Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam họp tại Pa-ri diễn ra vào tháng 11 năm 1993 đã đánh dấu quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Cộng đồng tài trợ quốc tế được khôi phục hoàn toàn.

Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam họp tại Pa-ri diễn ra vào tháng 11 năm 1993 đã đánh dấu quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Cộng đồng tài trợ quốc tế được khôi phục hoàn toàn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 2.1: Khối lượng vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân tại Việt Nam

thời kỳ 1993 – 2014

ĐVT: Triệu USD



Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nhìn chung là khối lượng vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân đều

tăng lên. Tổng vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ đạt 85,195 tỷ USD, ODA

ký kết đạt trên 69,189 tỷ USD, chiếm 81,21% tổng vốn ODA cam kết, trong

đó vốn ODA và vốn vay ưu đãi đạt 62,012 tỷ USD và chiếm khoảng 89,62%,

vốn ODA khơng hồn lại đạt 7,176 tỷ USD và chiếm khoảng 10,38%.Tổng

vốn ODA giải ngân tính đến hết năm 2014 đạt 48,23 tỷ USD, chiếm trên

69,71% tổng vốn ODA ký kết.

Trong giai đoạn 1993 – 1995 và 1996 - 2000, khối lượng vốn ODA cam

kết, ký kết và giải ngân vẫn còn tương đối thấp và ổn định, có xu hướng tăng

lên, những năm sau cao hơn năm trước

Trong giai đoạn 2001 – 2005 nguồn vốn ODA cam kết tăng nhưng

không nhiều, ODA ký kết, giải ngân tăng giảm theo từng năm. Nhưng nhìn

chung là nguồn vốn ODA trong giai đoạn này là tăng. Giá trị cam kết của các

tổ chức quốc tế đạt 14,597 triệu USD, tăng liên tục qua các năm. Năm 2005,

28



28



lượng vốn cam kết là lớn nhất với 3,500 triệu USD, cao nhất trong các năm.

Giá trị ký kết đạt 11,080 triệu USD, đạt được 75,9% giá trị ODA cam kết của

các nước dành cho Việt Nam. Giá trị giải ngân đạt được 7,840 triệu USD.

Năm 2001 chỉ giải ngân được 1,500 triệu USD, năm 2002 giải ngân được

1,528 triệu USD, năm 2003 là 1,442 triệu USD, năm 2004 là 1,650 triệu USD

và năm 2005 là 1,720 triệu USD. Tỷ lệ giải ngân này còn chậm và chưa có

hiệu quả. Sự chậm trễ trong giải ngân do rất nhiều các yếu tố tác động. Nhưng

lượng vốn đầu tư lại có xu hướng tăng lên qua các năm và có triển vọng ngày

càng tăng lên trong các năm tiếp theo.

Trong giai đoạn 2006 -20010, tổng nguồn vốn ODA cam kết, ký kết và

giải ngân tăng mạnh và cao nhất là năm 2009 với tổng số vốn ODA cam kết là

8,064 triệu USD, ký kết 6,201 triệu USD và giải ngân 4,105 triệu USD.

Nhưng đến năm 2010 thì đã bị giảm, ODA cam kết giảm ít đạt 7,906 triệu

USD; ký kết còn 3,173 triệu USD và giải ngân đạt 3,541 triệu USD. Nguyên

nhân cho sự giảm xuống này là do Việt Nam đã thốt khỏi nhóm nước có thu

thập thấp và là nước có thu nhập trung bình.

Giai đoạn 2011- 2014, vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ có xu

hướng giảm xuống, nguyên nhân do năm 2010, Việt Nam thốt khỏi nhóm

nước có thu nhập thấp. Khối lượng vốn ODA được giải ngân tăng. Cụ thể,

khối lượng vốn ODA giải ngân năm 2011, 2012, 2013, 2014 lần lượt là 3650

triệu USD, 3900 triệu USD, 5100 triệu USD, 5600 triệu USD.



