Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thái lan (2011) từ kết quả của Ratanachu thống kê trên 161 bệnh nhân từ 1-15 tuổi bị mắc tim bẩm sinh thì có 29% là TLT và tỷ lệ SDD 40% mức độ vừa và 3% SDD nặng. SDD nhẹ cân là 28%,gầy còm 22%, còi cọc là 16% và nghiên cứu này cũng nhận thấy phẫu thuật

Thái lan (2011) từ kết quả của Ratanachu thống kê trên 161 bệnh nhân từ 1-15 tuổi bị mắc tim bẩm sinh thì có 29% là TLT và tỷ lệ SDD 40% mức độ vừa và 3% SDD nặng. SDD nhẹ cân là 28%,gầy còm 22%, còi cọc là 16% và nghiên cứu này cũng nhận thấy phẫu thuật

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



1.2.2. Ảnh hưởng của thơng liên thất đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

Thông liên thất với những lỗ thông nhỏ thường chưa ảnh hưởng đến

huyết động cũng như TTDD nhưng lỗ thông vừa và lớn khiến cho máu lên phổi

nhiều, lúc này trẻ rất dễ bị viêm phổi tái đi tái lại, tăng áp động mạch phổi và

cuối cùng dẫn đến suy tim xung huyết. Viêm phổi làm trẻ đối mặt với việc sử

dụng kháng sinh thường xuyên, làm rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột khiến trẻ

chán ăn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy cấp...từ đó dẫn đến thiếu hụt các chất dinh

dưỡng. Nhiều tác giả đã mô tả mối tác động qua lại giữa nhiễm trùng và SDD

như một vòng xoắn bênh lý. Trẻ SDD có hệ thống miễn dịch bị giảm sút, dễ mắc

bệnh nhiễm trùng và hậu quả SDD ngày một nặng thêm [14], [15].

TLT là bệnh TBS khơng tím, nhiều máu lên phổi,việc tăng áp lực và

lượng máu lên phổi nhiều làm cơ thể phản ứng bằng cách co thắt các tiểu

động mạch phổi → động mạch phổi→ tăng áp ĐMP→suy tim. Ban đầu chỉ là

phản ứng có thể hồi phục nhưng lâu dần trở nên cố định và không thể hồi

phục. Áp lực Khi ALĐMP bằng hoặc cao hơn áp lực hệ thống sẽ gây đổi

chiều shunt từ phải→trái. Khi đó là giai đoạn bệnh mạch phổi tắc nghẽn

(Eisenmenger) [7], thiếu oxy tổ chức, trên lâm sàng xuất hiện tím. Nhiều

nghiên cứu chỉ ra rằng tăng ALĐMP gây SDD nhiều hơn nhóm chưa tăng

ALĐMP[16]. Tình trạng thiếu oxy tổ chức làm co thắt các mạch máu ở ruột

từ đó làm cho trẻ dễ bị viêm ruột hoại tử, kém hấp thu các chất dinh dưỡng,

tình trạng SDD sẽ ngày càng nặng lên.

Trẻ bị TLT khi có suy tim sẽ gây ảnh hưởng lớn đến TTDD do nhu cầu

năng lượng tăng trong khi năng lượng ăn vào thấp do khó thở, bú kém, chán

ăn,mệt mỏi... Ước tính trẻ TLT có năng lượng tiêu hao tăng thêm 40% so với

trẻ bình thường [17]. Ngồi ra, hiện tượng tăng dị hóa, tăng kháng insulin,

hocmon tăng trưởng cũng bị ảnh hưởng, tăng yếu tố hoại tử u (TNF-α) gây

nên tình trạng chán ăn, giảm dự trữ mỡ của trẻ. Bên cạnh đó, tình trạng kém

hấp thu ở đường tiêu hóa do tưới máu giảm,cũng làm giảm lượng dinh dưỡng



14



đưa vào cơ thể, giảm hấp thu mỡ nên ảnh hưởng đến việc hấp thu các vitamin

tan trong dầu [18]. Một nghiên cứu khác tại Brazil năm 2007 trên trẻ TBS <

24 tháng tuổi với 76% là TBS không có tím thấy hàm lượng dinh dưỡng trẻ ăn

vào gồm năng lượng, chất xơ, chất béo, kali, sắt đều thấp hơn so với khuyến

nghị năng lượng trẻ ăn vào [19].

