Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thông động TM: thường gặp trong nhu mô ở vùng bị đụng giập, khó phát hiện vì mạch máu tạng nhỏ, lại phong phú nên biểu hiện thiếu máu, suy tim… do thông động TM kín đáo không rõ ràng. Phát hiện được bằng siêu âm Doppler.

Thông động TM: thường gặp trong nhu mô ở vùng bị đụng giập, khó phát hiện vì mạch máu tạng nhỏ, lại phong phú nên biểu hiện thiếu máu, suy tim… do thông động TM kín đáo không rõ ràng. Phát hiện được bằng siêu âm Doppler.

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

bong ra… hoặc trên cơ sở khối phồng do chấn thương cũ nơi dòng máu bị xoắn

rối. Huyết khối có thể tắc mạch hoàn toàn hoặc chỉ làm hẹp, hậu quả gây thiếu

máu cấp tính hoặc man tính tạng được cấp máu. Vùng nuôi dưỡng sẽ bị hoại tử

(thiếu máu cấp) hoặc teo, xơ hóa (thiếu máu man).



1.1.2. Tổn thương của các tạng và phân loại

1.1.2.1. Gan

Gan là tạng đặc lớn nhất trong ổ bụng (khoảng 1500 gr), giàu mạch máu,

cấu trúc giải phẫu phức tạp (động mạch gan, TM cửa, TM trên gan, đường

mật…) cho nên rất dễ bị tổn thương, tổn thương phức tạp, đe dọa tính mạng.

Phương tiện cố định: Gan nằm dưới cơ hoành, chiếm toàn bộ bên phải

(thùy phải) một phần dưới hoành trái (thùy trái), được cố định bởi các dây

chằng. Dây chằng tam giác phải và trái: hình thành từ 2 lá của dây chằng

vành dính vào cơ hồnh. Bên phải thường ở hạ phân thùy VII, bên trái ở hạ

phân thùy II. ở những vị trí bám này cũng dễ bị xé rách bao gan, nhu mô theo

cơ chế gián tiếp. Dây chằng tròn, mạc chằng liềm: đây là phương tiện cố định

gan với thành bụng trước, rất chắc chắn nên cũng là nơi dễ bị xé rách nhất.

Nhẹ nhất là tụ máu nhỏ dưới bao dọc theo chỗ bám của mạc chằng liềm, rồi

đến rách bao Glisson chảy máu, nặng hơn là xé sâu vào nhu mô gan do nhu

mô bị giằng khỏi chỗ bá. Các dây chằng khác: ngoài các dây chằng đa nêu,

nhiều khi có những dây chằng như gan-tá tràng, gan-đại tràng, các dính bất

thường giữa gan và vòm hồnh…khi bị chấn thương theo cơ chế gián tiếp các

vị trí bám với gan cũng có có nguy cơ bị xé gây chảy máu [8], [9], [1].

Mạch máu: TM gan (trên gan): là nơi gan bám vào TM chủ dưới, thơng

thường có 3 TM trái, giữa, phải và các TM trực tiếp từ thùy đi. Khi có

chấn thương mạnh các chỗ đổ này có thể bị giằng xé gây rách chảy máu dữ

dội TM cửa: từ cuống gan phân chia các nhánh trong gan nằm trong khoảng

cửa cùng động mạch gan và đường mật. Đây là cơ sở phân chia gan thành các

thùy, phân thùy, hạ phân thùy. Các nhánh TM cửa thành mỏng dễ bị rách khi



6

giằng xé, khi bị đụng giập nhu mô gan. Động mạch gan: cũng từ cuống gan

phân chia trong gan trong khoảng cửa nhưng đàn hồi hơn TM nên ít tổn

thương hơn. Đường mật: cũng là một thành phần của cuống gan, nằm trong

khoảng cửa, đi cùng động mạch gan, TM cửa, nhưng hình thành theo chiều

ngược lại. Đây là thành phần riêng có của gan, khi bị giằng xé bị đứt, rách gây

chảy mật trong ổ bụng, tụ dịch mật trong nhu mô gan nơi bị dập nát, hẹp

đường mật muộn do xơ hóa. Túi mật có thể bị bong khỏi giường túi mật đụng

giập chảy máu hoặc vỡ [10].

Phân chia gan: Gan được chia thành các thùy, phân thùy nhỏ nhất là hạ

phân thùy. Mỗi hạ phân thùy có nhánh động mạch gan, TM cửa chi phối, có

nhánh TM gan, đường mật độc lập với các hạ phân thùy khác. Đây là cơ sở để

đánh giá tổn thương gan, để cắt gan tổn thương cầm máu. Ranh giữa từ bờ

phải TM chủ dưới ở bờ trên gan đến hố túi mật chia gan thành gan phải và

gan trái. Từ ranh giữa đến mạc chằng liềm là phân thùy giữa (hạ phân thùy

IV), bên trái mạc chằng liềm là phân thùy bên (thùy trái). Ranh bên trái đi từ

bờ trái TM chủ dưới đến khoảng điểm giữa dây chằng tròn và dây chằng tam

giác trái chia thùy trái thành hạ phân thùy II và III. Ranh bên phải đi từ chỗ đổ

của TM gan phải vào TM chủ dưới đến điểm giữa bờ phải hố túi mật và góc

gan phải, chia gan phải thành phân thùy trước và phân thùy sau. Phân thùy

trước còn chia ra hạ phân thùy V và VIII, phân thùy sau chia ra hạ phân thùy

VI và VII [8].