29



29



Bảng 2.1 : So sánh ODA cam kết, ký kết và giải ngân qua các thời kỳ

Đơn vị tính: Triệu USD

THỜI KỲ

1993 – 1995

1996 - 2000

2001 - 2005

2006 - 2010

2011 - 2014



CAM KẾT

6.131,00

11.546,50

14.889,20

31.756,25

20.872,77



KÝ KẾT

GIẢI NGÂN

4.858,07

1.875

9.008,00

6.142

11.241,05

7.887

20.645,56

13.860

23.436,63

18.470

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư



Khối lượng vốn cam kết, ký kết và giải ngân được cải thiện qua từng

thời kỳ. Số liệu trên cho thấy qua các thời kỳ mức cam kết, ký kết và giải

ngân đã có những tiến bộ nhất định, trong đó từ năm 2006 đến nay đã có

những bước tiến vững chắc. Trong thời kỳ đầu, 1993 -1995, cam kết mới chỉ

đạt 6,1 tỷ USD, ký kết đạt gần 5 tỷ USD, đến thời kỳ 2001 – 2005, mức cam

kết đạt 14,88 tỷ USD, ký kết và giải ngân lần lượt là 11,24 tỷ USD và 7.89 tỷ

USD. Thời kỳ 2006 – 2010, mức cam kết, ký kết và giải ngân đạt gần gấp đôi

thời kỳ trước với những con số lần lượt là 31,75 tỷ USD cam kết, 20,65 tỷ

USD là ký kết và giải ngân là 13,86 tỷ USD.

Kết quả này đạt được là nhờ năm 2007,Việt Nam gia nhập WTO

những nỗ lực của các cơ quan Việt Nam và các nhà tài trợ trong việc cải tiến

và hài hòa quy trình, thủ tục, hồn thiện thể chế, tăng cường năng lực ở tất cả

các khâu: xây dựng văn kiện dự án; thẩm định và phê duyệt dự án; đàm phán

và ký kết hiệp định; và tổ chức, quản lý và thực hiện dự án.



2.1.3.2.



ODA đầu tư theo ngành và lĩnh vực

Bảng 2.2. ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 1993 - 2014

30



30



ĐVT: Triệu USD

Ngành, lĩnh vực



Tổng số



Tỷ lệ (%)



9.634,09



13,92



2. Năng lượng và công nghiệp



13.269,35



19,18



3. Giao thơng vận tải và Bưu chính viễn thơng



21.014,41



30,37



9.598,53



13,87



5. Giáo dục và đào tạo



2.733,55



3,95



6. Y tế - Xã hội



3.211,12



4,64



9.728,27



14,06



69.189,31



100



1. Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn - Xóa

đói giảm nghèo



4. Mơi trường (cấp, thốt nước, đối phó với

biến đổi khí hậu,…) và phát triển đô thị



7. Ngành khác (khoa học công nghệ, tăng

cường năng lực thể chế,...)

Tổng số



Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong các lĩnh vực nhận được vốn ODA thì những lĩnh vực như giao

thơng vận tải, năng lượng tập trung nhiều nguồn vốn ODA nhất. Cụ thể là

trong thời gian qua, tổng vốn ODA ký kết lĩnh vực giao thơng vận tải và

bưu chính viễn thơng đạt khoảng 21,014 tỷ USD, chiếm 30,37% tổng

vốn ODA ký kết; đứng thứ hai là lĩnh vực Năng lượng và công nghiệp

đạt 13,26 tỷ USD. Trong khi các lĩnh vực khác như môi trường, y tế,

giáo dục và đào tạo,…chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn với tỷ lệ lần lượt là

13,87%; 4,64% và 3,95%.



2.1.3.3.



