Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VIETCOMBANK

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VIETCOMBANK

Tải bản đầy đủ - 0trang

Được thành lập từ ngày 01/04/1963 với tiền thân là Cục ngoại hối Ngân hàng

nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam( tên giao dịch là Vietcombank, viết

tắt là VCB/ NHNTVN) là một trong những ngân hàng thương mại quốc doanh đầu

tiên của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Sau gần 40 năm hoạt động và trưởng thành,

VCB luôn giữ vai trò chủ chốt trong hoạt động kinh doanh đối ngoại và đóng góp

một phần to lớn trong việc phát triển kinh tế Việt Nam.

Khi mới thành lập, VCB mới chỉ có một cơ sở tại Hà Nội, ngày nay Ngân

hàng đã trở thành một hệ thống ngân hàng hoàn chỉnh gồm Ngân hàng Ngoại

thương trung ương, 22 ngân hàng VCB tại các tỉnh thành phố lớn trong cả nước, 3

văn phòng đại diện ở nước ngồi, 1 cơng ty tài chính tại nước ngồi, đầu tư vốn góp

vào 14 doanh nghiệp gồm có: 3 liên doanh với nước ngồi, 6 ngân hàng cổ phần, 2

công ty bảo hiểm, 3 công ty kinh doanh bất động sản. Ngân hàng cũng đã thiết lập

quan hệ đại lý với hơn 1300 ngân hàng tại 85 quốc gia trên khắp các châu lục, đảm

bảo cho cơng tác thanh tốn quốc tế diễn ra thuận lợi.

Trong suốt thời kì kế hoạch hóa tập trung, ngân hàng đóng vai trò là ngân

hàng chun doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó trong lĩnh

vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ nhập khẩu và các dịch vụ kinh doanh

đối ngoại khác( vận tải, bảo hiểm…), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối,

quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ

trong các quan hệ thanh tốn, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa.

Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách

quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với

Ngân hàng trung ương các nước, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế. Cuối thập kỉ

80 và những năm đầu thập kỉ 90, Việt Nam bước sang cơ chế thị trường cùng với

việc nhà nước ban hành Pháp lệnh Ngân hàng rồi đến Luật Ngân hàng, VCB khơng

còn vị trí độc tơn trong quan hệ quốc tế, tín dụng và thanh toán xuất nhập khẩu nữa.

Hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh ra đời đặt VCB

trước sự cạnh tranh quyết liệt. Dù vậy với uy tín lâu năm, với bề dày kinh nghiệm

trong cơng tác thanh tốn quốc tế, quan hệ thương mại với Việt Nam, VCB luôn

chiếm lĩnh thị trường và củng cố vị trí là một trung tâm thanh tốn quốc tế lớn nhất

cả nước.



4



Ngày 02/06/2008, theo Quyết định số 138/CP-NHNN ngày 23/05/2008 của

Thống đốc NHNN, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức chuyển đổi

thành từ Ngân hàng thương mại Nhà nước thành Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngoại thương Việt Nam, tên đầy đủ bằng tiếng Anh là: Joint Stock Commercial

Bank for Foreign Trade of Vietnam.

Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khốn VCB) chính thức

được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khốn thành phố Hồ Chí Minh.

VCB đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn và ngày càng khẳng định vị thế

của mình trong nước cũng như trường quốc tế.

Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có nhiều lợi thế

trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng,

phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử dựa trên nền tảng công nghệ

cao. Không gian giao dịch công nghệ số (Digital lab) cùng các dịch vụ: VCB

Internet Banking, VCB Money, SMS Banking, Phone Banking,…đã, đang và sẽ tiếp

tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an tồn, hiệu quả,

tạo thói quen thanh tốn khơng dùng tiền mặt cho đơng đảo khách hàng.

Bằng trí tuệ và tâm huyết, các thế hệ cán bộ nhân viên Vietcombank đã, đang

và sẽ luôn nỗ lực để xây dựng Vietcombank phát triển ngày một bền vững, với mục

tiêu đến năm 2020 đưa Vietcombank trở thành Ngân hàng số 1 tại Việt Nam, 1 trong

300 tập đồn ngân hàng tài chính lớn nhất thế giới và được quản trị theo các thông

lệ quốc tế tốt nhất.

2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.

Cơ cấu tổ chức VCB gồm các bộ phận chính: Đại hội đồng cổ đơng, Ban

Kiểm soát, Hội đồng quản trị, Ban điều hành và các Khối phòng ban. Đại hội cổ

đơng là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của NH bao gồm tất cả các cổ đơng

có quyền biểu quyết, hoạt động thơng qua cuộc họp Đại hội cổ đông thường niên.

