Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu của chuyên đề......................................................................................

Kết cấu của chuyên đề......................................................................................

Tải bản đầy đủ - 0trang

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH KHÁCH SẠN VÀ HIỆU QUẢ

KINH DOANH DỊCH VỤ ĐỒ UỐNG TRONG KHÁCH SẠN

1.1. Tổng quan về kinh doanh khách sạn

1.1.1. Khái niệm về kinh doanh khách sạn

 Khái niệm chung về khách sạn.

Để đưa ra một định nghĩa về khách sạn được đầy đủ, trước hết chúng ta cần

tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển của khách sạn để từ đó có cái nhìn tồn diện hơn

về khái niệm này.Thuật ngữ Khách sạn trong tiếng Việt hay thường gọi là Hotel có

nguồn gốc từ tiếng Pháp, dùng để chỉ nơi phục vụ ngủ qua đêm cho khách và nó được

du nhập vào nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX.

Trong thông tư số 01/2002/TT – TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục Du lịch

về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ - CP của chính phủ về cơ sở lưu

trú du lịch đã nghi rõ:

“ Khách sạn (Hotel) là cơng trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có qui mô từ 10

buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần

thiết phục vụ khách du lịch ”.

Trong cuốn sách “Giải thích thuật ngữ du lịch và khách sạn” của khoa Du lịch

– Khách sạn Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã bổ sung một định nghĩa có tầm

khái quát cao và có thể sử dụng trong học thuật và nhận biết về khách sạn ở Việt

Nam:

“ Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống,

dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu trú lại qua đêm

và thường được xây dựng tại các điểm du lịch”.

Mới đây, Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch và tại Khoản 12 - Điều 4 định

nghĩa cơ sở lưu trú du lịch được khẳng định là: “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho

thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó

khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu” (Luật Du lịch, NXB Chính trị Quốc gia,

trang 21).

Theo nhóm tác giả nghiên cứu của Mỹ trong cuốn sách “Welcome to

Hospitality” xuất bản năm 1995 thì:

“Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó.

Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và

phòng tắm). Mỗi buồng khách đều phải có giường, điện thoại và vơ tuyến. Ngồi

dịch vụ buồng ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như: dịch vụ vận chuyển hành lý,

trung tâm thương mại (với thiết bị photocopy), nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ

giải trí. Khách sạn có thể được xây dựng ở gần hoặc bên trong các khu thương mại,

khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay”.

 Các loại hình khách sạn.

- Theo vị trí địa lý.

4



Theo tiêu chí này các khách sạn được phân chia thành 5 loại: khách sạn thành

phố (City Centre Hotel), khách sạn nghỉ dưỡng (Resort Hotel), khách sạn ven đô

(Suburban Hotel), khách sạn ven đường (Highway Hotel), khách sạn sân bay (Airport

Hotel)

- Theo mức cung cấp dịch vụ.

Theo tiêu thức này, khách sạn được phân chia thành 4 loại: khách sạn sang trọng

(Luxury Hotel), khách sạn với dịch vụ đầy đủ (Fullservice Hotel), khách sạn cung

cấp số lượng hạn chế dịch vụ (Limited- service Hotel), khách sạn thứ hạng thấp

(Economy Hotel)

- Theo mức giá bán sản phẩm lưu trú.

Phân loại theo tiêu thức này chỉ được áp dụng cho từng quốc gia vì nó tuỳ thuộc

vào mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ở mỗi nước: theo tiêu

thức này gồm 5 loại: khách sạn có mức giá cao nhất (Luxury Hotel), khách sạn có

mức giá cao (Up- scale Hotel), khách sạn có mức giá trung bình (Mid- price Hotel),

khách sạn có mức giá bình dân (Economy Hotel)

- Theo quy mô của khách sạn .

Dựa vào số lượng các buồng ngủ theo thiết kế của các khách sạn mà người ta

phân chia khách sạn ra thành các loại sau: khách sạn quy mô lớn, khách sạn quy mơ

trung bình, khách sạn quy mơ nhỏ.

