Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Nội dung KH&CN của đề tài

II. Nội dung KH&CN của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thiết lập giá trị tham chiếu cho xét nghiệm D-Dimer ở phụ nữ mang thai 3

tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối

Tình hình nghiên cứu trong và ngồi nước

10

 Tình trạng đề tài



Mới



Kế tiếp đề tài đã kết thúc giai đoạn



trước

 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Huyết khối tĩnh mạch (HKTM) là bệnh lý được chú ý từ những năm đầu

của thế kỷ 19. Điều quan trọng là các biến chứng xảy ra khi mắc HKTM khá

nghiêm trọng, có thể xảy ra sớm và gây tử vong như thuyên tắc phổi hoặc

muộn hơn như hội chứng sau huyết khối [1],[2]. Người phụ nữ khi mang thai

có những thay đổi để đảm bảo điều hoà, phát triển của người mẹ và thai nhi,

phụ nữ mang thai là một trong các yếu tố nguy cơ gây ra huyết khối tĩnh mạch,

với ước tính tỷ lệ mắc cao hơn 4-50 lần so với phụ nữ khơng mang thai. Điều

này có thể được giải thích theo cơ chế hình thành HKTM – Tam giác

Virchow`s bao gồm: trạng thái tăng đông, ứ trệ tĩnh mạch, tổn thương thành

mạch, ở phụ nữ mang thai ln có xu hướng thay đổi hệ thống đông cầm máu

theo hướng tăng đông, giảm protein S, và protein C sinh lý, ứ trệ máu tĩnh

mạch do sự thay đổi khi mang thai và nén các tĩnh mạch lớn của tử cung mang

thai, tổn thương thành mạch liên quan đến bệnh lý khi mang thai hay tổn

thương mạch máu trong thời gian chuyển dạ và sinh đẻ, [3] [4].

Vấn đề đặt ra là cần phát hiện sớm HKTM từ khi chưa có triệu chứng ở

những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao để điều trị kịp thời. Xét nghiệm huyết

thanh cho D-dimer đã được nghiên cứu rộng rãi để sử dụng trong chẩn đốn

huyết khối tĩnh mạch. Mức D-dimer có thể phát hiện bằng xét nghiệm miễn

dịch enzyme (ELISA) trong gần như tất cả các bệnh nhân với thuyên tắc phổi

ở nồng độ > 500 ng / ml của các đơn vị tương đương fibrinogen. Mặc dù các

thử nghiệm D-dimer có độ đặc hiệu khơng cao, nhưng độ nhạy của nó cao.

Như vậy, giá trị tiên đốn âm tính mức D-dimer đối với loại trừ sự hiện diện

của huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới cao. Khi nghiên cứu trên 310 thai phụ

mổ lấy thai tại bệnh viện Bạch Mai và viện Tim mạch Việt Nam, Lưu Tuyết

3



Trinh đưa ra giá trị chẩn đoán của D- Dimer trong HKTM ở thai phụ với

ngưỡng chẩn đoán là 0,6: độ nhạy là 97,2%, độ đặc hiệu 83,6% [5]. Dùng xét

nghiệm D- dimer giúp các bác sĩ lâm sàng tiếp cận sớm hơn với chẩn đoán

HKTM, phối hợp với chẩn đoán lâm sàng, siêu âm Doppler tĩnh mạch làm

tăng tính chính xác của chẩn đốn, điều trị sớm cho người bệnh.

Tuy nhiên, việc tiếp cận với xét nghiệm D-dimer trong thời kỳ mang thai

bị hạn chế bởi thực tế nồng độ cao D-dimer được tìm thấy trong thai kỳ không

biến chứng, tăng dần theo tuổi thai có thể giải thích do dấu hiệu tăng đơng

máu và kích hoạt hệ thống tiêu sợi huyết, tăng fibrin trong suốt thai kỳ làm

tăng D-dimer - sản phẩm nhỏ nhất của thối giáng sợi fibrin khơng hồ tan

dưới tác dụng của Plasmin. Vì vậy bác sỹ khơng thể dùng giá trị ngưỡng Ddimer > 500 ng/ml của các đơn vị tương đương fibrinogen để đánh giá tăng

D-Dimer ở thai phụ [6] [7] và việc cần thiết phải xác định giá trị tham chiếu

cho xét nghiệm D-dimer ở phụ nữ mang thai được nhiều nghiên cứu đưa ra [1]