Bên cạnh đó gồm những Ban điều hành khác như là Tổng giám đóc điều hành các

cơng việc thường xun của NH và đều do Đại hội cổ đông bổ nhiệm, miễn nhiễm.

Ban Điều hành NH được chia thành các bộ phận phụ trách từng mảng trong hoạt

động như: Khối NH bán buôn, Khối kinh doanh và quản lý vốn, Khối NH bán lẻ,

Khối quản lý rủi ro, Khối tác nghiệp, Khối tài chính kế tốn và các bộ phận hỗ trợ.

Hình 2: Bộ máy quản lý của Vietcombank

5



( Nguồn: Báo cáo thường niên các năm)



I.



Vài nét về chi nhánh Sở giao dịch ngân hàng Vietcombank.



1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Sở giao dịch

Vietcombank.

Năm 1991, Sở giao dịch( SGD) NHNT TW được thành lập. Trong thời gian

đầu thành lập, SGD là đơn vị phụ thuộc NHNT TW ( Hội sở chính), thực hiện các

hoạt động của NHNT TW, SGD đóng vai trò đầu mối thực thi chiến lược phát triển

các sản phẩm, dịch vụ của NHNT VN, là cầu nối cho NHNT VN với khách hàng

của mình.



6



Ngày 20/01/2001, NHNT VN khai trương tòa nhà VCB Tower tại địa chỉ số

198 Trần Quang Khải, Hà Nội, NHNT TW ( Hội sở chính) và SGD NHNT TW

được đặt tại trụ sở này.

Ngày 01/01/2006, SGD chính thức tách khỏi Hội Sở chính, hoạt động như một

chi nhánh, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng. SGD trở thành một

chi nhánh được thực hiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng của ngân hàng TMCP

Ngoại thương Việt Nam.

Ngày 30/10/2008, Sở giao dịch ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã

chính thức khai trương trụ sở hoạt động mới tại địa chỉ số 31-33 Ngô Quyền,

Phường Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Với trụ sở làm việc mới, SGD đã

thêm một bước khẳng định sự độc lập, tự chủ trong hoạt động của mình.

Bên cạnh hoạt động như một Chi nhánh Vietcombank với thị phần lớn trong

nhiều lĩnh vực tại Hà Nội, SGD còn là nơi tiên phong thực hiện các chủ trương

chính sách của VCB, đi đầu trong việc thử nghiệm và phát triển các đơn vị dẫn đầu

trong tồn hệ thống VCB về quy mơ huy động vốn, ngay cả trong những thời điểm

công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn. SGD cũng là một trong hai đơn vị đóng

góp lợi nhuận lớn nhất của VCB.

2. Cơ cấu tổ chức chi nhánh Sở giao dịch ngân hàng Vietcombank

Lãnh đạo VCB – Chi nhánh SGD gồm có 1 Giám đốc và 5 Phó giám đốc phụ

trách các mảng nghiệp vụ và quản lý. Hiện tại SGD gồm hơn 700 nhân viên, với 42

phòng chức năng trong đó có 5 phòng chun mơn, và 18 phòng nghiệp vụ đặt trụ

sở và các phòng giao dịch trên khắp địa bàn thành phố Hà Nội.



Hình 3: Sơ đồ mơ hình tổ chức tại SGD Vietcombank.



Tầng 10



Hội Trường



7



Phòng Tin Học



Phòng Quản Lý Nhân Sự



Tầng 8



Giám đốc

Hồ Văn Tuấn



Phòng

Hành Chính Quản Trị



Tầng 7



Phó Giám đốc

Nguyễn Hùng Sơn



Phòng

Khách Hàng DN 1



Phòng Kế Tốn



Tầng 6



Phó Giám đốc

Nguyễn Anh Tuấn



Phòng

Khách Hàng Thể Nhân



Phòng Tổng Hợp



Tầng 5



Phó Giám đốc

Phạm Thị Hương Giang



Phòng

Khách Hàng DN 2



Phòng Khách

Hàng SMEs



Tầng 4



Phó Giám đốc

Nguyễn Thị Bích Thủy



Phòng Quản Lý Nợ



Tầng 3



Phó Giám đốc

Nguyễn Văn Vượng



Phòng

Dịch Vụ Khách Hàng Tổ Chức



Tầng 2



Phòng KD dịch vụ thẻ



Phòng Văn Thư



Tầng 1



Phòng Ngân Quỹ



Phòng Dịch Vụ Khách

Hàng Thể Nhân



Tầng 9



8



Tổ Y Tế



1.1.Nhóm hỗ trợ

*Phòng quản lý nhân sự: Thực hiện cơng tác tổ chức bộ máy và quản lý các

bộ tại SGD.

