Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhóm 2: Nhóm suy dinh dưỡng khi trẻ có 1 trong 3 chỉ số trên < -2 SD

Nhóm 2: Nhóm suy dinh dưỡng khi trẻ có 1 trong 3 chỉ số trên < -2 SD

Tải bản đầy đủ - 0trang

37



Người phỏng vấn được huấn luyện kỹ để có thể thu được các thơng tin

chính xác về số lượng các thực phẩm (kể cả đồ uống) được đối tượng đã tiêu thụ.

Người phỏng vấn sử dụng những dụng cụ hỗ trợ: album ảnh món ăn để

giúp đối tượng có thể dễ nhớ, dễ mơ tả các kích cỡ thực phẩm đã được tiêu

thụ và giúp cho quy đổi đơn vị đo lường của hộ gia đình ra gram.

Cách thu thập số liệu:

Đối với điều tra viên (ĐTV): Trước khi tiến hành thu thập số liệu, cần

được tập huấn kỹ về mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng của cuộc điều tra, đặc

biệt là các kỹ thuật và kỹ năng điều tra. Sau đó phải được điều tra thử (pretest)

rồi mới tham gia điều tra chính thức.

Đối tượng được hỏi: Là người trực tiếp chăm sóc trẻ.

Thời gian: Hỏi ghi tất cả thực phẩm kể cả đồ uống được đối tượng tiêu

thụ trong 1 ngày hôm trước (kể từ lúc ngủ dậy buổi sáng hôm qua cho đến

trước lúc thức dậy sáng hôm sau).

Kỹ thuật:

+ Trước khi phỏng vấn, ĐTV phải giải thích rõ mục đích, ý nghĩa và

tầm quan trọng của cuộc điều tra với đối tượng được điều tra để họ hiểu và

cùng cộng tác nhằm đảm bảo tính chân thực của số liệu.

+ Một ngày ăn của đối tượng được chia làm 6 khoảng thời gian khác

nhau để giúp gợi lại trí nhớ của đối tượng, tránh bỏ sót các bữa ăn thêm.

1. Bữa sáng

2. Bữa giữa sáng và bữa trưa

3. Bữa trưa

4. Bữa giữa bữa trưa và bữa tối

5. Bữa tối

6. Bữa giữa bữa tối cho đến trước khi thức giậy của ngày hôm sau

Bắt đầu thu thập thông tin từ bữa 1 rồi tiếp tục diễn biến theo thời gian

cho đến bữa cuối cùng của ngày điều tra.



38



Tên thực phẩm mà đối tượng tiêu thụ cần được mơ tả chi tiết, chính

xác ví dụ như: cá chép, thịt lợn ba chỉ… đối với các thức ăn chín chế biến

sẵn sản phẩm theo truyền thống của địa phương được nhiều đối tượng sử

dụng mà khơng có trong ‘Bảng thành phần hoá học thức ăn Việt Nam’ cần

được quy về thức ăn sống riêng biệt của từng loại thực phẩm dùng để chế

biến nên thức ăn đó.

Số lượng thực phẩm đã tiêu thụ cần được đánh giá một cách chính xác

bằng cách sử dụng các dụng cụ hỗ trợ.

Trong quá trình phỏng vấn những câu hỏi chi tiết ln được đặt ra để

kiểm tra độ chính xác của thơng tin. Mục đích cuối cùng là để ước lượng

chính xác nhất tên và trọng lượng thực phẩm đã được đối tượng sử dụng trong

ngày hôm trước khi phỏng vấn.

Quá trình phỏng vấn nên tiến hành tại một khơng gian dễ chịu thoải

mái, thân mật cởi mở… để làm cho đối tượng cảm thấy yên tâm, gần gũi giúp

họ trả lời câu hỏi chính xác nhất. Hạn chế tối đa câu hỏi gợi ý hoặc điều chỉnh

câu trả lời của đối tượng. Các thông tin trong phiếu điều tra đều được kiểm tra

và hoàn chỉnh ngay tại thực địa.

