản mập mờ rối rắm dễ phát sinh tranh

chấp, ngân hàng khơng nên chiết khấu bộ chứng từ vì rủi ro cao.

1.2.



Hồn thiện quy trình thanh tốn L/C hàng nhập



Trong quy trình này chúng ta cần chú ý tới một số vấn đề cơ bản liên quan tới

rủi ro trong thanh tốn thư tín dụng hàng nhập sau đây:

* Định mức ký quỹ một cách hợp lý

Định mức ký quỹ một cách hợp lý là điều kiện tốt nhất để ngân hàng hạn chế

và tránh được rủi ro trong quá trình thanh tốn hàng nhập. Bởi vì trong trường hợp

này ngân hàng thường đóng vai trò là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc là ngân hàng

bảo đảm việc thanh tốn của ngân hàng mở cho người xuất khẩu khi họ trình được

bộ chứng từ hợp lệ. Nếu khơng có khoản ký quỹ thì người nhập khẩu có thể khơng

thanh tốn cho ngân hàng khi mà ngân hàng đã thanh toán cho người xuất khẩu.

Tuy nhiên định mức ký quỹ là một việc làm không đơn giản bởi lẽ với mức ký

quỹ q cao thì sẽ gây khó khăn cho nhà nhập khẩu, nhà nhập khẩu sẵn sàng từ bỏ

ngân hàng chuyển sang quan hệ với ngân hàng khác chấp nhận mức ký quỹ thấp

hơn, như vậy là đã làm giảm uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong thời

buổi kinh tế thị trường như hiện nay. Còn nếu định mức ký quỹ quá thấp sẽ không

đảm bảo thực hiện cam kết của khách hàng và nếu không may có rủi ro xẩy ra thì

hậu quả của nó sẽ rất lớn. Việc đưa ra định mức ký quỹ hợp lý cần phải được các

chuyên gia nghiên cứu kỹ, căn cứ vào những yếu tố sau đây:

- Uy tín và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu: điều này được thẩm

định thơng qua q trình làm ăn lâu dài với khách hàng, nếu có uy tín sẵn thì ngân

hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ thấp để giữ quan hệ lâu dài. Còn nếu mới quan

hệ hoặc quan hệ lần đầu thì phải tìm kiếm thơng tin về khách hàng, kiểm tra tài

khoản của khách hàng, nhưng để hạn chế rủi ro thì chúng ta vẫn phải đặt mức ký

quỹ cao, thậm trí có thể lên tới 100% so với giá trị của thư tín dụng. Trong trường

hợp có người bảo lãnh thì cần phải xem xét mức độ uy tín của người bảo lãnh để

định mức, đồng thời cũng phải có những ký kết cụ thể với người bảo lãnh.

- Khả năng tiêu thụ hàng nhập về: Với những mặt hàng nhập về cho mục

đích kinh doanh, phải tìm hiểu và cân nhắc xem khả năng tiêu thụ của lơ hàng đó

như thế nào. Liệu nó có phù với thị hiếu hay khơng, liệu có được người mua chấp



37



nhận hay không, khả năng thu hồi vốn trong khoảng thời gian là bao lâu...Tuỳ theo

khả năng tiêu thụ cao hay thấp mà ngân hàng sẽ đưa ra mức ký quỹ cho phù hợp.

- Hiệu quả kinh tế của lô hàng nhập về: Định mức ký quỹ phải cao hơn tỷ

suất lợi nhuận mà lô hàng mang lại bởi vì trong trường hợp nhà nhập khẩu thế chấp

bằng cả lơ hàng khơng có khả năng thanh tốn cho ngân hàng mở thì ngân hàng khi

ấy sẽ có quyền định đoạt với lô hàng. Giá chuyển nhượng phải làm sao đảm bảo cho

ngân hàng thanh tốn với nước ngồi.

- Tỷ lệ trượt giá của đồng tiền: Trong thời kỳ tỷ giá biến động mạnh, ngân

hàng phải dự đốn tình hình, từ đó điều chỉnh mức ký quỹ để tránh rủi ro về tỷ giá.

Tỷ lệ điều chỉnh phải tương ứng với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong thờ gian tới.