Các hình thái tổn thương:

+ Tụ máu dưới bao: bao Glisson khơng rách, có vỡ nơng dưới bao hình

thành khối máu tụ dưới bao. Khối có thể nhỏ, có thể lan rộng. Bao Glisson

nguyên vẹn tạo nên áp lực giúp cho tự cầm máu tốt hơn. Nếu cầm máu được

khối máu tụ sẽ tự tiêu dần hoặc không để lại dấu vết gì hoặc để lại khối dịch.

Khối máu tụ lớn khơng tự tiêu được có thể bị áp xe hóa, chèn ép nhu mơ gan

còn lại. Máu khơng cầm được khối máu tụ sẽ vỡ gây chảy máu thì 2.

+ Rách bao gan: vị trí rách xung quanh các vị trí bám các mạc treo, dây



7

chằng.

+ Đường vỡ: do mạch máu, đường mật đàn hồi hơn nhu mô gan nên

đường vỡ có xu hướng theo các đường phân chia gan. Độ dài, sâu và hướng

của đường vỡ rất phức tạp. Lực tác động trực tiếp đường vỡ có xu hướng theo

mặt phẳng dọc, chiều trước sau.Lực tác động kiểu sức ép, đường vỡ thường

theo mặt phẳng ngang. Nếu đường vỡ vào sâu thì TM cửa và TM gan dễ bị

xé rách nhất [11].

+ Đụng giập nhu mô, tụ máu: phần nhu mô bị đụng giập, chảy máu nằm

sâu trong gan nên không chảy tự do vào ổ bụng. Các thành phần trong ổ bị tổn

thương có thể gồm động mạch, TM cửa, TM gan, đường mật, tế bào gan…

Nếu là các nhánh nhỏ, tổn thương tự cầm, ổ đụng giập sẽ tổ chức hóa, dịch

hóa hoặc bị áp xe hóa. Nếu các nhánh tổn thương lớn, ổ đụng giập, tụ máu, tụ

mật to ra gây chèn ép nhu mô lành, gây vỡ làm chảy máu, chảy mật hoặc áp

xe hóa.

+ Tổn thương mạch máu: gan khơng những là tạng giàu mạch máu mà

còn liên quan chặt chẽ với nhiều mạch máu lớn xung quanh: TM chủ dưới,

TM cửa. Khi bị tổn thương đặc biệt theo cơ chế gián tiếp TM chủ dưới dễ bị

xé rách ở những chỗ gan bám vào (TM gan, thùy đi). Có thể có tắc, đứt các

nhánh động mạch gan, TM cửa gây thiếu máu một vùng gan mà nhánh mạch

đó chi phối [1].

Phân độ tổn thương gan: Có nhiều cách phân độ tổn thương gan nhưng

phân độ theo AAST (American Association for the Surgery of Trauma) dựa

trên phân loại của Moore được sử dụng rộng rai vì hợp lý hơn cả [12], [13],

[14].

Bảng 1. 1. Phân độ chấn thương gan theo AAST

Phân độ



Mô tả tổn thương



I



- Tụ máu dưới bao gan <10% diện tích bề mặt

- Rách nhu mô đường vỡ sâu < 1cm



8

- Tụ máu dưới bao gan 10–50% diện tích bề mặt, tụ máu trong

II



III

IV



nhu mô <10cm

- Rách nhu mô sâu 1-3cm, dài < 10 cm

- Tụ máu dưới bao > 50% diện tích bề mặt, Tụ máu trong nhu mơ

> 10cm hay lan rộng.

- Rách nhu mô đường vỡ sâu > 3cm

-Rách nhu mô liên quan đến 25 – 75% trong 1 thuỳ gan hay 1-3

phân thuỳ trong 1 thuỳ gan

- Rách nhu mô > 75% trong 1 thuỳ gan hay > 3 phân thuỳ trong 1



V

VI



thuỳ gan

- Tổn thương tĩnh mạch gan (TM gan/TMCD)

- Đứt rời gan.



1.1.2.2. Lách

Giải phẫu lách và cơ chế chấn thương: Lách là tạng đặc lớn tứ 2 sau

gan trong ổ bụng (khoảng 250 gr) nhưng lại dễ bị tổn thương nhất. Chấn

thương lách gặp tới 30% trong CTBK. Lách có cấu tạo giải phẫu thường chỉ

có 1 động mạch lách và 1 TM lách, nhu mơ dễ bị vỡ. Lách nằm dưới hồnh

trái, di động hơn gan nhưng cũng được cố định bởi các mạc treo, dây chằng.

Mặt trước, trên là mạc nối vị tỳ nối lách với bờ cong lớn dạ dày có nhiều

mạch máu. Rốn lách liên tiếp với đi tụy nơi có động mạch, TM lách. Cực

dưới có dây chằng lách - đại tràng góc lách, cực trên có dây chằng lách hồnh, mặt sau bên dính với mặt trước thận và cơ hoành. Lách được chia theo

phân chia của động mạch, có rất nhiều cách phân chia của nhiều tác giả nhưng

về nguyên tắc là lách có thể chia thành các thùy, phân thùy độc lập, đó là cơ

sở để cắt một phần lách cầm máu [8], [1]. Tất cả các chấn thương mạnh vào

vùng hạ sườn trái, mạng sườn trái đều có thể tác động trực tiếp vào lách làm

vỡ lách. Lách còn dễ bị chấn thương theo cơ chế gián tiếp, bị giằng xé khỏi

các phương tiện cố định làm rách lách thậm chí đứt cả cuống lách [15], [1].

Các dạng tổn thương: Cũng là tạng đặc giống như gan, lách cũng có

các tổn thương cơ bản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thông động TM: thường gặp trong nhu mô ở vùng bị đụng giập, khó phát hiện vì mạch máu tạng nhỏ, lại phong phú nên biểu hiện thiếu máu, suy tim… do thông động TM kín đáo không rõ ràng. Phát hiện được bằng siêu âm Doppler.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×