[8] [9] [10]. Năm 2005, Jeffrey A. Kline và cs khi nghiên cứu trên 50 phụ nữ

mang thai khoẻ mạnh cho kết quả D-dimer < 500 ng/ml chỉ gặp ở 79% phụ nữ

mang thai 3 tháng đầu, 22% ở phụ nữ mang thai 3 tháng giữa, không gặp ở

phụ năng thai 3 tháng cuối, tác giả cũng đưa ra kết luận trong quá trình mang

thai bình thường, có sự tăng dần dần nồng độ D-dimer và cần thiết lập các

ngưỡng mới cho D-dimer cho mỗi thời kỳ mang thai [8]. Năm 2013,

Kawaguchi S và cs khi nghiên cứu trên 1185 phụ nữ mang thai khoẻ mạnh cho kết

quả phụ nữ mang thai 4 – 13 tuần có giá trị D-dimer 540 – 2410 ng/ml, phụ nữ

mang thai 14 – 27 tuần từ 1220 – 5030 ng/ml, phụ nữ mang thai 28 – 35 tuần từ

1810 – 6180 ng/ml, phụ nữ mang thai 36 – 42 tuần từ 2130 – 5850 ng/ml [9]. Năm

2018, Gutiérrez García I và cs tiến hành nghiên cứu trên 102 phụ nữ mang thai

khoẻ mạnh cũng đã đưa ra khoảng tham chiếu cho nồng độ d-dimer như sau: 3

tháng đầu 169 – 1202 ng/ml, 3 tháng giữa 393 – 3258 ng/ml, 3 tháng cuối 551 –

3333 ng/ml [10]. Tại Việt Nam, hiện nay chưa có nghiên cứu thực hiện thiết lập giá

4



trị tham chiếu cho nồng độ D-dimer ở thai phụ, vì vậy chúng tơi tiến hành nghiên

cứu “Thiết lập giá trị tham chiếu nồng độ D-Dimer ở phụ nữ mang thai tại bệnh

viện Phụ sản Trung ương”

 Liệt kê danh mục các cơng trình nghiên cứu có liên quan

1.



Đinh Thị thu Hương (2007). Bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu của chi

dưới, Tập bài giảng lớp chuyên khoa định hướng Tim mạch, Viện tim



2.



mạch - Phòng chỉ đạo tuyến, 670 – 679

Chisaka H, Utsunomiya H, Okamura

Pulmonarythromboembolism



3.



folowing



K,



gynecology



Yaegashi



N:



surgery



and



cesarean section. Int J Gynaecol Obstet 2004; 84:47-53

Paidas MJ, Ku DH, Lee MJ, et al: Protein C, protein S levels are lower

in patients with thrombophilia and subsequent pregnancy complications.



4.



J Thromb Haemost 2005; 3:497-501

Eichinger S (2005), “D-dimer testing in pregnancy”, Semin Vasc Med;



5.



5(4):375-8.

Lưu Tuyết Minh (2014), Nghiên cứu huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới

mới mắc bằng siêu âm Doppler ở sản phụ sau mổ lấy thai tại bệnh viện

Bạch Mai năm 2012, Y học thực hành (903)-số 1/2014



6.



Katrine K. Hedengran (2016), “Large D-Dimer Fluctuation in Normal

Pregnancy: A Longitudinal Cohort Study of 4,117 Samples from 714

Healthy Danish Women”, Obstet Gynecol Int; 2016: 3561675



7.



Michiels JJ (2005), “Diagnosis of deep vein thrombosis: how many

tests do we need?” Acta Chir Belg. 2005 Feb;105(1):16-25.



8.



Jeffrey A. Kline, Ginger W. Williams, Jackeline Hernandez-Nino (2005),

D-Dimer Concentrations in Normal Pregnancy: New Diagnostic Thresholds

Are Needed, DOI: 10.1373/clinchem.2004.044883 Published April 2005



9.



Kawaguchi S (2013), “Changer in d-dimer lever in pregnant women

5



according to gestational week”. Pregantcy Hypertens Jul;3(3): 172-7.



10.



Gutiérrez García I



(2018),



D-dimer during pregnancy:



establishing trimester-specific reference intervals. Scand J Clin Lab

Invest. 2018 Oct;78(6):439-442.



11.



Regitz-Zagrosek V, Lundqvist BC, Borghi C (2011),"ESC



Guidelines on the management of cardiovascular diseases during

pregnancy", European Heart Journal (32), pp. 3147–3197

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng



11

a.



Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Phụ nữ mang thai khoẻ mạnh: 3 tháng đầu (<14 tuần), 3 tháng giữa (14 –

28 tuần), 3 tháng cuối (≥ 28 tuần)

Tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả thai phụ có yếu tố nguy cơ [11]

+

+

+



Tiền căn huyết khối thuyên tắc

Tiền căn gia đình có huyết khối thun tắc

Tiền sử thai chết lưu, sảy thai tự nhiên ≥ 3 lần không rõ nguyên nhân,



+



sinh non kèm tiền sản giật hoặc trẻ chậm phát triển trong tử cung

Chứng tăng đông đã biết: đái tháo đường, có hội chứng kháng đơng



+



lupus (APS), lupus ban đỏ hệ thống, Kahler, ung thư…

Bệnh nội khoa như bệnh tim phổi, hội chứng thận hư, bệnh hồng cầu



+

+

+

+

+

+

+



hình liềm, dùng heroin tĩnh mạch

Tuổi > 35

Béo phì, BMI > 30kg/m2

Số lần sinh ≥3 lần, đa thai

Hút thuốc lá

Tiền sản giật

Mất nước/ nơn ói nhiều/ hội chứng tăng kích thích buồng trứng

Đang nhiễm trùng tồn thân

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Nội dung KH&CN của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×