*Phòng kế tốn tài chính: triển khai thực hiện chế độ kế tốn tài chính, chế

độ báo cáo và hạch tốn kế tốn tại SGD.

*Phòng kiểm tra nội bộ: thực hiện kiểm tra giám sát việc thực hiện các văn

bản pháp luật, quy chế, quy định của NHNT VN nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt

động kinh doanh c ủa SGD để bảo vệ lợi ích các bên tham gia( Nhà nước, Ngân

hàng và khách hàng của SGD).

*Phòng hành chính quản trị: thực hiện các cơng tác hành chính, quản trị tại

SGD. Nghiên cứu, xây dựng, mở rộng phát triển mạng lưới của SGD trên địa bàn

Hà Nội và các vùng lân cận theo phương hướng kế hoạch mà ban lãnh đạo đã đề ra

cho từng giai đoạn cụ thể.

*Phòng tin học: quản lý duy trì hệ thống cơng nghệ thơng tin trong kinh

doanh của SGD đảm bảo hoạt động kinh doanh được duy trì ổn định.

2.2.



Nhóm tín dụng



*Phòng quan hệ khách hàng: thực hiện công tác phát triển và quan hệ với

các khách hàng có quan hệ tín dụng ngắn hạn với ngân hàng là doanh nghiệp.

*Phòng quản lý rủi ro tín dụng: dựa trên những thơng tin do phòng quan hệ

khách hàng thu thập và cung cấp, phòng sẽ thực hiện thẩm định định giá mức độ rủi

ro từ đó có quyết định cho vay hay khơng xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín

dụng , quản lý danh mục đầu tư,..

*Phòng quản lý nợ: quản lý theo dõi, phát hiện dấu hiệu rủi ro các khoản nợ

vay,..

Ba phòng trên là các phòng nghiệp vụ thực hiện cấp tín dụng theo mơ thức

quản lý mới: tín dụng 3 phòng có chức năng triển khai nghiệp vụ tín dụng đối với

những phương án khách hàng của đối tượng khách hàng là các tổ chức theo đúng

quy định, quy chế, thể lệ cho vay hiện hành của NHNN VN và NHNT VN.

*Phòng tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SMEs): thực hiện triển

khai nghiệp vụ cho vay đối với những phương án kinh doanh của đối tượng khách

hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.



9



2.3.



Nhóm thanh tốn



*Phòng thanh tốn quốc tế: thực hiện các cơng tác thanh tốn quốc tế hàng

nhập khẩu, xuất khẩu và dịch vụ đối ngoại liên quan đến nhập khẩu, xuất khẩu tại SGD

*Phòng bảo lãnh: thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh của SGD

đối với khách hàng.

*Phòng vay nợ viện trợ: có chức năng quản lý và thực hiện các nghiệp vụ

thanh toán đối ngoại sử dụng nguồn vốn viện trợ ODA.

2.4.



Nhóm kinh doanh dịch vụ



*Phòng thanh tốn thẻ: thực hiện việc phát hành và thanh toán các loại thẻ

quốc tế, thẻ Vietcombank tại SGD.

*Phòng hối đối: có chức năng phục vụ các đối tượng khách hàng là các nhân

bao gồm: Quản lý hồ sơ thông tin tài khoản, thông tin khách hàng; Quản lý và thực

hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi, tiền vay của khách hàng là cá

nhân; Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiền tệ, thanh toán đối ngoại với các

khách hàng là cá nhân; Thực hiện các chuyển tiền trong nước của khách hàng là cá

nhân, quản lý các chứng từ có giá phục vụ cho nghiệp vụ của phòng.

*Phòng ngân quỹ: có chức năng triển khai thực hiện cơng tác quản lý giấy tờ

có giá tại SGD, thu chi tiền mặt VNĐ và ngoại tệ.

*Phòng vốn và kinh doanh ngoại tệ: thực hiện quản lý và điều hành lãi suất

tỷ giá, phí, huy động và kinh doanh vốn VNĐ và ngoại tệ tại SGD.

*Phòng khách hàng đặc biệt: chức năng tham mưu cho ban giám đốc trong

việc xây dựng chính sách đối với khách hàng thể nhân và cung cấp dịch vụ tài chính

ngân hàng cho khách hàng đặc biệt của SGD( là các khách hàng thể nhân có số dư

tiên gửi lớn, hoặc cán bộ cấp cao Nhà nước, lãnh đạo các bộ ngành,…).

