Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP CHO QUY TRÌNH THANH TOÁN L/C TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH

GIẢI PHÁP CHO QUY TRÌNH THANH TOÁN L/C TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH

Tải bản đầy đủ - 0trang

của khách hàng FDI lớn, các nhà đầu tư vào Việt Nam, các khách hàng thanh toán

quốc tế - tài trợ thương mại tiềm năng.

- Tập trung hoàn thiện và phát triển các sản phẩm, dịch vụ bán bn có tính

cạnh tranh, bổ sung các sản phẩm tư vấn, các sản phẩm định vị thị trường của VCB.

Phát triển sản phẩm bán buôn gắn liền với các chỉ tiêu kinh doanh; có các giải pháp

đặc thù chu từng nhóm sản phẩm/ khách hàng.

- Đa dạng hóa các sản phẩm bán lẻ, triển khai một số sản phẩm, dịch vụ mới.

- Nâng cao chất lượng dịch vụ đồng thời ban hành các cơ chế động lực cho các

cán bộ để thúc đẩy tăng thu phí dịch vụ.

*Hoạt động kinh doanh vốn và đầu tư

- Tăng cường đầu tư trái phiếu và giấy tờ có giá của Định chế tài chính, tập

trung đầu tư danh mục giấy tờ có giá kỳ hạn ngắn.

- Chú trọng tăng trưởng hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tăng cường lợi nhuận

kinh doanh ngoại tệ của các hoạt động chuyển đổi kinh doanh ngoại tệ năm 2019.

- Đẩy mạnh triển khai các sản phẩm phái sinh lãi suất và phái sinh hàng hóa.

- Quản lý, giám sát, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty con, công ty

liên kết và danh mục đầu tư dài hạn khác.

*Huy động vốn

- Chú trọng tăng trưởng nguồn tiền gửi giá rẻ, duy trì tỷ trọng tiền gửi KKH và

ngoại tệ ở mức tối thiểu tương ứng là 30% và 20%, cải thiện tỷ trọng huy động vốn

bán buôn trong tổng huy động vốn của SGD.

- Tăng cường quan hệ với các khách hàng là Tập đồn, Tổng cơng ty, Doanh

nghiệp lớn, các quỹ quản lý vốn tập trung, các cán Bộ/ngành có nguồn vốn lớn để

thiết lập, duy trì, gia tăng thị phần tiền gửi tại SGD.

- Điều chỉnh lãi suất huy động vốn linh hoạt cho một số địa bàn đặc thù có quy

mơ huy động vốn thấp,mức độ cạnh tranh huy động vốn cao.



II.



Đề xuất một số giải pháp



1. Hồn thiện quy trình thanh tốn tín dụng chứng từ

Quy trình thanh tốn là nhân tố tác động trực tiếp đến việc thanh tốn tín dụng

chứng từ. Dù sai sót nhỏ trong quy trình thực hiện cũng dẫn đến những rủi ro trong

thanh tốn. Vì thế ngân hàng cần phải thường xuyên thay đổi nâng cao sự hồn

thiện của quy trình thanh tốn. Hồn thiện quy trình thanh tốn tín dụng chứng từ

cần phải tiến hành sao cho thủ tục đơn giản, nhanh gọn nhưng vẫn chính xác, chặt

chẽ và có tính hấp dẫn cao, thu hút được khách hàng, đồng thời giảm được càng



34



nhiều chi phí càng tốt, trên cơ sở đó giảm mức phí dịch vụ đáp ứng khả năng cạnh

tranh của ngân hàng.

1.1.



Hoàn thiện thanh toán L/C hàng xuất



Trong nghiệp vụ thanh toán L/C hàng xuất thì thơng thường các ngân hàng của

nước xuất khẩu thường đóng vai trò là ngân hàng thơng báo. Sự hiệu quả trong hoạt

động của ngân hàng thông báo sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng của mình, cũng

như lợi ích cho quốc gia. Vì vậy trong q trình thực hiện nếu thấy có dấu hiệu bất

ổn thì ngân hàng phải thơng báo nhanh chóng và đầy đủ nhất.