1.2.3. Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng lên tình trạng thơng liên thất

Sụt cân, suy mòn và SDD thường gặp ở trẻ có dị tật TLT lớn. SDD và

TLT là vòng xoắn bệnh lý làm cho tình trạng của SDD và TLT cùng tiến triển

nặng hơn. Trẻ TLT bị SDD trước mổ thì có nguy cơ giảm đề kháng nên dễ bị

nhiễm trùng đặc biệt là nhiễm trùng bệnh viện, hơn nữa khả năng có kết quả

tối ưu sau mổ tim là còn rất hạn chế được thể hiện rất rõ bằng thời gian nằm

viện (thời gian tại các đơn vị ICU và tổng thời gian sau phẫu thuật) dài. Ngoài

ra, SDD nếu xuất hiện sớm ở trẻ nhỏ và kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến phát

triển trí tuệ, nhận thức lúc trẻ nhỏ và tuổi dậy thì bên cạnh việc thể chất bị tác

động lớn. Thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh trẻ được phẫu thuật sớm thì

có khả năng bắt kịp tăng trưởng nhanh và có khả năng đạt được tiềm năng

thơng minh sẵn có nhanh hơn trẻ phẫu thuật muộn và phẫu thuật muộn còn

làm cho trẻ chậm dậy thì [20].

Hiện nay ở các nước phát triển sự thành công của phẫu thuật sớm đã

đem lại hiệu quả cao nên trẻ có được sự tăng trưởng gần như bình thường,

nhưng ở các nước đang phát triển thì việc phát hiện bệnh sớm, phẫu thuật sớm

còn khó khăn ngồi ra dinh dưỡng cho những trẻ này ít được chú ý nên tỷ lệ

SDD vẫn còn cao.

1.2.4. Nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ thơng liên thất

Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với với cơ thể con người. Các

chất dinh dưỡng giúp cơ thể tồn tại, hoạt động và chống lại bệnh tật. Đối với

trẻ em các chất dinh dưỡng ngồi giúp phát triển thể chất thì ảnh hưởng của

dinh dưỡng lên sự phát triển tâm thần vận động là rất lớn [21].



15



Người ta có thể chia các chất dinh dưỡng thành các nhóm: Các chất đa

lượng và các chất vi lượng, các chất sinh năng lượng và các chất dinh dưỡng

thiết yếu.

∗ Năng lượng và các chất sinh năng lượng:

Protein/ chất đạm và các amino acid thiết yếu,

Lipid/chất béo và các acid béo,

Glucid/ chất bột đường.

∗ Các chất khoáng gồm:

Các chất khoáng đa lượng: Calci, phospho,magie.

Các chất khoáng vi lượng: Sắt, kẽm, i ốt,selen,đồng,crom,mangan, flour.

∗ Các vitamin gồm:

Vitamin tan trong chất béo: VitaminA, VitaminD, vitamin E, vitamin K.

Vitamin tan trong nước: Vitamin B1 (Thiamin), vitamin B2

(Rhiboflavin), vitamin B3 (niacin), vitamin B5 (pantothenic acid0, vitamin B6

(pyridoxyl), Vitamin B7 (biotin hay vitamin H), folat (vitamin B9), vitamin

B12, Vitamin C (Ascobic acid), cholin.

* Nước và các chất điện giải: Natri (Na), Kali (K), Clo (Cl).

