Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm, định nghĩa hồn chỉnh nào về

ODA, đã có rất nhiều tổ chức đưa ra những khái niệm, định nghĩa khác nhau,

tuy nhiên, sự khác biệt giưã các khái niệm, định nghĩa này là không nhiều.

Theo Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC): ODA là nguồn vốn hỗ trợ

chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều

kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém

phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan chính thức của các

Chính phủ Trung ương và Địa phương hoặc các Cơ quan thừa hành của Chính

phủ, các Tổ chức phi Chính phủ tài trợ.

Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF)

trong đó có yếu tố viện trợ khơng hồn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải

chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”

ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả nguồn tài chính mà Chính

phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và

kém phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác,

trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn.

Theo OECD, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đã đưa ra khái

niệm ODA là “ Nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ

chức đa phương dành cho các nước đang phát triển , thông qua các cơ quan

nhà nước, chính phủ cấp trung ương và địa phương, hoặc các cơ quan có thẩm

quyền nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội cho các quốc gia này.

Vốn ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ khơng hồn lại, có hồn lại và

vay ưu đãi, trong đó phần viện trợ khơng hồn lại và các yếu tố ưu đãi khác

chiếm ít nhất 25% vốn cung ứng”

Theo giáo trình Kinh tế quốc tế – Trường Đại học Kinh tế quốc

dân: Nguồn vốn ODA là hình thức hỗ trợ phát triển chính phủ các nước, các

tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ có tính chất song phương hoặc đa



8



8



phương, bao gồm các khoản tiền mà các cơ quan chính phủ viện trợ khơng

hồn lại hoặc cho vay theo các điều khoản tài chính ưu đãi.

Theo cách hiểu chung nhất: ODA là tất cả các khoản viện trợ khơng

hồn lại hoặc các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp) của

các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ

chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài hcính quốc tế dành cho

1.1.2.



các nước đang và chậm phát triển.

Đặc điểm

Thứ nhất, vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát

triển, các tổ chức quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển.

Với mục têu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang

tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Thể hiện:



-



Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD

Vốn ODA có thời gian cho vay (hồn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ

trả lãi, chưa trả nợ gốc). vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế

Nhật Bản (Japanese Bank for International Cooperation – JBIC) có thời gian

hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm.

Thơng thường vốn ODA có một phần viện trợ khơng hồn lại, phần này

dưới 25% tổng số vốn vay. Như OECD cho không 20 – 25% tổng vốn ODA.

Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí khơng có lãi suất. lãi

suất giao động từ 0,5% đến 5%/năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường

tài chính quốc tế là trên 7%/năm và hàng năm phải thỏa thuận lại lãi suất

giữa hai bên).

Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và

ưu tiên riêng của mình, tập trung vòa một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có

khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời

đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo

từng giai đoạn cụ thể.

Thứ hai, vốn ODA thường kèm theo các ràng buộc nhất định

Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể

kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc

này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh

9



9



tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Thơng thường, các ràng buộc

kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hóa và

dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan

Mach yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước

mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan

2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỉ lệ ODA yêu cầu phải mua

hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp. Nhìn chung, 22% viện trợ của ADC

phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.

Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích

của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều khơng qn dành được lợi

ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa

và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ.

Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ

Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh

nặng nợ thường chưa xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu quả

ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sua một thời gian lại lâm

vào vòng nợ nần do khơng có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ vốn ODA

khơng có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong

khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định

chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức

mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

Thứ tư, ODA là một giao dịch quốc tế, thể hiện ở chỗ hai bên tham gia

giao dịch này không cùng quốc tịch. Bên cung cấp thường là các nước phát

triển hay các tổ chức phi chính phủ. Bên tiếp nhận thường là các nước đang

phát triển hay các nước gặp khó khăn về nguồn lực trong việc giải quyết các

vấn đề xã hội, kinh tế hay môi trường.