Ngân hàng thông báo tham gia vào phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ

với tư cách là ngân hàng cung ứng dịch vụ thu phí và khơng bị ràng buộc trách

nhiệm phải thanh tốn. Tuy nhiên quyền lợi ln đi đôi với nghĩa vụ. Trong thực tế

ngân hàng thông báo có thể nhận được thư tín dụng bằng điện (Telex, Swift) khơng

đầy đủ và khơng rõ ràng có thể do sai mã test hoặc không xác định được mẫu điện,

trong trường hợp này NHTB phải yêu cầu NHPH mở lại thư tín dụng đó hoặc cung

cấp mã test chính xác nhằm phòng ngừa gặp phải thư tín dụng giả. Nếu ngân hàng

thông báo được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo cho người xuất khẩu ở

nước thứ ba không phải là nước mà ngân hàng thông báo đang hoạt động mà ngân

hàng thông báo không muốn thông báo những thư tín dụng kiểu như thế thì phải gửi

ngay lập tức quyết định của mình cho ngân hàng mở biết một cách kịp thời bằng

phương tiện thông báo nhanh nhất mà ngân hàng hiện có.

Ngồi tư cách là ngân hàng cung ứng dịch vụ thu phí, ngân hàng thơng báo

còn có thể được u cầu xác nhận thư tín dụng. Trong trường hợp này ngân hàng

xác nhận sẽ phải gánh chịu rủi ro cùng ngân hàng mở. Nghiệp vụ này chỉ được thực

hiện với những ngân hàng mở được Ngân hàng VCB cấp tín dụng, có uy tín hoặc có

quan hệ làm ăn lâu năm với Ngân hàng VCB. Tuy nhiên vẫn có thể xác nhận đối với

các ngân hàng mở không phải là khách hàng quen thuộc nhưng phải nghiên cứu kỹ

khách hàng và yêu cầu được chiết khấu tồn bộ chứng từ nhằm phòng tránh khả

năng bộ chứng từ bị từ chối thanh toán. Đối với những quốc gia tình hình tài chính

khơng ổn định, khủng hoảng kinh tế có thể dẫn đến việc hàng loạt các tổ chức tài

chính, tín dụng bị đóng cửa. Với những L/C được mở ở ngân hàng những nước này

không nên chiết khấu chứng từ vì độ rủi ro là rất cao.



35



Trong nghiệp vụ chiết khấu chứng từ hiện nay thì Ngân hàng VCB mới chỉ áp

dụng phổ biến là hình thức chiết khấu truy đòi, còn hình thức chiết khấu miễn truy

đòi được áp dụng chưa nhiều. Sở dĩ như vậy, bởi vì trong hồn cảnh hiện nay Ngân

hàng VCB chưa hồn tồn đủ điều kiện để áp dụng hình thức chiết khấu có khả

năng rủi ro cao này. Những trường hợp áp dụng hình thức chiết khấu miễn truy đòi

đều đem lại thiệt hại ít nhiều cho ngân hàng .Tuy nhiên, trong tương lai ngân hàng

nên đưa ra hình thức này để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, tạo uy tín và

lòng tin cậy trong khách hàng. Khơng phải vì nó có nhiều rủi ro mà ta khơng áp

dụng, mà ta phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ lưỡng về nó sao cho khi hoạt động thì sẽ

hạn chế được rủi ro xuống mức thấp nhất. Để ngăn ngừa rủi ro trong chiết khấu

chứng từ cần phải chuẩn bị kỹ những điều kiện khách quan và chủ quan cho nó.

Xuất phát từ yêu cầu khách quan là khả năng thanh toán của các bên, ngân hàng cần

xây dựng cho mình một hệ thống thơng tin gồm các kênh nội bộ và kênh ngoài ngân

hàng. Trong nội bộ ngân hàng cần có sự kết hợp giữa các phòng chức năng, giữa

các ngân hàng VCB trong cùng hệ thống. Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần thiết lập

một hệ thống thơng tin giữa các ngân hàng về tình hình vay nợ, uy tín của doanh

nghiệp, phát huy hiệu quả của bộ máy thông tin giữa các ngân hàng đại lý để có

thơng tin chính xác về ngân hàng mở thư tín dụng và nhà xuất khẩu. Nếu các kênh

thơng tin này được tổ chức tốt ngân hàng còn biết được xu hướng của thị trường

trong thời gian tới.