Vitamin và khoáng chất mặc dù khơng phải là chất sinh năng lượng

nhưng đóng vai trò quan trọng trong cơ thể đặc biệt là với trẻ TLT như:

* Sắt:

Vai trò quan trọng nhất của sắt là cùng với protein tạo thành huyết sắc tố

(hemoglobin) vận chuyển oxy đến tổ chức, cho nên thiếu sắt dẫn đến tình

trạng thiếu máu dinh dưỡng. Khi thiếu máu khả năng vận chuyển oxy của

hồng cầu bị giảm, làm thiếu oxy ở các tổ chức đặc biệt là tim, cơ bắp, não gây

nên hiện tượng tim đập nhanh, tăng gánh hoạt động cho tim nên càng dễ gây

suy tim ở trẻ TBS. Biểu hiện của thiếu máu thiếu sắt là: da xanh niêm mạc

nhợt (đặc biệt là niêm mạc mắt và mơi) móng tay móng chân nhợt nhạt, móng

tay dễ gãy và biến dạng, tóc khơ cứng dễ gãy, trẻ thiếu máu thường biếng ăn,

chậm lớn, còi cọc, táo bón, ăn hay nơn trớ... Thiếu sắt còn ảnh hưởng đến các

bộ phận khác của cơ thể: ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa (trẻ biếng ăn, viêm teo

gai lưỡi, khó nuốt, kém hấp thu, độ toan dạ dày giảm); ảnh hưởng đến hệ thần

kinh (mệt mỏi, kích thích, rối loạn dẫn truyền thần kinh). Sắt tham gia vào



16



tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể, nên thiếu sắt trẻ hay bị mắc các

bệnh nhiễm khuẩn do hệ thống miễn dịch bị suy giảm. Theo số liệu của

Trương Quang Bình (2018), 3% trẻ TBS khơng tím bị thiếu máu thiếu sắt

nhưng 11,1% trẻ TBS có tím bị thiếu máu thiếu sắt. Tỷ lệ thiếu sắt huyết

thanh cao 77,8% ở trẻ TBS có tím và 88,2% ở trẻ TBS khơng tím. Trong

nghiên cứu này TBS khơng tím chủ yếu là TLT và thơng liên nhĩ còn TBS có

tím chủ yếu là fallot 4 [22]. Thiếu sắt còn gây ảnh hưởng xấu đến kết quả điều

trị của hội chứng Eisenmenger là một trong những biến chứng của TLT [23].

• Canxi và vitamin D:

Canxi chiếm 1,5 - 2% trọng lượng cơ thể, trong đó có 99% tồn tại trong

xương, răng, lơng, tóc, móng, chỉ có khoảng 1% tồn tại trong máu, trong tế

bào và dịch ngồi tế bào. Ngồi vai trò của Ca trong việc phát triển thể chất,

chiều cao thì Ca còn giữ vai trò dẫn truyền thần kinh, tham gia vào hầu hết

các hoạt động của cơ thể và của tế bào. Chỉ có khoảng 1% canxi trong máu và

tổ chức, nhưng nó lại vô cùng quan trọng đối với hệ thống miễn dịch, hệ thần

kinh, hệ thống cơ vân mà đặc biệt là đối với cơ tim. Ngồi ra, canxi còn tham

gia vào q trình đơng máu trong cơ thể.

Việc sử dụng thuốc lợi tiểu, ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, chế độ ăn

nghèo nàn gây thiếu hụt Ca, Vitamin D khá phổ biến ở trẻ TBS. Giảm Ca

huyết dẫn đến một số bệnh lý cơ tim thường gặp ở trẻ có TBS và ngược lại

thiếu Ca gây tình trạng bệnh cơ tim nặng hơn và trẻ đáp ứng tốt với điều trị

khi bổ sung Ca. Giảm Ca máu có nguy cơ rối loạn nhịp tim, rung thất đã được

ghi nhận trong một số nghiên cứu, loãng xương cũng thấy ở hơn một nửa số

bệnh nhân suy tim và bệnh nhân suy tim có sụt cân hay suy mòn có tỷ lệ thiếu

Ca cao hơn bệnh nhân khơng suy mòn và nhóm bình thường [24].