- Theo hình thức sở hữu: gồm có : khách sạn tư nhân, khách sạn nhà nước, khách

sạn liên doanh.

 Khái niệm kinh doanh khách sạn.

Trong nghiên cứu bản chất của kinh doanh khách sạn, việc hiểu rõ nội dung

của khái niệm “ kinh doanh khách sạn “ là cần thiết và quan trọng. Hiểu rõ nội dung

của kinh doanh khách sạn một mặt sẽ tạo cơ sở để tổ chức kinh doanh khách sạn

đúng hướng, mặt khác, kết hợp yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật với con người hợp lý

nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng. Muốn hiểu rõ nội dung của khái

niệm “kinh doanh khách sạn”, cần phải bắt đầu từ quá trình hình thành và phát triển

của kinh doanh khách sạn.

Đầu tiên, kinh doanh khách sạn chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm

đảm bảo chỗ ngủ qua đêm cho khách có trả tiền. Sau đó, cùng với những đòi hỏi thoả

mãn nhiều nhu cầu hơn và ở mức cao hơn của khách du lịch và mong muốn của chủ

khách sạn, dần dần khách sạn tổ chức thêm những hoạt động kinh doanh ăn uống.

Kinh doanh khách sạn theo nghĩa rộng là hoạt động cung cấp các dịch vụ phục vụ

nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách. Còn theo nghĩa hẹp, kinh doanh khách sạn

chỉ đảm bảo việc phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách.

Ngày nay, nội dung của kinh doanh khách sạn ngày càng được mở rộng và

phong phú và đa dạng về thể loại. Vì vậy, người ta vẫn thừa nhận cả nghĩa rộng và

nghĩa hẹp của khái niệm “kinh doanh khách sạn”. Tuy nhiên, ngày nay khái niệm

kinh doanh khách sạn theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều bao gồm cả hoạt động kinh

5



doanh các dịch vụ bổ sung..

Trên phương diện chung nhất, có thể đưa ra khái niệm về kinh doanh khách

sạn như sau: “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các

dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng nhu cầu ăn,

nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi”.

1.1.2. Đặc điểm kinh doanh khách sạn

- Kinh doanh khách sạn là một hoạt động kinh tế dịch vụ cao cấp mang tính tổng hợp

nhất. Tập hợp dịch vụ trong khách sạn được phân chia thành dịch vụ cơ bản và dịch

vụ bổ sung để cung cấp cho khách du lịch và khách địa phương.

- Hoạt động kinh doanh khách sạn diễn ra liên tục: khách sạn luôn hoạt động 24/24

giờ, các nhân viên luôn phải thay ca nhau làm việc đảm bảo sự luôn sẵn sàng để

cung cấp dịch vụ cho khách khơng có thờigian tạm ngừng hoạt động để nghỉ như

trong các nhà máy, xí nghiệp.

- Hoạt động kinh doanh khách sạn sử dụng rất nhiều lao động sống. Một ngày làm

việc phải chia làm nhiều ca với đầy đủ các bộ phận và nhân viên cho từng ca. Vì vậy

tổng số nhân viên khách sạn sử dụng rất lớn, hầu hết các khâu phục vụ là khơng thể

cơ khí hố hay tự động hoá được. Vào thời kỳ cao điểm, khách sạn còn phải sử dụng

một lượng lớn lao động không thường xuyên.

- Hoạt động kinh doanh khách sạn cần một lượng vốn ban đầu là rất lớn và cần một

thời gian dài để duy trì: khách sạn phải đầu tư một lượng tiền rất lớn để thuê mua đất

ở những vị trí thuận lợi nhất của một vùng, xây dựng nhà phòng mua sắm trang thiết

bị, đồng thời vốn xây dựng cơ bản và sửa chữa, vốn lưu động, các quỹ dự phòng rủi

ro, quỹ lương, thưởng …đều rất lớn.

- Hoạt động kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Những nơi nào

tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và nhất là những nơi trung tâm kinh tế, chính

trị, văn hố sẽ thu hút khách nhiều hơn và hoạt động kinh doanh Khách sạn cũng phát

triển hơn.

- Hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính chu kỳ: đặc trưng này thể hiện ở sự lặp

đi lặp lại của thời kỳ cao điểm hay thấp điểm hơn về lượng khách lưu trú, tiêu dùng

dịch vụ trong một khách sạn tuân theo một chu kỳ thời gian tương đối ổn đinh nào

đó. Hoạt động kinh doanh khách sạn là một phần trong hoạt động kinh doanh của

ngành du lịch nên nó cũng mang tính thời vụ như tính chất hiện có của ngành du lịch,

tức là nó cũng chịu sự chi phối của một số quy luật như: quy luật tự nhiên, quy luật

kinh tế xã hội, quy luật tâm lý con người…

- Hoạt động kinh doanh khách sạn có lợi nhuận cao và tương đối ổn định, nhưng

thường phải đối đầu với nhiều rủi ro không lường trước được. Khách sạn là nơi đáp

ứng tốt nhất và đầy đủ các dịch vụ mang tính “ xa xỉ” hướng theo nhu cầu của du

khách, nên lợi nhuận mà khách sạn thu được là rất cao và tương đối ổn định. Nhưng

do việc dự đoán cung – cầu về khách sạn rất khó khăn, q trình sản xuất và tiêu

dùng dịch vụ luôn diễn ra đồng thời, lượng vốn đầu tư cho tài sản cố định là rất lớn…

cùng những khó khăn do mơi trường kinh doanh gây ra (cạnh tranh gay gắt, suy thoái

6



kinh tế …) hay những khó khăn do thiên tai, dịch họa: bão lụt, dịch cúm gia cầm …

sẽ làm cho hoạt động kinh doanh khách sạn ln phải đối đầu với những khó khăn rất

lớn.

1.1.3. Các loại hình dịch vụ trong kinh doanh khách sạn

 Kinh doanh dịch vụ lưu trú

Kinh doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất,

cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách

trong thời gian lưu lại tạm thời ở điểm du lịch nhằm muc đích có lãi.

Kinh doanh dịch vụ lưu trú bao gồm việc kinh doanh hai dịch vụ chính là dịch

vụ lưu trú và dịch vụ bổ sung. Các dịch vụ này không tồn tại ở dạng vật chất và được

cung cấp cho các đối tượng khách, trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là khách du

lịch. Trong quá trình “sản xuất” và bán các dịch vụ, cơ sở kinh doanh lưu trú không

tạo ra sản phẩm mới mà cũng không tạo ra giá trị mới. Hoạt động của các cơ sở lưu

trú thông qua việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn và hoạt động phục

vụ của các nhân viên đã giúp chuyển dần giá trị từ dạng vật chất sang dạng tiền tệ

dưới hình thức “ khấu hao”. Vì vậy kinh doanh dịch vụ lưu trú không thuộc lĩnh vực

sản xuất vật chất, mà thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ.

 Kinh doanh dịch vụ ăn uống

Kinh doanh ăn uống trong du lịch bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, đồ

uống bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các dịch vụ

khác nhằm thoả mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí tại các nhà hàng, khách sạn

cho khách nhằm mục đích có lãi.

Kinh doanh dịch vụ ăn uống trong du lịch vừa có những điểm giống nhau, vừa

có những điểm khác nhau so với hoạt động phục vụ ăn uống cộng đồng. Vì vậy, các

nhà quản lý khách sạn cần hiểu rõ bản chất của hai loại hình hoạt động kinh doanh

này để xác định đúng mục tiêu và đối tượng kinh doanh của mình.

 Kinh doanh dịch vụ bổ sung

Ngoài hai hoạt động kinh doanh dịch vụ cơ bản như đã nêu ở trên, hoạt động

kinh doanh dịch vụ bổ sung trong khách sạn cũng rất đa dạng, nhất là trong điều kiện

nhu cầu tiêu dùng dịch vụ của kháh du lịch ngày càng cao như hiện nay. Kinh doanh

dịch vụ bổ sung cũng phụ thuộc vào quy mô và thứ hạng của từng khách sạn nhưng

nhìn chung nó bao gồm cấc dịch vụ và các nhóm dịch vụ như:

+ Dịch vụ thẩm mỹ: giặt là, cắt uốn tóc, đánh giầy.