Đây là một yếu tố còn tương đối khó khăn với các ngân hàng ta hiện nay. Thường

thì các ngân hàng chưa quan tâm tới yếu tố này nhiều.

*Cần liên hệ chặt chẽ với khách hàng để hạn chế rủi ro và lừa đảo thương

mại

Khi nhận được bộ chứng từ, Ngân hàng VCB nên liên hệ với người mua để

nắm vững thông tin xem người bán giao hàng như thế nào? Người mua có sẵn sàng

thanh tốn hay khơng? Nếu bộ chứng từ thanh tốn hồn tồn phù hợp nhưng hàng

hố lại có vấn đề thì phải giải thích với người mua là nghĩa vụ của ngân hàng là

phải thanh toán đồng thời đề nghị người mua tiếp xúc với người bán để khiếu nại.

Nếu hàng hố khơng giao nhưng vẫn có bộ chứng từ xuất trình thì phải ngưng ngay

việc thanh tốn, nếu cần phải có sự can thiệp của luật pháp. Những trường hợp như

vậy cần có cơng văn của người mua gửi cho ngân hàng.

*Cân nhắc các điều kiện đảm bảo thanh tốn

Trong q trình vận chuyển hàng hoá và sự chu chuyển của bộ chứng từ nhiều

khi xẩy ra trường hợp hàng hoá đến trước bộ chứng từ, trong trường hợp này nếu để

quá thời gian gia ân thì nhà nhập khẩu sẽ phải chịu thêm chi phí kho bãi. Do đó, để

đề phòng trường hợp này xẩy ra thì các nhà nhập khẩu thường đề nghị ngân hàng

cho phép 1/3 của bộ chứng từ được gửi trực tiếp cho nhà nhập khẩu, 2/3 của bộ

chứng từ còn lại sẽ được chuyển qua ngân hàng mở thư tín dụng. Như thế thì nhà

nhập khẩu có thể lấy được vận đơn trước để nhận hàng và khi nhận hàng rồi thì họ

có thể từ chối thanh toán, gây thiệt hại cho ngân hàng. Khi ấy trong trường hợp này

nếu chấp nhận điều kiện đó của nhà nhập khẩu thì nhất thiết vận đơn phải theo lệnh

của ngân hàng mở để đảm bảo quyền định đoạt và kiểm sốt bộ chứng từ cho ngân



38



hàng mở thơng qua hình thức ký hậu. Nếu nhà nhập khẩu lại yêu cầu vận đơn theo

lệnh của nhà nhập khẩu thì phải có biện pháp quản lý chặt chẽ tài khoản tiền gửi và

tài khoản tiền vay của khách hàng.

*Xem xét các điều kiện đòi tiền

Đòi tiền bằng điện là hình thức trong đó bảo lưu quyền đòi lại. Nghĩa là sau

khi đã chuyển tiền bằng điện thanh toán cho bán, nếu bộ chứng từ có lỗi và nhà

nhập khẩu từ chối thanh tốn thì ngân hàng mở có quyền đòi nhà nhập khẩu trả lại

tiền. Tuy nhiên trong thực tế khả năng hoàn lại tiền của nhà xuất khẩu là rất khó,

còn tuỳ thuộc vào thiện chí của họ và khó tránh khỏi những tranh chấp xẩy ra. Vì

thế ngân hàng có thể đưa ra các diều kiện đòi tiền trong thư tín dụng cho nhà xuất

khẩu, chẳng hạn như yêu cầu nhà xuất khẩu cho phép ngân hàng mà nhà xuất khẩu

mở tài khoản được phép can thiệp khi có trường hợp đòi lại tiền, khi ấy sự làm việc

giữa các ngân hàng sẽ thuận tiện hơn, nhất là khi nhân hàng của nhà xuất khẩu có

tài khoản tại ngân hàng mở.

2. Giải pháp chiến lược khách hàng

Với phương châm “ngân hàng tồn tại bởi khách hàng”, chính sách khách

hàng có một vị trí hết sức quan trọng trong tồn bộ hoạt động của ngân hàng nếu

khơng nói là mang tính chất quyết định.