Vitamin D có vai trò rất quan trọng cho chức năng của tim. Chuột khi

được ăn chế độ ăn nghèo VitaminD, thậm chí dù bổ sung hàm lượng cao Ca

cũng khơng cải thiện được tình trạng giảm co bóp của cơ tim và sự co bóp của



17



cơ tim trở lại bình thường chỉ khi được bổ sung Vitamin D. Một thực nghiệm

khác thấy VitaminD, A làm giảm tình trạng tiến triển của phì đại cơ tim dẫn

đến giảm suy tim [25].





Magie:

Magie cùng với canxi giúp cho xương chắc khỏe, ổn định nhịp tim.

Ngồi ra, magie còn tham gia vào chức năng miễn dịch, giúp duy trì sự khỏe

mạnh của các cơ và đảm bảo chức năng hệ thần kinh. Magie đóng vai trò

quan trọng trong q trình chuyển hóa glucose máu thành glycogen dự trữ ở

gan và cơ và còn giúp cải thiện nhu động ruột, phòng và điều trị táo bón.

Lợi tiểu làm tăng mất Mg. Tỷ lệ thiếu Mg được ghi nhận hơn 30% ở

bệnh nhân suy tim mạn và làm tăng tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân suy tim.

Thiếu Mg cũng góp phần vào việc gây tăng muối và giảm K. Giảm Mg làm

cho tình trạng suy tim trở nên trầm trọng hơn, nhịp thất bất thường, rối loạn

chức năng thất T, rối loạn chức năng tim ở chuột, nhịp tim nhanh thất. Khi bổ

sung Mg đã làm giảm cơn nhịp nhanh thất ở chuột. Thiếu Mg cũng có thể dẫn

đến suy tim ở chuột. Việc giảm Mg có thể cải thiện nếu bổ sung Vitamin C

(có lẽ do vai trò chống OXH của Vitamin C chống lại các gốc tự do). Người

khi thiếu Mg gây suy tim cũng được ghi nhận và bổ sung Mg đã làm cải thiện

chức năng thất T [26].







Phospho:

Phospho chiếm khoảng 1% khối lượng cơ thể nhưng có vai trò hết sức

quan trọng. Nó cùng với canxi cấu tạo hệ xương, răng; phối hợp với protein,

lipid, glucid để tham gia cấu tạo tế bào, đặc biệt là màng tế bào; tham gia vào

q trình phosphorine hóa của sự co cơ. Ngồi ra, phospho còn tham gia vào

cấu tạo của AND, ARN, ATP...

Theo Khuyến cáo của viện dinh dưỡng quốc gia năm 2016, nhu cầu về

vitamin và khoáng chất như sau cần cho trẻ [21]:

Bảng 1.1: Nhu cầu một số Vitamin theo nhóm tuổi



18



A

D

E

K

C

mcg/d mcg/d mg/d mcg/d mg/ d

0-5 tháng 400

10

3

4

35

6-12 tháng 400

10

4

7

35

1-2 tuổi

300

15

3,5

60

35

3-5 tuổi

350

15

4,5

70

40

Nhóm tuổi



B1

mg/d

0,5

0,5

0,5

0,7



B6

mg/d

0,5

0,5

0,5

0,5



B12

mcg/d

0,9

0,9

0,9

1,0



Bảng 1.2: Nhu cầu một số chất khống theo nhóm tuổi

Nhóm

tuổi

0-5 th

6- 8 th

9-11 th

1-2 tuổi

3-5 tuổi



Sắt(mg/d)

Canxi

(mg/d) nam

Nữ

0,9

300

0,93

3

400

8,5

7,9

400

9,4

8,7

500

5,4

5,1

600

5,5

5,4



Photpho Magie

(mg/d) (mg/d)

100



40



275

330

460

500



50

60

70

100



Nhu cầu dinh dưỡng khi trẻ mắc bệnh TLT có biến chứng suy tim [27]

* Suy tim độ 1-2

-



Năng lượng: Đảm bảo nhu cầu nặng lượng theo tuổi



-



Protid: Đảm bảo nhu cầu theo lứa tuổi



-



Lipd: 20-3-% tổng năng lượng. Acid béo chưa no một nối đôi chiếm 1/3,

nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.