2.3.5. Chỉ số và cách đánh giá các chỉ số:

* Cân nặng, chiều cao: để đánh giá tình trạng SDD của trẻ theo WHO 2006

chia các nhóm:

* Thơng tin về người chăm sóc trẻ:

- Nghề nghiệp: Cán bộ viên chức hay nghề khác

- Trình độ học vấn: Chưa tốt nghiệp THPT, tốt nghiệp THPT trở lên

- Điều kiện kinh tế: Hộ nghèo, bình thường

- Chỗ ở: Thành thị/ nơng thơn

* Thơng tin về trẻ:

Tuổi của trẻ: Trẻ được chia thành 5 nhóm nghiên cứu: dưới 6 tháng tuổi,

từ 6- 8 tháng tuổi, từ 9 đến 11 tháng tuổi, từ 1 đến 2 tuổi và từ 3 đến 5 tuổi.



39



Phân loại được dựa trên sự tương đồng về mức năng lượng được khuyến cáo

cho trẻ.

Giới: nam hay nữ

Cận nặng lúc sinh: < 2500 gram và ≥ 2500 gram

Tình trạng lúc sinh: đẻ đủ tháng và đẻ thiếu tháng

* Khẩu phần ăn 24h: Đánh giá năng lượng khẩu phần ăn của trẻ theo khuyến

nghị năm 2016 của viện dinh dưỡng [56]

Nhóm tuổi

<6 tháng

Từ 6 đến 8 tháng

Từ 9 đến 11 tháng

Từ 1 đến 2 tuổi

Từ 3 đến 5 tuổi



RDA trai( kcal/ngày)

550

650

700

1000

1300



RDA gái( kcal/ngày)

500

600

650

950

1250



*Kiến thức của cha mẹ về chăm sóc trẻ bại não: số câu trả lời đúng.

+ Trẻ bại não có cho ăn kiêng thịt bò, tơm, chuối…

+ Trẻ bại não nên ăn nhiều bữa một ngày khơng? Vì sao

Có nên tập cho trẻ ăn từ lỏng đến mềm phù hợp với tình trạng nhai và

nuốt của trẻ khơng? Vì sao?

+ Trong 2 từ thế cho ăn (xem phụ lục) thì mẹ (người nhà) hay cho bé ăn

theo tư thế nào?

+ Mẹ (người nhà) có biết cách hỗ trợ cho bé nhai và nuốt tốt hơn ko? Có

thì mơ phỏng

- Các rối loạn về dinh dưỡng kèm theo:

+ Khó nuốt: có hay khơng

+ Thời gian mỗi bữa ăn: ≤ 30 phút; > 30 phút

+ Tình trạng đại tiện: hàng ngày, cách ngày, ít hơn 3 lần/ tuần



40



2.4. Sai số và cách khống chế

- Sai số:

+ Cân đo

+ Nhớ lại

+ Do người phỏng vấn

- Cách khống chế:

+ Chỉ sử dụng một loại cân và thước trong suốt quá trình điều tra.

+ Người phỏng vấn không phỏng vấn những bệnh nhân đang trong

trường hợp cấp cứu, đang trong quá trình khám bệnh và phát thuốc hàng

ngày, con nhỏ đang quấy khóc để bệnh nhân có thời gian yên tâm nhớ lại

và mô tả chi tiết. Tạo sự ân cần, cởi mở thoải mái để bệnh nhân và ngừời

nhà thấy được sự gần gũi thân thiện của thầy thuốc họ sẽ vủi vẻ cộng tác và

chia sẻ.

+ Phải chuẩn bị kỹ lưỡng điều tra thử để phát hiện ra sai sót tiến hành

sửa cho sao cho kịp thời.



41



2.5. Xử lý và phân tích số liệu

- Làm sạch số liệu.

- Nhập và xử lý số liệu trên phần mềm STATA phiên bản 13.0.