+ Các dịch vụ kèm theo: đổi tiền, tư vấn, đặt hàng.

+ Các dịch vụ văn hoá: biểu diễn nghệ thuật, dạ hội, karaoke.

+ Các dịch vụ y tế: xông hơi, massage.

+ Các dịch vụ thể thao: bể bơi, sân tennis, đánh gôn.

1.2. Tổng quan lý thuyết về kinh doanh dịch vụ đồ uống trong khách sạn

1.2.1. Vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ đồ uống trong khách sạn

Hoạt động kinh doanh dịch vụ đồ uống là một mảng hoạt động không thể

7



thiếu của các cơ sở kinh doanh khách sạn hiện đại. Hoạt động đó bao gồm việc sản

xuất, bán và phục vụ đồ uống cho du khách với mục đích tăng doanh thu và kiếm lợi

nhuận. Hoạt động về kinh doanh dịch vụ đổ uống là một trong những phần hoạt động

quan trọng trong khách sạn vì dịch vụ này nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu thiết yếu

của khách khi họ lưu trú tại khách sạn cũng như lượng khách vãng lai trong khu vực

khách sạn.

Nếu trong hoạt động kinh doanh khách sạn thiếu dịch vụ đồ uống thì sẽ thiếu

hẳn sự đồng bộ và khơng đạt hiệu quả kinh doanh vì khơng khai thác triệt để khả

năng thanh toán của khách. Mặt khác, khơng đảm bảo tính tiện lợi trong việc thoả

mãn nhu cầu ăn uống hàng ngày của du khách. Do vậy, nguồn khách của khách sạn

sẽ bị giảm xuống.

Dịch vụ đồ uống trong khách sạn đảm bảo cung cấp những loại đồ uống có

hình thức đẹp và chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách với

những phong tục tập quán, độ tuổi, giới tính và sở thích khác nhau đang lưu trú tại

khách sạn, và do đó dịch vụ đồ uống sẽ chính là cầu nối để thu hút khách đến với

khách sạn và tiêu dùng các dịch vụ khác như dịch vụ lưu trú cùng các dịch vụ bổ

sung.

Trong kinh doanh khách sạn, việc kinh doanh dịch vụ đồ uống có thể tạo ra

cho khách sạn một sản phẩm độc đáo riêng biệt mang tính cách riêng, đặc điểm riêng,

hương vị riêng của từng khách sạn. Đó cũng là phương thức dị biệt hố sản phẩm mà

khơng khách sạn nào có thể bắt chước được, từ đó góp phần tích cực vào sự tăng

trưởng cầu của khách tại khách sạn.

Với chất lượng tốt và tính đa dạng, phong phú trong hoạt động kinh doanh

dịch vụ đồ uống cũng sẽ quyết định đến uy tín và thứ hạng của khách sạn. Nói một

cách khác,việc kinh doanh dịch vụ đồ uống sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình

tuyên truyền quảng cáo về thương hiệu khách sạn với người tiêu dùng, với khách du

lịch.

Việc kinh doanh dịch vụ đồ uống sẽ góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc

làm cho lực lượng lao động của khách sạn, làm tăng thêm thu nhập cho nhân viên.

Kinh doanh dịch vụ đồ uống trong khách sạn còn giúp cho việc tiêu thụ các sản phẩm

nông nghiệp (lương thực, thực phẩm, rau quả…), giúp cho ngành chế biến lương

thực, thực phẩm của Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng ngày càng phát

triển.

1.2.2. Đặc điểm của kinh doanh dịch vụ đồ uống

- Kinh doanh dịch vụ đồ uống trong khách sạn đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của du

khách.

- Đòi hỏi nhân viên phục vụ phải có nghiệp vụ chuyên môn cao và cố gắng không để

xảy ra những sai sót trong q trình phục vụ khách.