*Phòng kế tốn giao dịch: có chức năng phục vụ đối tượng khách hàng là tổ

chức( có cư trú và khơng cư trú) có quan hệ với SGD.

2.5.



Các phòng giao dịch



Các Phòng giao dịch (PGD) là đơn vị hạch toán báo sổ trực thuộc SGD, hoạt

động trên địa bàn TP. Hà Nội chịu sự quản lý giám sát trực tiếp của Giám đốc SGD,

có chứng thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn tiết kiệm, cho vay khách hàng là

các cá nhân, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán dịch vụ vãng lai trên địa bàn và các

nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi của các pháp nhân.



10



Giữa các phòng ban của SGD có quan hệ mật thiết với nhau, Phòng tham mưu

hỗ trợ các phòng khác hoạt động liên tục liền mạch, Phòng nghiệp vụ phải phối hợp

phòng tham mưu để quá trình thực hiện nghiệp vụ diễn ra thuận lợi trơi chảy, có tổ

chức. Mặc dù độc lập thực hiện nghiệp vụ của phòng mình nhưng giữa các phòng

nghiệp vụ này vẫn có sự liên phối hợp làm việc với nhau, quy trình làm việc trong

nội bộ SGD được tiến hành chính xác như một dây chuyền mà mỗi phòng ban là

một mắt xích. Các phòng giao dịch tuy được đặt tại nhiều địa điểm khác nha, không

tập trung cùng địa điểm với SGD nhưng hoạt động lại liên quan mật thiết với phòng

Ngân quỹ, các phòng Hành chính Quản trị.

3. Các sản phẩm chính của chi nhánh Sở giao dịch ngân hàng Vietcombank

Cũng giống như hoạt động của các NHTM, VCB chi nhánh SGD cũng có đầy

đủ các sản phẩm dịch vụ dành cho khách hàng, luôn mang đến cho khách hàng

những dịch vụ tốt nhất như: In sao kê tài khoản, Lập lệnh chuyển tiền và Sec, Dịch

vụ thẻ, Đảm bảo, Quản lý tài sản, Các dịch vụ ngân hàng quốc tế, Kiểm đếm tiền,

Chuyển tiền lương theo lô, Thay thế đổi thẻ mới, Rút tiền mặt, Dịch vụ cho vay.

Cùng với toàn bộ hệ thống NHNTVN, SGD thực hiện đa dạng hóa và nâng

cao chất lượng sản phẩm dịch vụ mới, đi đầu trong ngành ngân hàng như: thẻ rút

tiền tự động ATM, thẻ tín dụng quốc tế Vietcombank Mastercard, thẻ tín dụng

Vietcombank VISA, thẻ Amex,…thực hiện các nghiệp vụ như quyền chọn, bao

thanh toán(Factoring), các hoạt động bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng,…



4. Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2016-2018

Biểu đồ 1: Lợi nhuận trước thuế của SGD VCB giai đoạn 2016- 2018

đơn vị: tỷ đồng



11



( Nguồn: Báo cáo hoạt động của SGD)

Với sự bứt phá ấn tượng, vượt mức kỷ lục của ngành ngân hàng do chính VCB

xác lập vào năm 2017, kết thúc năm 2018 lợi nhuận trước thuế hợp nhất của VCB

đạt 18.269 tỷ đồng tăng 61% so với năm 2017 và gấp 3 lần so với năm 2016.

Kỷ lục lợi nhuận này đã vượt xa mức kế hoạch do Đại hội đồng cổ đông đề ra.

Đặc biệt là trên nền tảng tổng tài sản và tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với những

năm trước, lãi suất cho vay thuộc nhóm thấp nhất thị trường , kết quả này đã khẳng

định được tính đúng đắn của chiến lược chuyển dịch hoạt động kinh doanh vào 3 trụ

cột chính là bán lẻ, kinh doanh vốn và dịch vụ của VCB.

Đóng góp vào kết quả chung của tồn hệ thống, SGD tự hào là một trong

những đơn vị đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu kinh doanh được giao, đặc biệt là chỉ

tiêu lợi nhuận: tổng lợi nhuận của SGD đạt lớn trên 1.948 tỷ đồng , đóng góp 11%

lợi nhuận tồn hệ thống và đạt mức bình qn trên 2,5 tỷ đồng/1 cán bộ. Lợi nhuận

từ hoạt động kinh doanh sau khi trích lập DPRR là 1.354 tỷ đồng, tăng 167 tỷ( gần

14%) so với năm 2017 và hoàn thành 104 % so với kế hoạch. Đặc biệt, thu ngoài lãi

tăng trưởng tốt với tổng thu là 595 tỷ đồng, tăng 170 tỷ đồng ( 40%) so với năm

2017 và đạt 110% kế hoạch năm. SGD vinh dự được đánh giá là mọt trong hai chi

nhánh đặc biệt xuất sắc của hệ thống.