Cụ thể, ngân hàng cần thông qua hệ thống thông tin để nghiên cứu tình hình

kinh tế chính trị của nước nhà nhập khẩu để quyết định chấp nhận hay từ chối chiết

khấu cho bộ chứng từ của nhà xuất khẩu. Đối với những quốc gia đang có nội chiến,

chiến tranh sắc tộc hay tình hình chính trị khơng ổn định, khủng hoảng kinh tế thì

ngân hàng khơng nên chiết khấu bộ chứng từ vì rủi ro cao. Hơn nữa, ngân hàng

cũng cần xem xét đến các yếu tố như:

- Uy tín của nhà xuất khẩu, thực trạng hoạt động và khả năng trả nợ của nhà

xuất khẩu. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định đối với ngân hàng để đưa ra

quyết định đồng ý hay từ chối chiết khấu bộ chứng từ.

- Khả năng thanh toán của ngân hàng mở.

- Loại hàng hoá và mức biến động giá cả của loại hàng hoá này trên thị trường.

- Mối quan hệ giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.



36



- Đối với những tín dụng thư có điều khoản mập mờ rối rắm dễ phát sinh tranh

chấp, ngân hàng không nên chiết khấu bộ chứng từ vì rủi ro cao.

1.2.



Hồn thiện quy trình thanh tốn L/C hàng nhập



Trong quy trình này chúng ta cần chú ý tới một số vấn đề cơ bản liên quan tới

rủi ro trong thanh tốn thư tín dụng hàng nhập sau đây:

* Định mức ký quỹ một cách hợp lý

Định mức ký quỹ một cách hợp lý là điều kiện tốt nhất để ngân hàng hạn chế

và tránh được rủi ro trong q trình thanh tốn hàng nhập. Bởi vì trong trường hợp

này ngân hàng thường đóng vai trò là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc là ngân hàng

bảo đảm việc thanh toán của ngân hàng mở cho người xuất khẩu khi họ trình được

bộ chứng từ hợp lệ. Nếu khơng có khoản ký quỹ thì người nhập khẩu có thể khơng

thanh tốn cho ngân hàng khi mà ngân hàng đã thanh toán cho người xuất khẩu.

Tuy nhiên định mức ký quỹ là một việc làm không đơn giản bởi lẽ với mức ký

quỹ quá cao thì sẽ gây khó khăn cho nhà nhập khẩu, nhà nhập khẩu sẵn sàng từ bỏ

ngân hàng chuyển sang quan hệ với ngân hàng khác chấp nhận mức ký quỹ thấp

hơn, như vậy là đã làm giảm uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong thời

buổi kinh tế thị trường như hiện nay. Còn nếu định mức ký quỹ quá thấp sẽ không

đảm bảo thực hiện cam kết của khách hàng và nếu khơng may có rủi ro xẩy ra thì

hậu quả của nó sẽ rất lớn. Việc đưa ra định mức ký quỹ hợp lý cần phải được các

chuyên gia nghiên cứu kỹ, căn cứ vào những yếu tố sau đây:

- Uy tín và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu: điều này được thẩm

định thơng qua q trình làm ăn lâu dài với khách hàng, nếu có uy tín sẵn thì ngân

hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ thấp để giữ quan hệ lâu dài. Còn nếu mới quan

hệ hoặc quan hệ lần đầu thì phải tìm kiếm thơng tin về khách hàng, kiểm tra tài

khoản của khách hàng, nhưng để hạn chế rủi ro thì chúng ta vẫn phải đặt mức ký

quỹ cao, thậm trí có thể lên tới 100% so với giá trị của thư tín dụng. Trong trường

hợp có người bảo lãnh thì cần phải xem xét mức độ uy tín của người bảo lãnh để

định mức, đồng thời cũng phải có những ký kết cụ thể với người bảo lãnh.

- Khả năng tiêu thụ hàng nhập về: Với những mặt hàng nhập về cho mục

đích kinh doanh, phải tìm hiểu và cân nhắc xem khả năng tiêu thụ của lơ hàng đó

như thế nào. Liệu nó có phù với thị hiếu hay khơng, liệu có được người mua chấp



37



nhận hay không, khả năng thu hồi vốn trong khoảng thời gian là bao lâu...Tuỳ theo

khả năng tiêu thụ cao hay thấp mà ngân hàng sẽ đưa ra mức ký quỹ cho phù hợp.