- Sử dụng phần mềm WHO Anthro 2005 để tính và phân loại SDD

- Số liệu điều tra khẩu phần được quy đổi ra thức ăn sống sạch dựa trên

album các món ăn thơng dụng của Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Giá trị dinh

dưỡng sẽ dựa trên bảng thành phần thực phẩm Việt Nam - viện Dinh Dưỡng

năm 2007 [57].

- Sử dụng phần mềm Eiyokun để đánh giá khẩu phần [58].

- Sử dụng test thống kê y học để phân tích



42



CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu của chúng tôi gồm 230 trẻ bại não dưới 60 tháng tuổi có đặc

điểm nghiên cứu sau đây.

3.1. Một số đặc điểm chung của trẻ trong nhóm nghiên cứu



Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới

Nhận xét: Tỉ lệ bé trai chiếm đa số trong nhóm đối tượng nghiên cứu

với tỉ lệ là 67,4% và tỉ lệ bé gái chiếm 32,6%.



Biểu đồ 3.2. Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới.

Nhận xét: Trẻ từ 1 đến 2 tuổi chiếm tỉ lệ nhiều nhất (59,1%) trong đó

40,9% là trai và 18,2% là gái. Tiếp đến là nhóm trẻ trên 3 đến 4 tuổi (35,7%) với

24,3% là trai và 11,4% là gái. Nhóm trẻ dưới 1 tuổi chiếm 5,2% trong đó tỉ lệ trẻ

trai là 3% và gái là 2,2%.



Biểu đồ 3.3. Phân bố bệnh nhân theo thể lâm sàng

Nhận xét: Tỉ lệ trẻ em trong nhóm nghiên cứu bị liệt tứ chi chiếm tỉ lệ

cao nhất với 56,5% trong đó trẻ trai chiếm 40% và trẻ gái chiếm16,5%. Tiếp

đến là thể liệt nửa người chiếm 22,2% với 7,4% là trẻ gái và 14,8% là trẻ trai.

Và thể chiếm tỉ lệ thấp nhất là liệt 2 chân là 21,3%.



43



Bảng 3.1. Thông tin chung của bà mẹ và đặc điểm hộ gia đình

Thơng tin chung về gia đinh

Từ 20-35

Tuổi mẹ

Khác

Khơng đi học

Trìn Cấp 1

Cấp 2

h độ học vấn của Cấp 3

Trung cấp - Cao Đẳng

mẹ



n

203

27

1

3

69

88

37



Tỷ lệ %

88.3

11.7

0.4

1.3

30,0

38,3

16,1



Đại học - Sau đại học



32



13,9



230



100,0



36

53

59

52

30

53

57

11

39

170



15,7

23,0

25,7

22,6

13,0

48,2

51,8

4,8

17,0

73,9



10



4,4



Kiến thức chăm

sóc trẻ



Trả lời đúng ≥3 câu



Nơng dân

Nghề nghiệp của Công nhân

Viên chức

mẹ

Nội trợ, không đi làm

Buôn bán

Thành thị

Nơi ở hiện tại

Nơng thơn

Tiền viện phí chi Dưới 2 triệu

Từ 1 đến 5 triệu

trả

Từ 5 đến 10 triệu

Trên 10 triệu



Nhận xét: Nhóm tuổi ở độ tuổi sinh để từ 20 đến 35 tuổi chiếm 88,3%.

Các độ tuổi còn lại chiếm 11,7%.

Trình độ học vấn của mẹ chiếm tỉ lệ cao nhất là tốt nghiệp THPT

(38,3%), tiếp đến là tốt nghiệp THCS (30%), trình độ trung cấp và cao đẳng

chiếm 16,1%. Trình độ đại học sau đại học chiếm 13,9%. Chiếm tỉ lệ ít nhất là

tốt nghiệp tiểu học là 1,3%.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhóm 2: Nhóm suy dinh dưỡng khi trẻ có 1 trong 3 chỉ số trên < -2 SD

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×