Quy mô dự án theo các hiệp định ODA ký kết qua các thời kỳ

Bảng 2.3 : Quy mơ dự án trung bình theo các thời kỳ

31



31



ĐVT: Triệu USD

Thời kỳ



Số hiệp định

ký kết

1.026

723

423

320



Tổng số vốn ODA



Quy mơ trung



bình

1993 – 2000

13.866,07

13,51

2001 – 2005

11.241,05

15,55

2006 – 2010

20.645,56

48,81

2011 – 2014

23.436,63

73,23

Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Số liệu trong bảng 2.3 cho thấy số lượng hiệp định ký kết thời kỳ 2006

- 2010 ít hơn, chỉ bằng 58,5% so với thời kỳ 2001 - 2005 song quy mơ trung

2.2.

2.2.1.



bình của các chương trình, dự án trong thời kỳ này lại cao gấp gần 3 lần.

Một số chính sách và biện pháp Việt Nam sử dụng để thu hút ODA

Môi trường pháp lý

Sau khi nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế, từ năm 1993 đến

nay Chính phủ khơng ngừng hồn thiện khung pháp lý cho nguồn vốn này.

Chính phủ đã ban hành 5 Nghị định về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn

ODA. Bắt đầu từ Nghị định 20/CP (15/3/1994), Nghị định 87/CP (5/8/1997),

Nghị định 17/2001/NĐ-CP (4//5/2001), Nghị định 131/2006/NĐ-CP

(9/11/2006) và mới nhất là Nghị định 38/2013/NĐ-CP (23/4/2013). Các nghị

định sau được hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu

ngày càng cao của quan hệ hợp tác phát triển.

Đồng thời, trong các cam kết toàn cầu về hiệu quả viện trợ như Tuyên

bố Paris (PD- 2005), Văn kiện quan hệ đối tác Busan (Hàn Quốc, BPD-2008)

cũng như các văn kiện quốc gia về hiệu quả viện trợ như Cam kết Hà

Nội(HCS-2005) và Văn kiện quan hệ đối tác Việt Nam (VPD-2013), các nhà

tài trợ cam kết hài hòa và sử dụng tối đa hệ thống của Chính phủ về đấu thầu,

quản lý tài chính, kiểm tốn, theo dõi và đánh giá…

So với Nghị định số 131/2006/NĐ-CP thì Nghị định 38/2013/NĐ-CP có

nhiều quan điểm mới như:



32



32



-



Mở rộng phạm vi điều chỉnh từ chỉ quy định ODA như trước đây, nay bổ sung

thêm nguồn vốn vay ưu đãi (có điều kiện ưu đãi cao hơn các khoản vay



-



thương mại nhưng thấp hơn ODA);

Mở rộng đối tượng thụ hưởng theo hướng cho phép khu vực tư nhân tham



-



gia;

Đẩy nhanh phân cấp cho cấp cơ quan chủ quản (ở cấp Tỉnh là Ủy ban nhân

dân tỉnh) theo hướng gắn liền giữa quyền với nhiệm vụ, đặc biệt cơ quan chủ

quản được phép phê duyệt một số khoản ODA (trước đây các khoản ODA

không phân biệt lĩnh vực, phương thức cung cấp và hạn mức vốn đều thuộc



-



thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ);

Hình thức quản lý dự án do các ban quản lý thực hiện nhưng khơng nhất thiết

phải thành lập đối với chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng ODA

khơng hồn lại có tổng mức vốn dưới 200.000 USD (bao gồm vốn đối ứng)

và các chương trình, dự án đầu tư sử dụng vốn ODA khơng hồn lại có tổng

mức vốn dưới 350.000 USD (bao gồm vốn đối ứng).

Bên cạnh những văn bản khung này, Chính phủ còn ban hành nhiều văn

bản pháp quy khác nhằm quản lý, hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước ở các

khía cạnh khác nhau và khắc phục những hạn chế của các văn bản pháp luật

trong lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA. Trong số này có các văn bản về thuế

giá trị gia tăng, quy trình rút vốn ODA, quy chế chuyên gia nước ngoài áp

dụng đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ODA. Song song với các Nghị

định còn có rất nhiều Quyết định, Thông tư nhằm hướng dẫn chỉ đạo một cách

cụ thể hơn.