Thứ năm, ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là ênh

song phương và đa phương. Kênh sog phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODA

10



10



trực tiếp cho Chính phủ quốc gia được tài trợ. Kênh đa phương, các tổ chức

quốc tế hoạt động nhờ khoản đóng góp của nhiều thành viên cung cấp ODA

cho quốc gia được viện trợ. Đối với các nước thành viên thì đây là cách cung

cấp ODA gián tiếp.

Thứ sáu, ODA là một giao dịch chính thức, tính chính thức của nó

được thể hiện ở chỗ giá trị nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì,

phải được sự chấp thuận và phê chuẩn của Chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự

đồng ý tiếp nhận đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, hiệp ước quốc tê

ký kết với nhà tài trợ.

Thứ bảy, ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng. Mục đích của việc

cung cấp ODA là nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước

nghèo. Đôi lúc ODA cũng được sử dụng để hỗ trợ các nước gặp hồn cảnh

khó khăn như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh… do đó, có lúc các

nước phát triển cũng được nhận viện trợ. Nhưng không phải lúc nào mục đích

này cũng được đặt lên hàng đầu, nhiều khi các nhà tài trợ thường áp đặt điều

kiện của mình nhằm thực hiện những toan tính khác.

ODA có thể được các nhà tài trợ cung cấp sứoi dạng tài chính, cũng có

khi là hiện vật.

1.2.

1.2.1.

-



-



Phân loại nguồn vốn ODA

Phân lại theo tính chất

ODA khơng hồn lại: Là hình thức ODA mà nước tiếp nhận khơng phải hồn

trả lại cho nhà tài trợ.

ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): Là khoản vay với các điều

kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố

khơng hồn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25%



-



đối với các khoản vay không ràng buộc.

ODA vay hỗn hợp: Là các khoản viện trợ khơng hồn lại hoặc các khoản vay ưu

đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính

chung lại có yếu tố khơng hồn lại đtạ ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng



1.2.2.



buộc và 25% đối với các khoản vay khơng có ràng buộc.

Phân loại theo mục đích

11



11



-



Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu



-



đãi.

Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công

nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền

đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực… hình thức hỗ trợ này chủ yếu là



1.2.3.

-



viện trợ khơng hồn lại.

Phân loại theo điều kiện

ODA khơng ràng buộc nước nhận: Việc sử dụng nguồn tài trợ khơng bị ràng



-



buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.

ODA có ràng buộc nước nhận: Là loại ODA mà việc sử dụng nó bị ràng buộc

bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.

+ Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hóa,

trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công

ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương) hoặc

các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh



1.2.4.



vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể.

ODA có thể ràng buộc 1 phần: Là loại ODA mà một phần chi ở nước viện trợ

phần còn lại chi ở bất cứ nước nào.

Phân loại theo đối tượng sử dụng

Có 2 loại nguồn vốn ODA:



-



ODA hỗ trợ dự án: Là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ

thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc



-



cho vay ưu đãi.

ODA hỗ trợ phi dự án: Bao gồm các loại hình sau:

+ Hỗ trợ cán cân thanh tốn: Thường là ỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển

giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hóa

được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách.

+ Hỗ trợ trả nợ (hỗ trợ ngân sách)



12



12



+ ODA hỗ trợ chương trình: Là khoản vốn ODA dành cho một mục

đích tổng quát với thời gian nhất định mà khơng phải xác định một cách chính

xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.

1.2.5.

-



Phân loại theo nhà tài trợ

ODA song phương: Là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp

cho Chính phủ nước tiếp nhận. Thơng thường vốn ODA song phương được

tiến hành khi một số điều kiện ràng buộc của nước cung cấp vốn ODA được



-



thỏa mãn.

ODA đa phương: Là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho

Chính phủ nước tiếp nhận. So với vốn ODA song phương thì vốn ODA đa

phương ít chịu ảnh hưởng bới các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu

những áp lực mạnh hơn về chính trị.



1.3.

1.3.1.

-



Tác động của ODA tới nước tiếp nhận đầu tư

Tích cực

ODA mang lại nguồn lực cho đất nước.ODA là nguồn vốn bổ sung giúp

cho các nước nghèo và đang phát triển phục vụ quá trình phát triển kinh tế

xã hội, đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà

nước.