- Hiệu quả kinh tế của lô hàng nhập về: Định mức ký quỹ phải cao hơn tỷ

suất lợi nhuận mà lơ hàng mang lại bởi vì trong trường hợp nhà nhập khẩu thế chấp

bằng cả lô hàng khơng có khả năng thanh tốn cho ngân hàng mở thì ngân hàng khi

ấy sẽ có quyền định đoạt với lô hàng. Giá chuyển nhượng phải làm sao đảm bảo cho

ngân hàng thanh tốn với nước ngồi.

- Tỷ lệ trượt giá của đồng tiền: Trong thời kỳ tỷ giá biến động mạnh, ngân

hàng phải dự đốn tình hình, từ đó điều chỉnh mức ký quỹ để tránh rủi ro về tỷ giá.

Tỷ lệ điều chỉnh phải tương ứng với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong thờ gian tới.

Đây là một yếu tố còn tương đối khó khăn với các ngân hàng ta hiện nay. Thường

thì các ngân hàng chưa quan tâm tới yếu tố này nhiều.

*Cần liên hệ chặt chẽ với khách hàng để hạn chế rủi ro và lừa đảo thương

mại

Khi nhận được bộ chứng từ, Ngân hàng VCB nên liên hệ với người mua để

nắm vững thông tin xem người bán giao hàng như thế nào? Người mua có sẵn sàng

thanh tốn hay khơng? Nếu bộ chứng từ thanh tốn hồn tồn phù hợp nhưng hàng

hố lại có vấn đề thì phải giải thích với người mua là nghĩa vụ của ngân hàng là

phải thanh toán đồng thời đề nghị người mua tiếp xúc với người bán để khiếu nại.

Nếu hàng hố khơng giao nhưng vẫn có bộ chứng từ xuất trình thì phải ngưng ngay

việc thanh tốn, nếu cần phải có sự can thiệp của luật pháp. Những trường hợp như

vậy cần có cơng văn của người mua gửi cho ngân hàng.

*Cân nhắc các điều kiện đảm bảo thanh tốn

Trong q trình vận chuyển hàng hoá và sự chu chuyển của bộ chứng từ nhiều

khi xẩy ra trường hợp hàng hoá đến trước bộ chứng từ, trong trường hợp này nếu để

quá thời gian gia ân thì nhà nhập khẩu sẽ phải chịu thêm chi phí kho bãi. Do đó, để

đề phòng trường hợp này xẩy ra thì các nhà nhập khẩu thường đề nghị ngân hàng

cho phép 1/3 của bộ chứng từ được gửi trực tiếp cho nhà nhập khẩu, 2/3 của bộ

chứng từ còn lại sẽ được chuyển qua ngân hàng mở thư tín dụng. Như thế thì nhà

nhập khẩu có thể lấy được vận đơn trước để nhận hàng và khi nhận hàng rồi thì họ

có thể từ chối thanh tốn, gây thiệt hại cho ngân hàng. Khi ấy trong trường hợp này

nếu chấp nhận điều kiện đó của nhà nhập khẩu thì nhất thiết vận đơn phải theo lệnh

của ngân hàng mở để đảm bảo quyền định đoạt và kiểm soát bộ chứng từ cho ngân



38



hàng mở thơng qua hình thức ký hậu. Nếu nhà nhập khẩu lại yêu cầu vận đơn theo

lệnh của nhà nhập khẩu thì phải có biện pháp quản lý chặt chẽ tài khoản tiền gửi và

tài khoản tiền vay của khách hàng.

*Xem xét các điều kiện đòi tiền

Đòi tiền bằng điện là hình thức trong đó bảo lưu quyền đòi lại. Nghĩa là sau

khi đã chuyển tiền bằng điện thanh toán cho bán, nếu bộ chứng từ có lỗi và nhà

nhập khẩu từ chối thanh tốn thì ngân hàng mở có quyền đòi nhà nhập khẩu trả lại

tiền. Tuy nhiên trong thực tế khả năng hoàn lại tiền của nhà xuất khẩu là rất khó,

còn tuỳ thuộc vào thiện chí của họ và khó tránh khỏi những tranh chấp xẩy ra. Vì

thế ngân hàng có thể đưa ra các diều kiện đòi tiền trong thư tín dụng cho nhà xuất

khẩu, chẳng hạn như yêu cầu nhà xuất khẩu cho phép ngân hàng mà nhà xuất khẩu

mở tài khoản được phép can thiệp khi có trường hợp đòi lại tiền, khi ấy sự làm việc

giữa các ngân hàng sẽ thuận tiện hơn, nhất là khi nhân hàng của nhà xuất khẩu có

tài khoản tại ngân hàng mở.