Ngày 27/12/2013, Bộ Tài chính đã ban hàn Thông tư 181/2013/TTBTC về hướng dẫn thực hiện chính sách thuế và ưu đãi thuế đối với các dựu

án ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ. Đối với các dự án ODA

viện trợ khơng hồn lại, Thơng tư 181 quy định rõ, từ ngày 17/1/2014 các chủ

dự án, nhà thầu hcính dự án ODA viện trợ khơng hồn lại được miễn thuế

nhập khẩu theo quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn

bản hướng dẫn, không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), khơng chịu

33



33



thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa do chủ dự án ODA, nhà thầu chính trực

tiếp nhập khẩu hoặc ủy thác nhập khẩu để thực hiện dự án ODA viện trợ

không hoàn lại.

ODA được coi là nguồn vốn ngân sách nhà nước nên việc sử dụng

nguồn vốn này cũng phải tuân theo các quy định chung của Nhà nước về đấu

thầu, quản lý đầu tư và xây dựng trong trường hợp các quy định này không

2.2.2.



trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập hoặc ký kết.

Công tác quản lý nhà nước về ODA

Cùng với nỗ lực hồn thiện thể chế, cơng tác quản lý nhà nước về ODA

đã khơng ngừng được cải thiện và có nhiều tiến bộ. Nếu như trong giai đoạn

đầu của quá trình tiếp nhận ODA, quản lý nhà nước theo mơ hình tập trung

nhiều ở cấp Trung ương thì nay theo mơ hình phân cấp mạnh mẽ để các Bộ,

ngành và địa phương phát huy tính chủ động và nâng cao trách nhiệm từ khâu

xây dựng dự án, thực hiện dự án, khai thác và vận hành các sản phẩm đầu ra.

Chính phủ đã phối hợp với các nhà tài trợ tổ chức hội nghị liên quan

đến thể chế ODA, các hội nghị kiểm điểm tình hình thực hiện các dự án đầu

tư sử dụng nguồn vốn ODA. Cùng với đó, Chính phủ quy định rõ ràng quyền

hạn và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ

Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Văn

phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ

và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.



2.2.3.

2.2.3.1.



Đánh giá chung

Những kết quả đạt được

Mặc dù nguồn vốn ODA chỉ chiếm khoảng 4% GDP, song lại chiếm tỷ

trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bình quân

chiếm khoảng 15-17%). Điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh ngân sách nhà

nước dành cho đầu tư phát triển của ta còn hạn hẹp, trong khi nhu cầu phát

triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lại rất lớn. Có thể nói, ODA là nhân tố



34



34



xúc tác cho phát triển, giúp Việt Nam thực hiện thành công các chiến lược

phát triển 10 năm và các kế hoạch 5 năm.

Về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thơn kết hợp xóa đói giảm

nghèo: Các chương trình và dự án ODA đã góp phần cải thiện và phát triển

sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, cải thiện một

bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào

dân tộc thiểu số nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh

vực y tế, giáo dục,...

Các dự án vốn vay ODA tập trung vào lĩnh vực thủy lợi, lâm nghiệp và

cơ sở hạ tầng nông nghiệp kết hợp với xóa đói, giảm nghèo. Trong lĩnh vực

thủy lợi, vốn vay ODA hỗ trợ phát triển hệ thống thủy lợi miền Trung, đồng

bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long (WB1, WB2, ADB3, ADB5,