-



Ăn nhạt tương đối, natri: 20-50mg/kg cân nặng lý tưởng/ngày



-



Nước ăn và uống: Đủ nhu cầu nước



-



Đủ vitamin đặc biệt là vitamin nhóm B



-



Sử dụng các thực phẩm giàu Kali



-



Lựa chọn thực phẩm: Hạn chế thức ăn sinh hơi, khó tiêu, các chất kích thích.



-



Số bữa ăn/ ngày: 4-6 bữa/ ngày.

* Suy tim độ 3

-Năng lượng: 80% nhu cầu năng lượng.

-Protid: Hạn chế ở mức nhu cầu tối thiểu theo cân nặng lý tưởng của trẻ.



19



- Lipid: 20-25% Tổng năng lượng. Acid béo chưa no một nối đôi chiếm

1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.

- Ăn nhạt tương đối, natri: 20-50 mg /kg cân nặng lý tưởng/ ngày

-Nước hạn chế khi có phù, thiểu niệu hoặc vô niệu: V nước = V nước tiểu +

V dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy...) + 35 đến 45 ml/kg tùy theo mùa.

- Lựa chọn thực phẩm:

+ Hạn chế thức ăn sinh hơi, khó tiêu và các chất kích thích.

+ Sử dụng thực phẩm giàu kali.

+ Ít xơ sợi

- Dạng chế biến: Ăn mềm

- Số bữa ăn: 4-8 bữa /ngày, tùy theo lứa tuổi.

* Suy tim độ 4 (suy tim mất bù):

- Nặng lượng: 70% nhu cầu theo tuổi.

-Protid: Hạn chế ở mức 80% theo nhu cầu tối thiểu theo cân nặng lý

tưởng của trẻ.

- Lipid: 20-50% Tổng năng lượng. Acid béo chưa no một nối đôi chiếm

1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.



- Ăn nhạt tương đối hoặc ăn nhạt hoàn toàn:

+ Ăn nhạt tương đối: Natri 20-50 mg/kg cân nặng lý tưởng / ngày

+ Ăn nhạt hoàn toàn: Natri ≤ 20 mg/kg cân nặng lý tưởng/ ngày.

Như vậy, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng là rất cần thiết cho trẻ bị TBS, là

nhóm đối tượng nguy cơ cao rất dễ bị SDD. Cải thiện TTDD cho trẻ bằng

chiến lược hỗ trợ dinh dưỡng và chế độ phù hợp với TTDD và bệnh lý TBS

của trẻ rất quan trọng vì nó lien quan đến tăng tỷ lệ sống và giảm tỷ lệ biến

chứng. Vì vậy, trước phẫu thuật phải tối ưu hóa TTDD và sớm dinh dưỡng

đường ruột sau phẫu thuật. Cần tiến hành đánh giá TTDD và xác định các



20



thiếu hụt dinh dưỡng đặc biệt qua đánh giá khẩu phần ăn của trẻ là cần thiết

để xác định cụ thể chất dinh dưỡng cần được bổ sung cũng như thời điểm và

thời gian bổ sung, xây dựng chế độ ăn tối ưu để cung cấp tối đa dinh dưỡng

cho trẻ TBS.

1.2.5. Một số phương pháp xác định tình trạng dinh dưỡng và thiếu hụt

dinh dưỡng

Chỉ số đo lường sự mất cân bằng dinh dưỡng đó là SDD. Thuật ngữ

SDD bao gồm cả thừa và thiếu dinh dưỡng nên SDD gồm nhẹ cân, thấp còi,

gày còm và béo phì. Tình trạng dinh dưỡng của cá thể có thể được đánh giá

thơng qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo

nhân trắc dinh dưỡng. Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là

nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình

trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng.