2. Giải pháp chiến lược khách hàng

Với phương châm “ngân hàng tồn tại bởi khách hàng”, chính sách khách

hàng có một vị trí hết sức quan trọng trong tồn bộ hoạt động của ngân hàng nếu

khơng nói là mang tính chất quyết định.

Trong tình hình xố bỏ sự độc quyền kinh doanh đối ngoại của Vietcombank,

sự ra đời của hàng loạt các NHTM cổ phần, cơng ty tài chính và nhất là sự góp mặt

của các chi nhánh ngân hàng nước ngồi, giải pháp về một chính sách khách hàng

đúng đắn sẽ là yếu tố quyết định vị trí của mỗi ngân hàng trong cuộc cạnh tranh

quyết liệt này. Thắng lợi của chính sách khách hàng là thắng lợi của sự kết hợp thực

hiện tốt một loạt các công tác khác nhau. Chiến lược khách hàng bao gồm những

nội dung sau:

3. Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

Một phong cách giao tiếp lịch sự văn minh lịch sự là nghệ thuật giữ khách

hàng có hiệu quả nhất. Sự quyết định lựa chọ ngân hàng của khách hàng trong giao

dịch phần nhiều là do thái độ giao tiếp của cán bộ ngân hàng. Khách hàng luôn cần

đến một ngân hàng không gây khó khăn cho họ, sẵn sàng hướng dẫn và giúp đỡ họ

trong mọi hoạt động giao dịch. Bên cạnh đó chúng ta cần đa dạng hố các loại hình



39



dịch vụ để phục vụ khách hàng cũng như thực hiện chính sách khách hàng linh hoạt

đối với từng đối tượng khách hàng. Ngân hàng nên có chính sách ưu tiên đối với

những khách hàng quen, làm ăn có uy tín, tạo cho họ những ưu đãi về vốn vay hay

không phải ký quỹ.v.v. Còn đối với mọi khách hàng khác ngân hàng cố gắng giảm

chi phí, điều kiện ký quỹ mở L/C sao cho phù hợp.

Ngân hàng nên coi lợi ích khách hàng cũng là lợi ích của mình, khi có những

tranh chấp xảy ra cần đấu tranh đến cùng để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng và

cũng là quyền lợi của chính mình. Ngân hàng cũng nên đóng vai trò tham mưu để

tránh bị động sau này.

4. Tăng cường công tác cố vấn khách hàng

4.1.



Đối với các đơn vị xuất khẩu



Các đơn vị xuất khẩu thường gây ra rủi ro cho ngân hàng thông báo, ngân

hàng chiết khấu khi họ lập bộ chứng từ khơng hồn hảo và bị từ chối thanh tốn. Để

tránh các rủi ro đó ngân hàng có thể cố vấn cho khách hàng đặt biệt là các khách

hàng mới hoặc ít tham gia vào các hợp đồng thương mại quốc tế ở một số vấn đề

sau đây:

*Cố vấn cho đơn vị xuất khẩu yêu cầu bên mua mở cho mình một thư tín

dụng đảm bảo nhất. Hiện nay loại thư tín dụng khơng huỷ ngang có xác nhận và

miễn truy đòi là có lợi nhất cho người bán. Tuy nhiên không nhất thiết trường hợp

nào cũng phải mở thư tín dụng xác nhận bởi vì chi phí xác nhận cao và bên nhập

khẩu phải ký quỹ tai ngân hàng mở, và nếu khó khăn với nhà nhập khẩu thì họ có

thể khơng thực hiện hợp đồng thương mại.

*Cố vấn cho đơn vị xuất khẩu trong việc chọn ngân hàng mở thư tín dụng

và ngân hàng thanh tốn, bời vì trong lĩnh vực này ngân hàng sẽ am hiểu hơn rất

nhiều so với nhà xuất khẩu. Những ngân hàng càng lớn, càng có uy tín, quan hệ tốt và

thường xun thanh tốn sòng phẳng thì việc thanh toán sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn

*Cố vấn cho khách hàng cách thức đòi tiền bằng thư hay bằng điện. Thư

tín dụng cho phép đòi tiền bằng điện là loại có lợi hơn tất cả vì nó giúp cho mọi

giao dịch được tiến hành nhanh chóng góp phần rút ngắn thời gian thanh toán, tạo

điều kiện tăng nhanh vòng quay của vốn.