- Kinh doanh dịch vụ đồ uống không đồng nhất về sản phẩm và dịch vụ cung ứng,

nhưng lại đồng nhất về chất lượng phục vụ trong mọi lúc, mọi nơi. Tuy nhiên chất

lượng phục vụ còn phụ thuộc vào tâm lý của khách hàng và cách đối xử của nhân

8



viên đối với khách.

- Việc phục vụ đồ uống trong khách sạn đòi hỏi chất lượng, tính thẩm mỹ cao và nghệ

thuật pha chế đồ uống, trang trí đồ uống phải phù hợp với từng loại thực đơn, từng

loại khách. Bên cạnh đó, việc đảm bảo về tính vệ sinh an tồn thực phẩm là rất quan

trọng.

- Kinh doanh dịch vụ đồ uống trong khách sạn có tính đa dạng về sản phẩm. Xin đơn

cử: các loại Cocktails, Mocktails, Cà phê, Trà, Bia, Rượu…và phục vụ cho các loại

hình ăn uống như tiệc đứng, tiệc ngồi, tiệc hội nghị…Vì vậy nó đòi hỏi nhân viên

phục vụ phải hiểu rõ về từng loại sản phẩm cụ thể để có thể phục vụ khách hàng một

cách tốt nhất.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh đồ uống trong

khách sạn

1.3.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật.

Kinh doanh dịch vụ đồ uống đòi hỏi chất lượng vệ sinh an tồn thực phẩm và

tính thẩm mỹ rất cao, vì vậy cần có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dùng

trong các khách sạn. Ví dụ như để có đồ uống ngon thì yêu cầu nguyên liệu, thực

phẩm chế biến phải tươi chất lượng vì vậy phải có hệ thống tủ lạnh để bảo quản, hệ

thống máy móc chuyên dùng, để có kem ngon thì phải có máy kem, để có những ly

cocktail, mocktail, coffee tuyệt hảo thì phải có dụng cụ pha chế theo từng kiểu loại và

thể hiện được văn hố đồ uống…

Ngồi ra, các trang thiết bị khác trong bar như bàn, ghế, các dụng cụ ăn, uống

như : ly, cốc, đĩa, dao, dĩa…cũng phải đảm bảo chất lượng tốt, hình thức đẹp, cách

bài trí phòng bar hợp lý… mới tạo được ấn tượng ban đầu và cảm hứng thưởng thức

đồ uống cho khách. Có thể nói, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đồ uống tại các khách

sạn tốt hay khơng ln có sự ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ, từ đó ảnh

hưởng đến việc khách có quyết định tiêu dùng dịch vụ ở đây hay khơng. Bên cạnh

đó, cơ sở vật chất kỹ thuật đầy đủ với chất lượng tốt còn ảnh hưởng tích cực đến việc

tăng năng suất lao động, tăng doanh thu cho khách sạn, tăng hiệu quả kinh tế và tăng

thu nhập cho nhân viên.

1.3.2. Đội ngũ lao động và cơ cấu tổ chức kinh doanh.

Đối với các ngành khoa học kỹ thuật, máy móc có thể dần dần thay thế con

người trong quá trình làm việc. Nhưng với ngành kinh doanh khách sạn thì cho đến

nay vẫn đòi hỏi sự phục vụ trực tiếp tận tình của đội ngũ nhân viên trong khách sạn.

Vì vậy, sự thành cơng hay thất bại của một khách sạn phần lớn là nhờ vào đội ngũ

nhân viên phục vụ. Có thể nói rằng, đội ngũ nhân viên phục vụ là “tài sản” của khách

sạn, là chìa khố thành cơng trong kinh doanh khách sạn, bởi họ là người thường

xuyên tiếp xúc với khách hàng, là cầu nối giữa sản phẩm của khách sạn với khách

hàng. Thông qua cách phục vụ của nhân viên: sự nhiệt tình, chu đáo, ánh mắt, cử

chỉ… sẽ làm cho khách cảm thấy hài lòng, khai thác tối đa khả năng thanh toán của

khách, làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho khách sạn.