Khơng một thử nghiệm sinh hóa hoặc kỹ thuật lâm sàng đơn lẻ nào đủ

chính xác để được xem như là kỹ thuật tin cậy cho đánh giá TTDD. Các kỹ

thuật đánh giá tình trạng dinh dưỡng sử dụng kết hợp các phương pháp, bao

gồm đánh giá chế độ ăn, phương pháp nhân trắc học, khám lâm sàng và các

xét nghiệm cận lâm sàng.

1.2.5.1. Phương pháp nhân trắc học

Sử dụng các chỉ số nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng được

ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng do cho phép đánh giá TTDD chính xác,

khơng đòi hỏi phương tiện dụng cụ quá đắt tiền và có thể thực hiện dễ dàng.

Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:

- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng.

- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao.

- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các

mô mềm bề mặt: khối nạc, tỷ trọng mỡ, bề dày lớp mỡ dưới da [28].



21



Bảng 1.3: Đánh giá chỉ số Z-score cân nặng theo tuổi

Chỉ số Z-score

< -3SD

< -2SD

-2SD ≤ Z-score ≤ 2SD

> 2SD

> 3SD



Đánh giá

SDD thể nhẹ cân, mức độ nặng

SDD thể nhẹ cân, mức độ vừa

Bình thường

Thừa cân

Béo phì



- Chiều cao theo tuổi: chỉ tiêu này phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng

kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm đứa trẻ bị thấp còi (thấp hơn chiều cao

của đứa trẻ cùng tuổi, giới).

Bảng 1.4: Đánh giá chỉ số Z-score chiều cao theo tuổi

Chỉ số Z-score



Đánh giá



< -3SD



SDD thể thấp còi, mức độ nặng



< -2SD



SDD thể thấp còi, mức độ vừa



-2SD ≤ Z-score ≤ 2SD



Bình thường



- Cân nặng theo chiều cao:CN/CC thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh

dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây, làm cho đứa trẻ ngừng lên cân hoặc tụt cân

nên bị gày còm (wasting). CN/CC >3 SD là phản ánh tình trạng béo phì.

Bảng 1.5: Đánh giá chỉ số Z-score cân nặng theo chiều cao

Chỉ số Z-score

< -3SD

< -2SD

-2SD ≤ Z-score ≤ 2SD

>2 SD

>3SD



Đánh giá

SDD thể gày còm mức độ nặng

SDD thể gày còm mức độ vừa

Bình thường

Thừa cân

Béo phì



+ Phù: khi trẻ SDD có kèm theo phù được chẩn đốn là SDD thể cấp tính

nặng Kwashiorkor. Nếu cân nặng/tuổi <-3SD có kèm theo phù là SDD cấp

nặng thể hỗn hợp.



22



+ Chu vi vòng cánh tay (MUAC: Mid-Upper Arm Circumference). Đây

là phương pháp hữu ích trong việc sàng lọc nhanh TTDD ở bệnh nhân nặng

khi mà không thể cân hay đo chiều đài được của bệnh nhân. MUAC được áp

dùng cho trẻ từ 6 tháng tới 5 tuổi:

MUAC ≤ 11,5 cm: SDD cấp nặng

MUAC ≤ 12,5 cm: SDD cấp mức độ trung bình

MUAC ≤ 13,5 cm: Nguy cơ SDD

MUAC> 13,5 cm: Trẻ bình thường

1.2.5.2. Đánh giá thiếu hụt một số chất dinh dưỡng trong huyết thanh

- Trẻ SDD không những thiếu protein - năng lượng, mà còn thiếu các vi chất dinh

dưỡng khác như sắt, kẽm, canxi, vitamin D, phospho,…Thiếu vi chất dinh dưỡng

làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng cảm nhiễm với vi khuẩn.