*Cố vấn cho đơn vị xuất khẩu các điều kiện bất lợi của thư tín dụng như

thời hạn giao hàng, thời hạn thư tín dụng, các chứng từ mà khó khăn trong việc có



40



được... để người xuất khẩu có thể yêu cầu ngân hàng mở tu chỉnh lại thư tín dụng

cho phù hợp với khả năng của mình.

*Ngân hàng cũng nên cố vấn cho khách hàng cách giải quyết khi bộ

chứng từ có sai sót. Xem xét kỹ lưỡng các lý do từ chối ngân hàng mở thư tín dụng

đưa ra có hợp lý hay khơng. Nếu bộ chứng từ có sai sót nghiêm trọng nên cố vấn

cho khách hàng chuyển sang hình thức nhờ thu. Trong trường hợp mà hàng hố đã

chuyển sang nước ngồi nhưng ngân hàng mở vẫn từ chối thanh tốn thì nên cố vấn

cho khách hàng trong việc tìm nguồn tiêu thụ, hạn chế thời gian lưu kho làm tăng

chi phí hoặc giảm phẩm chất. Cũng cần cố gắng tìm hiểu và cố vấn cho khách hàng

trong trường hợp đó có nên khiếu kiện hay khơng và nếu có thì nên thực hiện như

thế nào.

4.2.



Đối với đơn vị nhập khẩu



Người nhập khẩu gây ra rủi ro cho ngân hàng khi họ mất khả năng thanh tốn

hoặc cố tình vi phạm các cam kết. Khi đó để đảm bảo lợi ích cho nhà nhập khẩu và

bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cần cố vấn cho họ những vấn đề sau đây:

*Cố vấn cho nhà nhập khẩu nên mở loại thư tín dụng nào cho phù hợp.

Nhà nhập khẩu cần thoả thuận với đối tác nên hạn chế mở thư tín dụng chuyển

nhượng vì thủ tục lòng vòng gây khó khăn trong thanh tốn. Cũng khơng nên mở

thư tín dụng miễn truy đòi, bởi nếu như thế thì nhà xuất khẩu có thể vi phạm hợp

đồng, họ có thể chuyển hàng ít hơn số lượng, kém phẩm chất... nhưng họ vẫn lấy

được đủ bộ chứng từ hợp lệ.

*Cố vấn cho đơn vị nhập khẩu trong việc đưa các điều khoản vào thư tín

dụng. Khơng nên đưa q nhiều điều khoản vào trong thư tín dụng vì có thể dẫn

đến sai sót cũng như gây nhiều khó khăn cho nhà xuất khẩu khiến họ không đáp

ứng được yêu cầu tu chỉnh, như thế sẽ gây tốn phí khơng cần thiết, tốn thời gian

giao dịch lại.

*Cố vấn cho đơn vị trong việc chấp nhận các yêu cầu của bên bán khi mở

thư tín dụng, sửa đổi thư tín dụng sao cho khơng làm tổn hại đến lợi ích của mình.

Trong lĩnh vực này ngân hàng là bên có nhiều kinh nghiệm nhất nên có thể biết

được yêu cầu nào là có thể chấp nhận được và yêu cầu nào là không thể chấp nhận

được, mà đưa ra ý kiến cho nhà nhập khẩu.

*Đẩy mạnh công tác tiếp thị quảng cáo



41



Bên cạnh việc thành lập một bộ phận tiếp thị để thường xuyên tìm hiểu nhu

cầu của khách hàng, tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng cũng nên thường xuyên tổ

chức hội nghị khách hàng để cùng trao đổi rút kinh nghiệm và tìm hiểu về UCP, về

giới hạn trách nhiệm của ngân hàng, tìm hiểu các thông tin thị trường... Các hội

nghị này không những giúp khách hàng rút ra được nhiều kinh nghiệm trong thanh

tốn quốc tế mà còn là cơ hội để khuếch trương quảng cáo cho hoạt động thanh toán

của ngân hàng. tăng cường hoạt động quảng cáo nhằm thu hút các doanh nghiệp có

tình hình tài chính tốt, có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc có nhu cầu

mua bán ngoại tệ về giao dịch và thanh toán quốc tế tại ngân hàng.

5. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ và đào tạo

Xuất phát từ yêu cầu hoạt động kinh doanh nói chung và tính chất đa dạng

phức tạp của thông lệ, tập quán quốc tế, sự điều chỉnh khác nhau của luật pháp các

nước đối giao dịch ngân hàng, Ngân hàng VCB luôn chú trọng tăng cường công tác

tổ chức cán bộ và đào tạo. Cán bộ ngân hàng phải là những người am hiểu về kỹ

thuật tinh thông nghiệp vụ, nắm vững pháp luật và luật lệ quốc tế để có thể xử lý

kịp thời các nghiệp vụ thanh tốn trong mọi tình huống. Để nâng cao hơn nữa hiệu

quả thanh tốn tín dụng chứng từ, Ngân hàng VCB đã xây dựng cho mình một

chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ, am hiểu nghề nghiệp, có nhân cách

và tâm hồn trong sáng.

Trước hết cần xây dựng toàn ngành từ lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên, từ

Trung ương đến các chi nhánh VCB và các cơng ty trực thuộc. Đồn kết để tạo lên

một sức mạnh tổng hợp. Điều này không chỉ có ý nghĩa với cán bộ làm cơng tác

thanh tốn mà cho bất kỳ một phòng chức năng nào. Những cán bộ còn bị hạn chế

về mặt này hay mặt khác sẽ nhận được sự giúp đỡ từ các đồng nghiệp của mình để

tiến bộ thêm. Những chi nhánh VCB mà hoạt động hiệu quả chưa cao sẽ được sự hỗ

trợ từ các chi nhánh VCB khác. Mọi người cùng làm việc và cùng tin tưởng lẫn

nhau, khách hàng sẽ tin tưởng vào họ, niềm tin ấy sẽ tạo ra một sức mạnh lớn lao

vượt qua mọi gian lao thử thách.

Để củng cố niềm tin, việc phát huy vai trò, việc phát huy vai trò của Đảng

viên, Đồn thanh niên và Cơng đồn là hết sức cần thiết, tạo lên một khí thế lao

động sáng tạo và tình cảm gắn bó cộng đồng trách nhiệm trong mọi cơng việc.



42



Đồn thanh niên và Cơng đồn cần tích cực hơn nữa trong việc phát động các

phong trào đoàn thể, bên cạnh đó phối hợp với hội phụ nữ và thanh niên xây dựng

mục đích chung cho cán bộ tồn hệ thống.

Thứ hai là nâng cao trình độ nghiệp vụ chun mơn, ngoại ngữ, áp dụng cơng

nghệ thơng tin của thanh tốn viên để đáp ứng nhu cầu kịp thời nhu cầu ngày càng

tăng của tốc độ phát triển kinh tế và thanh tốn xuất nhập khẩu qua ngân hàng. Để

có được một đội ngũ cán bộ đủ mạnh, Ngân hàng VCB phải có cả một chiến lược

tuyển chọn và đào tạo trên cơ sở quy hoạch đã được xác định. Nội dung đào tạo cần

phải được chú trọng về cả kiến thức kinh tế, nghiệp vụ chuyên môn, đồng thời đặc

biệt coi trọng công tác quản lý giáo dục tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp cho thanh

tốn viên. Cần phải hình thành nên trong mỗi cán bộ ngân hàng một lý tưởng chính

trị, đạo đức nghề nghiệp để họ gắn chặt tương lai và sự nghiệp của mình vào sự

nghiệp chung của ngân hàng, coi mỗi thành tựu, tồn tại của ngân hàng là của chính

mình, có sự đóng góp và trách nhiệm của mình trong đó. Từ đó mỗi cán bộ phải cố

gắng hết sức mình nhằm hồn thiện hơn nữa cơng việc hoặc lĩnh vực mà mình phụ

trách, ln suy nghĩ và hành động vì sự phát triển khơng ngừng của hệ thống. Mỗi

cán bộ của Ngân hàng VCB vừa phải thể hiện bản chất của một cán bộ ngân hàng

nói chung nhưng phải có những nét đẹp riêng của mình, những nội dung riêng của

mình. Tổ chức đào tạo có trọng điểm theo những tiêu chuẩn nhất định đối với

những cán bộ trong quy hoạch, những cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết

với nghề nghiệp, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và biết phát huy

trong thực tiễn để tạo lập nên đội ngũ cán bộ nòng cốt của Ngân hàng VCB.