ADB6, JICA1, JICA2,...), hỗ trợ khắc phục thiên tai (WB4, WB5,...), hệ

thống một số hệ thống thủy lợi lớn như hệ thống tưới Phan Rí-Phan Thiết,

giảm thiểu lũ và hạn hán vùng sông Mê-kông mở rộng, hệ thống thủy lợi

Phước Hòa, chống lũ Sài Gòn,... Trong lĩnh vực lâm nghiệp, các dự án vốn

vay ODA hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt hỗ trợ thực

hiện Chương trình 5 triệu héc-ta rừng. Trong lĩnh vực phát triển hạ tầng nông

nghiệp kết hợp với xóa đói, giảm nghèo, các dự án vốn vay ODA hỗ trợ phát

triển cơ sở hạ tầng nông thơn tại một số địa phương khó khăn (Chương trình

135, Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc, Dự án phát triển sinh kế

miền Trung, Dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng,

Chương trình cấp nước nơng thơn, giao thơng nơng thơn và điện khí hóa nơng

thơn,...), khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, nâng cao chất lượng, an toàn

sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ cạnh tranh nông nghiệp,...

Các dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng nơng thơn đã góp phần cải thiện đời

sống người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là

trong việc tiếp cận với các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục…,

35



35



góp phần quan trọng vào cơng tác xóa đói, giảm nghèo tại các vùng nơng

thơn. Bên cạnh đó, các chương trình, dự án ODA cũng đã hỗ trợ công tác

nghiên cứu khoa học, công nghệ nông nghiệp giúp nâng cao chất lượng, an

tồn sản phẩm nơng nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Nguồn vốn

ODA góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân nơng thơn, giảm tỷ lệ đói

nghèo của Việt Nam từ 60% vào năm 1993 xuống còn 10% vào năm 2012, đã

góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam đối với mục tiêu phát triển thiên

niên kỷ của Liên hợp quốc giảm 50% hộ đói nghèo vào năm 2015.

Về năng lượng và cơng nghiệp: Nhờ có ODA, Việt Nam đã hỗ trợ xây

dựng, cải tạo hàng loạt các dự án thủy điện, nhiệt điện và năng lượng tái tạo,

năng lượng xanh (điện mặt trời, điện gió), lưới điện và trạm phân phối, điển

hình là nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 công suất 288 MW; nhà máy nhiệt

điện Phả Lại II công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi

công suất 475 MW; nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ I công suất 1.090 MW; nhà

máy nhiệt điện Ô Môn công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Đại Ninh công

suất 360 MW ; hỗ trợ cải tạo và phát triển mạng truyền tải và phân phối

điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tăng hàng năm cho sản xuất và đời

sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp và khu vực nông

thôn trên cả nước, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, truyền tải, phân

phối, quản lý hệ thống điện, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải cao với

tốc độ 15%- 17%/ năm.

Nguồn vốn ODA thực sự mang lại hiệu quả thiết thực cho đầu tư phát

triển, góp phần đáng kể vào sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước.Đặc biệt là những kết quả các dự án điện khí hóa nơng thơn từ năm 1998

đến nay, nâng số hộ dân nông thôn được sử dụng điện lưới quốc gia từ 62,5%

lên đến 97,85%, số xã từ 75,1% lên 99,57%. Đây là nguồn vốn lớn và có ý

nghĩa trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn hạn hẹp, khu vực tư

nhân trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triển ban đầu còn chưa mặn mà



36



36



đầu tư phát triển nguồn và lưới điện vì yêu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi

vốn chậm.

Về giao thông vận tải và bưu chính viễn thơng: Để phát triển kinh tế

thì cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ bản và quan trọng bậc nhất. Cũng giống như

nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam có hệ thống cơ sở hạ tầng thấp

kém, không đáp ứng nổi các yêu cầu cấp thiết của cơng cuộc hiện đại hóa,

cơng nghiệp hóa. Chính vì vậy mà giao thơng vận tải là ngành tiếp nhận vốn

ODA nhiều nhất.