Vốn ODA có đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay cũng như thời gian ân

hạn dài (25- 40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm), lãi suất

thấp (khoảng từ 0,25% đến 2%/năm), và trong nguồn vốn ODA luôn có một

phần viện trợ khơng hồn lại. Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu

đãi như vậy chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư

cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thủy

lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế - xã

hội được xây dựng mới hoặc cải tao nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan



-



trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước nghèo.

ODA loại bỏ sự thiếu vốn và ngoại tệ, tăng đầu tưu vốn điểm mà ở đó sự tăng

trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến quá trình tự duy

trì và phát triển.

13



13



ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán

quốc tế của các nước đang phát triển. Đa phần các nước đang phát triển rơi

vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán

quốc tế của các quốc gia này. ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có

chức năng làm lành mạnh hố cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó

ổn định đồng bản tệ.

-



Nhờ có nguồn vốn ODA mà đã khuyến khích thu hút đầu tư trong và ngồi

nước, đặc biệt là nguồn vốn trực tiếp nước ngoài FDI.

ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu

tư tư nhân, có tác động tích cực đến phát triển năng lực sản xuất, nâng cao

chất lượng dịch vụ của các ngành và địa phương. Ở những quốc gia có cơ chế

quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân

theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ. Đối với những nước đang trong

tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực

tư nhân vào công cuộc đổi mới của đất nước.



-



Nguồn vốn ODA đã góp phần phát triển nguồn nhân lực, nâng cao điều kiện

sống cho người dân, tăng phúc lợi công cộng, cải thiện điều kiện môi trường.

Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên

dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và

hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho

việc dạy và học của các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, một lượng ODA

khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo

sức khoẻ cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước đang



-



phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình.

ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực thể chế thơng qua

các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành



1.3.2.



chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế.

Tiêu cực



14



14



-



ODA là nguồn vốn ưu đãi nhưng nó thường đi kèm theo các điều kiện ràng

buộc nhất định về chính trị, kinh tế hoặc khu vực địa lý. Các nước giàu khi

viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị

trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc

phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, họ đều có chính sách riêng



-



hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế.

Nước nhận viện trợ còn phải chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ

ODA không phải lúc nào cũng phát huy được tác dụng đối với khu vực tư

nhân. Ở những nền kinh tế có mơi trường kinh doanh bị bóp méo nghiêm



-



trọng thì viện trợ khơng những khơng bổ sung mà còn lọai trừ đầu tư tư nhân.

Trong cùng một quốc gia, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố lớn tạo

nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế- xã hội, làm cho khoảng cách giàu



-



nghèo giữa thành thị và nơng thơn ngày càng lớn.

Tình trạng thất thốt, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử

dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh

nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến

cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn



1.4.

1.4.1.

-



thấp... có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.

Các yếu tố ảnh hưởng đến ODA

Từ phía nước tài trợ

Mục tiêu chiến lược cung cấp ODA của nhà tài trợ: Trong từng thời kỳ, căn

cứ vào mục tiêu chiến lược mà nhà tài trợ xác định tập trung vào khu vực nào,

quốc gia nào, theo phương thức nào. Nếu mục tiêu chiến lược cung cấp ODA

của nước tài trợ thay đổi thì nó sẽ ảnh hưởng đến quốc gia tiếp nhận về cả cơ



-



cấu nguồn vốn ODA và cơ chế chính sách quản lý.

Tình hình kinh tế - chính trị cũng như các biến động bất thường có thể xảy ra

ở phía nhà tài trợ. Khi có những sự biến động bất thường thì chính sách và các

quy định về quản lý ODA cũng có thể thay đổi, dựa vào những đánh giá về



-



các khoản ODA đã được thực hiện trong thời gian qua của từng nhà tài trợ.

Bối cảnh quốc tế và sự phát triển các mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa hai

phía tài trợ và nhận tài trợ. Nếu bối cảnh và mối quan hệ này mà mang tính

tích cực thì sẽ tạo thuận lợi cho việc giữ vững và mở rộng quy mô nguồn vốn

ODA và cả đối với việc hài hòa thủ tục giữa hai bên và ngược lại.