Công tác đào tạo phải gắn liền với việc sử dụng cán bộ, bao gồm cả cán bộ

lãnh đạo và cơng nhân viên. Có chương trình đào tạo cụ thể với từng cấp cán bộ.

Việc đào tạo cán bộ không chỉ giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao mà phải

để cho mỗi cán bộ có điều kiện phát huy khả năng và sở trường của mình. Từ đó

xác định việc quy hoạch, đào tạo cán bộ theo quy mơ hình chóp tạo lên mặt bằng

vững chắc nhưng có trọng tâm, trọng điểm bổ xung nguồn lực đội ngũ cán bộ lãnh

đạo xứng đáng có đủ tài đức, đảm bảo tính kế thừa liên tục và phát triển.

Trong nhân tố con người, cần đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng

khả năng tự rèn luyện của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Người lãnh đạo phải là tấm

gương trong sáng cho đồng nghiệp, tận tụy trong công việc, trong sạch, liêm khiết



43



chí cơng vơ tư trong nếp sống tạo lên điểm tựa vững chắc cho tiến trình phát triển

của hệ thống.

Đây là vấn đề mà Ngân hàng VCB nói chung và Phòng thanh tốn quốc tế nói

riêng thường xuyên quan tâm tới. Trong những năm qua ngân hàng đã nhiều lần tổ

chức các cuộc hôi thảo, các buổi thực tập, khảo sát nâng cao nghiệp vụ... cũng như

việc gửi các cán bộ đi học tập. Các cán ngân hàng không những được học tập ở

trong nước mà còn được tham gia học tập ở nhiều nước trên thế giới như

Singapore, Nhật bản, Hàn quốc, Malaixia, Mỹ, Pháp...Các cán bộ công nhân viên ở

đây cũng thường xuyên được cử đi các ngân hàng khác trong và ngoài nước để học

hỏi kinh nghiệm. Hiện nay cơng tác tại Phòng thanh tốn quốc tế của Ngân hàng

VCB có tất cả sáu người, thì có một người hiện đang học tập và nghiên cứu về

nghiệp vụ tại Malaysia, còn lại năm người trong nước cũng đang tham gia các lớp

học nâng cao nghiệp vụ.

6. Mở rộng mạng lưới hoạt động, hoàn thiện cơ cấu tổ chức

Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, cũng như cải thiện khả năng cạnh tranh

của mình, Ngân hàng VCB phải từng bước tiến hành cải tổ cơ cấu, quy mơ của

mình cho hợp lý. Muốn tăng doanh số, tăng khả năng cạnh tranh thì phải có một

quy mô đủ lớn, nhưng phải là chất lượng.

Việc mở rộng quy mô cần căn cứ vào thực trạng khách hàng của mình. Quy

mơ khách hàng năm có tăng hay khơng, tương lai sẽ có những khách hàng nào, có

những ngân hàng nào cùng tham gia cạnh tranh...Đó là những câu hỏi mà các nhà

nghiên cứu cần trả lời để xây nên một quy mô cho hợp lý nhất. Mặc dù mở rộng về

quy mô nhưng vẫn luôn phải đảm bảo nguyên tắc tinh gọn, hiệu quả, không mở

rộng ồ ạt.

Là một ngân hàng mang cấp thành phố, nhưng thiết nghĩ là một ngân hàng

hoạt động tại địa bàn thủ đơ, hơn nữa là ngân hàng có kinh nghiệm nhất hoạt động

trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Ngân hàng VCB cũng nên mở thêm một số ngân

hàng chi nhánh ở nước ngoài để thuận tiện trong việc giao dịch, thơng tin và q

trình thanh tốn quốc tế. Nếu điều kiện khơng cho phép thì ngân hàng nên thường

xun quan hệ với các chi nhánh VCB ở nước ngoài nhờ sự giúp đỡ từ Việt Nam,

đồng thời đẩy mạnh quan hệ đại lý với các ngân hàng trên thế giới để tránh phải

thanh toán L/C qua trung gian. Muốn thực hiện được biện pháp này thì Ngân hàng

44



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP CHO QUY TRÌNH THANH TOÁN L/C TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×