Trong ngành giao thông vận tải, vốn ODA đã được tập trung đầu tư

phát triển và nâng cấp hệ thống đường quốc lộ, xây dựng một số cảng biển,

củng cố và tăng cường cơ sở hạ tầng ngành đường sắt, đường thủy nội địa,

cảng hàng không quốc tế, xây dựng giao thông nội đô ở một số thành phố lớn

và phát triển giao thông nông thơn: Hệ thống đường bộ ở phía Bắc (Quốc lộ

5, 10, 18), Quốc lộ 1A, đường cao tốc tp. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu

Giây, đường xuyên Á Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, hầm đường bộ đèo

Hải Vân; cảng biển nước sâu Cái Lân, cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Sài Gòn;

nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất; các cầu lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu

Cần Thơ, cầu Thanh Trì, cầu Bãi Cháy.

Ngồi ra, ODA đã hỗ trợ tăng cường công tác quy hoạch phát triển giao

thông, tăng cường năng lực quản lý ngành cũng như nâng cao nhận thức, giáo

dục pháp luật và an tồn giao thơng trong xã hội. Trong năm 2014 một số

cơng trình, dự án trọng điểm quốc gia có sử dụng vốn ODA như cầu Nhật

Tân, đường nối Nhật Tân - Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Nhà ga hành

khách T2 - Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, đường cao tốc Nội Bài - Lào

Cai đã được hồn thành và đưa vào sử dụng góp phần hồn chỉnh, hiện đại

hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, thúc đẩy liên kết vùng trong tiến trình phát triển

khu vực phía Bắc

Trong ngành bưu chính viễn thơng, vốn ODA tập trung đầu tư, phát

triển một số cơ sở hạ tầng kỹ thuật bưu chính viễn thơng hiện đại có ý nghĩa

37



37



quốc gia, phục vụ nhu cầu khai thác chung của mọi thành phần kinh tế,

phát triển điện thoại nông thôn, hệ thống thông tin liên lạc ven biển, phát

triển Internet cộng đồng, áp dụng cơng nghệ thơng tin góp phần thực hiện

chương trình cải cách hành chính quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử,...

Đây là những cơ sở hạ tầng kinh tế hết sức quan trọng để thúc đẩy phát

triển các ngành, lĩnh vực và địa phương, kể cả thu hút nguồn vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài.

Về y tế- xã hội: Các chương trình, dự án ODA đã tăng cường cơ sở vật

chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh, xây dựng bệnh viện và tăng

cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các

bệnh viện huyện và các trạm y tế xã nhằm giảm tải cho tuyến Trung ương;

phát triển mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các vùng, nhất là các

vùng nghèo ở nơng thơn, miền núi có nhiều khó khăn; nâng cao chất lượng

dịch vụ y tế, xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc

gia… Ngồi ra, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, phòng chống

HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét, sốt xuất huyết, cúm

A/H5N1, H1N1,... được thực hiện bằng vốn ODA đã đem lại hiệu quả tích

cực. Sự hỗ trợ của ODA đối với ngành y tế trong thời gian qua đã góp phần

vào những tiến bộ đạt được trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên

niên kỷ (MDGs) liên quan tới y tế như đẩy mạnh cơng tác dân số và kế hoạch

hóa gia đình, giảm tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng trẻ em; hỗ trợ xây dựng

chính sách quản lý, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực

quản lý ngành y tế.

Về giáo dục và đào tạo: Vốn ODA được sử dụng để hỗ trợ cải cách các

cấp học từ giáo dục tiểu học tới giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng

và tiếp cận với nền giáo dục và đào tao tiên tiến trên thế giới, cung cấp các

học bổng đào tạo ở nước ngoài… Bên cạnh đó, còn phải kể đến các dự án hỗ

trợ kỹ thuật, chủ yếu bằng việc viện trợ không hoàn lại, đã đào tạo và đào tạo

38



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam họp tại Pa-ri diễn ra vào tháng 11 năm 1993 đã đánh dấu quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Cộng đồng tài trợ quốc tế được khôi phục hoàn toàn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×