15



15



Từ phía nước tiếp nhận

Sự ổn định của thể chế chính trị: Thực tế đã chỉ ra rằng, nếu thể chế chính trị



1.4.2.

-



ổn định sẽ tạo điều kiện cho việc thu hút và quản lý ODA.

Mức ổn định kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn phát triển, đặc biệt là chính



-



sách tài chính, thuế, mức độ mở cửa của nền kinh tế… cũng có ảnh hưởng rất

lớn đến cơng tác quản lý. Nếu các chính sách này ổn định trong thời gian dài

và hợp lý sẽ góp phần cho quản lý nguồn vốn ODA tốt và ngược lại, sẽ gây

ảnh hưởng đến việc quản lý nguồn vốn này.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức quản lý, sử



-



dụng nguồn vốn ODA. Nếu các văn bản này ổn định và phù hợp sẽ góp phần

cho cơng tác quản lý tốt nguồn vốn ODA và ngược lại, sẽ làm ảnh hưởng rất

nhiều đến công tác quản lý nguồn vốn này theo chiều hướng khơng tốt.

Trình độ phát triển kinh tế và đặc biệt là trình độ phát triển hệ thống thể chế



-



kinh tế, các điều kiện có liên quan đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ

hay tốc độ tăng trưởng kinh tế qua từng thời kỳ. Nhận thức của cán bộ lãnh

đạo, cán bộ quản lý và cả người dân về nguồn vốn ODA mà trước hết là các

ngành, các cấp, các địa phương, các cơ sở thụ hưởng trực tiếp… cũng đóng

vai trò là các nhân tố có ảnh hưởng rất nhiều đến cơng tác quản lý nguồn vốn

ODA này của bên nhận tài trợ.

Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA

Căn cứ vào phạm vi có thể phân loại đánh giá hiệu quả sử dụng vốn



1.5.



ODA ở tầm vĩ mô và vi mô

Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA tầm vĩ mô



1.5.1.



Đánh giá hiệu quả nguồn vốn ODA dựa trên sự phát triển của toàn bộ

nền kinh tế, với sự thay đổi của các chỉ tiêu xã hội tổng thể. Các chỉ tiêu chính

dùng để đánh giá là:

-



Tăng trưởng GDP;

Tăng mức GDP trên đầu người;

Các chỉ số về xã hội: Tỷ lệ giảm ngèo, tỷ lệ biết đọc, biết viết, tỷ lệ tăng dân



-



số, tuổi bình quân…;

Khả năng hấp thụ và hiệu quả sử dụng vốn ODA theo ngành;

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế



-



16



16



Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA theo ngành, chúng ta cũng

dựa trên sự phát triển của toàn ngành, các chỉ tiêu chính phản ánh sự tăng

trưởng của ngành trong kỳ đánh giá.

1.5.2.



Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA tầm vi mô

Đánh giá vi mô là đánh giá khách quan một chương trình/ dự án đang thực

hiện hoặc đã hoàn thành từ khâu thiết kế (xây dựng dự án), tổ chức thực hiện

(công tác lập kế hoạch, thực hiện đấu thầu…) và những thành quả của dự án (kết

quả giải ngân, tính bền vững của dự án, số đối tượng hưởng lợi của dự án…).

Mục đích của việc đánh giá hiệu quả là nhằm xác định tính phù hợp,

việc hoàn thành các mục tiêu, hiệu quả phát triển, tác động và tính bền vững

của dự án. Việc đánh dự án nhằm cung cấp những thông tin hữu ích và đnág

tin cậy, giúp cho Chính phủ nước tiếp nhận tài trợ và nhà tài trợ nắm được các

thông tin quan trọng đầy đủ để có những quyết sách kịp thời và đưa ra những

quyết định chính xác đối với các dự án đang thực hiện và rút ra những bài học

bổ ích đối với các dự án sẽ thực hiện trong tương lai.

Việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA ở tầm vi mô tức là việc đánh

giá các kết quả thực hiện của dự án có đạt được theo các mục tiêu ban đầu đã

đề ra/ ký kết trong Hiệp định giữa Chính phủ và nhà tài trợ hay khơng. Các

tiêu chí để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA đối với một chương trình/dự

án như được định nghĩa trong “Các nguyên tắc trong đánh giá nguồn hỗ trợ



-



phát triển của Ủy ban hỗ trợ phát triển OECD”, bao gồm các tiêu chí:

Tính phù hợp: Là mức độ phù hợp của việc đầu tư bằng nguồn vốn ODA đối

với những ưu tiên và chính sách của nhóm mục tiêu, bên tiếp nhận tài trợ và

nhà tài trợ.

Việc đánh giá tính phù hợp sẽ cho thấy chương trình/dự án có phù hợp

khi được triển khai tại khu vực/vùng đó hay khơng, có đáp ứng được nhu cầu

của các cơ quan thụ hưởng hay khơng, có đúng mục tiêu đặt ra hay khơng, từ

đó có những điều chỉnh cần thiết để đảm bảo dự án được thực hiện theo đúng



-



mục tiêu ban đầu và đáp ứng được nhu cầu đề ra.

Tính hiệu suất: Đo lường sản phẩm đầu ra – định lượng và định tính liên

quan đến các yếu tố đầu vào, điều này có nghĩa là chương trình/dự án sử dụng

17



17



ít nguồn lực nhất có thể được để đạt được kết quả mong đợi. Hay nói cách

khác là thông qua việc so sánh việc lựa chọn các yếu tố đầu vào nhưng vẫn

đạt được kết qủa đầu ra như mong đợi, để thấy được quy trình thực hiện

chương trình/dự án đã là hợp lý nhất chưa.

Đánh giá tình hiệu suất sẽ cho thấy dự án thực hiện đạt được kết quả

như mục tiêu đề ra trên cơ sở tiết kiệm được nguồn lực đầu vào như thế nào?

Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm và những sự lựa chọn thay thế

cần thiết khi thực hiện những dự án tiếp theo trên cơ sở sử dụng và kết hợp

-



các yếu tố đầu vào hợp lý nhất.

Tính hiệu quả: Là thước đo mức độ đạt được các mục tiêu đề ra của một

chương trình/dự án.

Đánh giá tính hiệu quả của dự án nhằm xem xét việc dự án có đạt được

mục tiêu như trong thiết kê/văn kiện ban đầu của dự án không? Việc đánh giá

này được thực hiện trên cơ sở so sánh kết quả theo thiết kế/văn kiện với kết

quả đạt được trên thực tế. Từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm và những



-



đề xuất tiếp theo (nếu có).

Tính tác động: Là những chuyển biến tích cực và tiêu cực do sự can thiệp

trực tiếp hoặc giám tiếp, có chủ ý hoặc khơng chủ ý, của việc thực hiện

chương trình/dự án tạo ra. Nó cho thấy những tác động và ảnh hưởng đối với

kinh tế, xã hội, môi trường và các chỉ số về phát triển khác do việc thực hiện

dự án/chương trình tạo ra.

Tính tác động của dự án khơng thể đo lường ngay khi dự án kết thúc,

do đó người ta thường đánh giá nó sau khi dự án đã kết thúc từ 3 – 5 năm, khi

đó mới có thể thấy được dự án có những tác động gì đến tình hình kinh tế, xã



-



hội và mơi trường tại khu vực thực hiện dự án và xung quanh

Tính bền vững: Xem xét những lợi ích của việc thực hiện chương trình/dự án

sẽ được duy trì sau khi kết thúc nguồn tài trợ như thế nào cả về mặt tài chính

và mơi trường.

Xem xét tính bền vững của dự án chính là xem xét những hoạt

động/hiệu quả/tác động của dự án có tiếp tục được duy trì khi dự án khơng

còn tồn tại hay khơng? Các bên tham gia dự án, chính phủ hay các tổ chức

khác có tiếp tục duy trì ccá hoạt động của dự án một cách độc lập hay không?

18



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×