Trong tình hình xố bỏ sự độc quyền kinh doanh đối ngoại của Vietcombank,

sự ra đời của hàng loạt các NHTM cổ phần, công ty tài chính và nhất là sự góp mặt

của các chi nhánh ngân hàng nước ngồi, giải pháp về một chính sách khách hàng

đúng đắn sẽ là yếu tố quyết định vị trí của mỗi ngân hàng trong cuộc cạnh tranh

quyết liệt này. Thắng lợi của chính sách khách hàng là thắng lợi của sự kết hợp thực

hiện tốt một loạt các công tác khác nhau. Chiến lược khách hàng bao gồm những

nội dung sau:

3. Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

Một phong cách giao tiếp lịch sự văn minh lịch sự là nghệ thuật giữ khách

hàng có hiệu quả nhất. Sự quyết định lựa chọ ngân hàng của khách hàng trong giao

dịch phần nhiều là do thái độ giao tiếp của cán bộ ngân hàng. Khách hàng luôn cần

đến một ngân hàng khơng gây khó khăn cho họ, sẵn sàng hướng dẫn và giúp đỡ họ

trong mọi hoạt động giao dịch. Bên cạnh đó chúng ta cần đa dạng hố các loại hình



39



dịch vụ để phục vụ khách hàng cũng như thực hiện chính sách khách hàng linh hoạt

đối với từng đối tượng khách hàng. Ngân hàng nên có chính sách ưu tiên đối với

những khách hàng quen, làm ăn có uy tín, tạo cho họ những ưu đãi về vốn vay hay

khơng phải ký quỹ.v.v. Còn đối với mọi khách hàng khác ngân hàng cố gắng giảm

chi phí, điều kiện ký quỹ mở L/C sao cho phù hợp.

Ngân hàng nên coi lợi ích khách hàng cũng là lợi ích của mình, khi có những

tranh chấp xảy ra cần đấu tranh đến cùng để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng và

cũng là quyền lợi của chính mình. Ngân hàng cũng nên đóng vai trò tham mưu để

tránh bị động sau này.

4. Tăng cường công tác cố vấn khách hàng

4.1.



Đối với các đơn vị xuất khẩu



Các đơn vị xuất khẩu thường gây ra rủi ro cho ngân hàng thông báo, ngân

hàng chiết khấu khi họ lập bộ chứng từ không hồn hảo và bị từ chối thanh tốn. Để

tránh các rủi ro đó ngân hàng có thể cố vấn cho khách hàng đặt biệt là các khách

hàng mới hoặc ít tham gia vào các hợp đồng thương mại quốc tế ở một số vấn đề

sau đây:

*Cố vấn cho đơn vị xuất khẩu yêu cầu bên mua mở cho mình một thư tín

dụng đảm bảo nhất. Hiện nay loại thư tín dụng khơng huỷ ngang có xác nhận và

miễn truy đòi là có lợi nhất cho người bán. Tuy nhiên khơng nhất thiết trường hợp

nào cũng phải mở thư tín dụng xác nhận bởi vì chi phí xác nhận cao và bên nhập

khẩu phải ký quỹ tai ngân hàng mở, và nếu khó khăn với nhà nhập khẩu thì họ có

thể không thực hiện hợp đồng thương mại.

*Cố vấn cho đơn vị xuất khẩu trong việc chọn ngân hàng mở thư tín dụng

và ngân hàng thanh tốn, bời vì trong lĩnh vực này ngân hàng sẽ am hiểu hơn rất

nhiều so với nhà xuất khẩu. Những ngân hàng càng lớn, càng có uy tín, quan hệ tốt và

thường xun thanh tốn sòng phẳng thì việc thanh tốn sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn

*Cố vấn cho khách hàng cách thức đòi tiền bằng thư hay bằng điện. Thư

tín dụng cho phép đòi tiền bằng điện là loại có lợi hơn tất cả vì nó giúp cho mọi

giao dịch được tiến hành nhanh chóng góp phần rút ngắn thời gian thanh tốn, tạo

điều kiện tăng nhanh vòng quay của vốn.

*Cố vấn cho đơn vị xuất khẩu các điều kiện bất lợi của thư tín dụng như

thời hạn giao hàng, thời hạn thư tín dụng, các chứng từ mà khó khăn trong việc có



40



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hoàn thiện quy trình thanh toán tín dụng chứng từ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×