-



Các xét nghiệm sinh hóa có giá trị trong việc xác định thay đổi quan trọng về

một số chất dinh dưỡng thường được sử dụng đó là lấy huyết thanh và định

lượng nồng độ các chất đó so sánh với ngưỡng chuẩn để phát hiện ra những

thiếu hụt dinh dưỡng. Khi nồng độ trong máu của mỗi vi chất ở dưới ngưỡng

tối thiểu bình thường được coi là thiếu vi chất đó.

1.2.6. Đánh giá khẩu phần ăn ở trẻ em



-



Khẩu phần ăn được hiểu là xuất ăn của một người trong một ngày nhằm đáp

ứng nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết trong cơ thể.



-



Một khẩu phần ăn hợp lý trước hết cần đảm bảo đủ năng lượng và các chất

dinh dưỡng cần thiết trong cơ thể, đồng thời đảm bảo cân đối về năng lượng,

cân đối về tỷ lệ các chất dinh dưỡng [29].



-



Khẩu phần ăn đóng vai trò vơ cùng quan trọng đối với tình trạng dinh dưỡng

(TTDD) và sức khỏe của con người, đặc biệt là trẻ em. Khẩu phần ăn không

hợp lý về số lượng và chất lượng chính là ngun nhân dẫn tới các tình trạng

thiếu và thừa dinh dưỡng. Vì vậy việc đánh giá khẩu phần ăn của trẻ em là vơ

cùng quan trọng.



-



Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá tiêu thụ thực phẩm của cá thể,



23



hộ gia đình hay cộng đồng. Mỗi phương pháp có điểm mạnh và hạn chế nhất

định. Trong các cuộc điều tra gần đây hỏi ghi 24h được sử dụng khá rộng rãi

trong diều tra khẩu phần của cá thể và hộ gia đình [30].

-



Mục đích của phương pháp:

+ Nhận biêt được các loại lương thực thực phẩm đang được sử dụng và

xác định số lượng lương thực thực phẩm được tiêu thụ.

+ Xác định giá trị dinh dưỡng, tính cân đối của khẩu phần ăn.

+ Xem xét mối liên quan giữa chất dinh dưỡng ăn vào với sức khỏe,

bệnh tật.



-



Phương pháp: Thông qua việc đối tượng điều tra (ở trẻ em < 5 tuổi đối tượng

điều tra là người chăm sóc trẻ) kể lại tỉ mỉ những gì đã ăn ngày hôm trước

hoặc 24h trước phỏng vấn, điều tra viên ghi chép lại chính xác các thơng tin

thu thập bao gồm:

+ Thông tin chung của đối tượng: Họ, tên, tuổi. Giới, tình trạng sinh lý.

+ Số bữa ăn / ngày, sự phân bố số bữa ăn.

+ Cơ cấu bữa ăn gồm: Tên thực phẩm, số lượng thực phẩm.



-



Công cụ: Quyển ảnh về món ăn hay mơ hình thực phẩm và các công cụ đo

lường, cân kiểm tra thực phẩm.



-



Ưu điểm: Là phương pháp thơng dụng, có giá trị khi áp dụng cho số đông đối

tượng. Đơn giản, nhẹ nhàng nên có sự hợp tác cao. Nhanh, chi phí ít, có thể áp

dụng rộng rãi ngay cả với các đối tượng có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ.



-



Nhược điểm: Phụ thuộc vào trí nhớ và thái độ hợp tác của đối tượng được hỏi,

một số loại thực phẩm khó ước tính chính xác trọng lượng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thái lan (2011) từ kết quả của Ratanachu thống kê trên 161 bệnh nhân từ 1-15 tuổi bị mắc tim bẩm sinh thì có 29% là TLT và tỷ lệ SDD 40% mức độ vừa và 3% SDD nặng. SDD nhẹ cân là 28%,gầy còm 22%, còi cọc là 16% và nghiên cứu này cũng nhận thấy phẫu thuật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×