*Hoạt động huy động vốn

12



Biểu đồ 2: Hoạt động huy động vốn của SGD Vietcombank giai đoạn 2016- 2018

Đơn vị: tỷ đồng



( Nguồn: Báo cáo hoạt động của SGD)

Tổng kết năm 2018, Tổng huy động vốn của SGD đạt hơn 73.400 tỷ đồng,

tăng hơn 8.700 tỷ đồng ( gần 14%) so với năm 2017 và đã hoàn thành 105% kế

hoạc năm 2018.

Huy động vốn ngoại tệ đạt 1.235 triệu USD, tăng 102 triệu USD ( 9,8 %) so

với cuối năm 2017, và đạt 102% kế hoạch năm 2018, trong đó huy động vốn ngoại

tệ của tổ chức kinh tế tăng 95,7 triệu USD và của khách hàng thể nhân tăng 6,3 triệu

USD so với cuối năm 2017.

Huy động không kỳ hạn đạt 18.125 tỷ đồng tăng 1.819 tỷ đồng so với năm

2017, chiếm 24,7% tổng huy động vốn. Huy động vốn khơng kỳ hạn bình qn đạt

15.110 tỷ đồng chiếm 20,6% tổng huy động vốn bình quân.

Huy động từ khách hàng bán buôn đạt 39.890 tỷ đồng tăng 4.270 tỷ

đồng( 12%) so với năm 2017, và chiếm 54% tổng huy động vốn và hoàn thành

105% kế hoạch được giao. Huy động từ khách hàng bán lẻ đạt 33.510 tỷ đồng, tăng



13



4.451 tỷ đồng( 15.3%) so với năm 2017, hoàn thành 109% kế hoạch được giao. Huy

động từ khách hàng SEM và thể nhân đều tăng so với cuối năm 2017 là 4%.

*Hoạt động tín dụng:

Hoạt động tín dụng của SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam vẫn

giữ được nhịp độ tăng trưởng. Tỷ lệ dư nợ cho vay/ huy động vốn năm 2018 đạt

77,68% và luôn đạt trên 75% từ năm 2016. Tổng dư nợ cho vay tính đến cuối năm

2018 tăng 37% so với năm 2016. Tỷ lệ nợ xấu năm 2018 đạt mức 0,97% và ln

duy trì trong khoảng 1% từ năm 2016. Để giữ được tỷ lệ nợ xấu an toàn như vậy,

SGD đã luôn tuân thủ chặt chẽ các chỉ thị từ NHNT Việt Nam cũng như tuân thủ

nghiêm ngặt các quy định của NHNN đề ra.

Cơng tác trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện nghiêm ngặt nhằm đảm bảo

tính lành mạnh của hoạt động cho vay ; chất lượng tín dụng được chú ý, quan tâm.

III. Vị trí thực tập

Ngày nay, mặc dù các ngân hàng thương mại Việt Nam hầu hết đều đã có



phòng Thanh tốn quốc tế bởi lẽ sự hội nhập nền kinh tế toàn cầu, nhu cầu trao đổi

hàng hóa giữa các nước ngày càng tăng cao, Việt Nam cũng đã kí kết rất nhiều hiệp

định, cam kết mở rộng mối quan hệ thương mại với các quốc giá khác trên toàn thế

giới. Sự ra đời của phòng TTQT là một tất yếu để đáp ứng với nhu cầu trên.

Nhưng thực tế hiện nay, không phải chi nhánh nào cũng có phòng TTQT bởi

nghiệp vụ thanh tốn quốc tế nói chung và thanh tốn phương thức tín dụng chứng

từ nói riêng khá phức tạp, đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao và khả năng giải quyết

các vấn đề ngay tức khắc. Sở giao dịch Vietcombank là một trong những những chi

nhánh được phép thực hiện nghiệp vụ TTQT bởi với bề dày lịch sử cũng như khả

năng đáp ứng tốt u cầu của nó.

Trong q trình 3 tháng thực tập tại đây, em đã được các anh chị trong phòng

tận tình giúp đỡ, chỉ bảo các cơng việc liên quan đến quy trình TTQT đặc biệt là

thanh tốn bằng tín dụng chứng từ. Theo đó cơng việc chủ yếu của một Chun

viên phòng Thanh tốn quốc tế như sau:



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VIETCOMBANK

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×