Vì ý nghĩa, vai trò to lớn của đội ngũ nhân viên phục vụ đối với khách sạn nói

9



chung và đối với bộ phận phục vụ ăn uống nói riêng (như đã nêu ở trên) nên yêu cầu

đội ngũ nhân viên phục vụ ăn uống phải đảm bảo :

- Có nghiệp vụ chun mơn cao và khả năng ứng xử tốt.

- Hiểu biết xuất xứ của từng đồ uống vì có khi khách tò mò muốn hỏi, nhất là các

khách du lịch phương Tây.

- Hiểu biết về tâm lý khách hàng theo từng nền văn hoá, phong tục tập quán, từng

khẩu vị ăn uống, từng lứa tuổi.

- Hiểu biết về nghi lễ và giao tiếp.

- Yêu cầu về độ tuổi: nhân viên phục vụ trực tiếp tại bar thì yêu cầu độ tuổi lao động

phải trẻ (từ 20 –30 tuổi), còn với các bộ phận khác như tiếp phẩm, thủ kho, pha chế

thì thâm niên công tác quan trọng hơn độ tuổi.

- Yêu cầu về giới tính: các cơng việc ở bar và bếp phù hợp với nam giới hơn là nữ

giới vì nó u cầu tính nhanh nhẹn, hoạt bát và khỏe mạnh. Còn cơng việc phục vụ tại

bàn có thể cần nhiều nữ vì họ là những người nhẹ nhàng và chu đáo hơn.

- Yêu cầu về ngoại ngữ : đối với lao động phục vụ trực tiếp trong kinh doanh ăn uống

không cần người phải có trình độ học vấn cao nhưng đòi hỏi họ phải có chun mơn

nghiệp vụ và đặc biệt họ phải giao tiếp được bằng ngoại ngữ.

- Từ những đặc thù của hoạt động kinh doanh dịch vụ đồ uống nên việc tổ chức lao

động cũng phải hợp lý. Không chỉ riêng với hoạt động kinh doanh dịch vụ đồ uống

mà trong bất kỳ hoạt động nào việc bố trí và sử dụng lực lượng lao động hợp lý, khoa

học sẽ quyết định đến việc tăng năng suất lao động và giảm chi phí.

1.3.3. Chất lượng và chủng loại sản phẩm.

Chất lượng và chủng loại dịch vụ đồ uống có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và

thứ hạng của khách sạn, quyết định đến doanh thu của khách sạn. Đối với các khách

sạn càng lớn thì yêu cầu về chất lượng dịch vụ đồ uống càng cao và các loại hình sản

phẩm càng đa dạng.

Dịch vụ uống: các khách sạn có rất nhiều hình thức phục vụ đồ uống như :

phục vụ bar ngày, bar đêm, bar rượu … các đồ uống thì bao gồm đồ uống có sẵn và

đồ uống tự pha chế.

Khi quyết định đến tiêu dùng sản phẩm dịch vụ đồ uống tại khách sạn nào đó,

điều đầu tiên mà khách hàng quan tâm đến là chất lượng của sản phẩm dịch vụ đồ

uống tại khách sạn đó như thế nào. Chất lượng của dịch vụ đồ uống thể hiện ở việc

đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tính thẩm mỹ cao,

phục vụ đúng theo từng kiểu loại và văn hoá ẩm thực của các đối tượng khách. Ngồi

ra, chất lượng của dịch vụ đồ uống còn thể hiện ở tính độc đáo, riêng biệt của khách

sạn mà các khách sạn khơng có được. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ đồ uống đối

với các khách sạn là hết sức cần thiết vì nó là nhân tố quan trọng nhất quyết định khả

năng cạnh tranh của khách sạn, tạo nên uy tín, danh tiếng cho khách sạn, từ đó thu hút

cầu, tăng doanh thu, là cơ sở cho sự tồn tại lâu dài của khách sạn.



10



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ ĐỒ UỐNG

TẠI KHÁCH SẠN VINPEARL HẠ LONG

2.1. Giới thiệu về khách sạn và dịch vụ đồ uống tại Vinpearl Hạ long

Vinpearl Hạ Long Bay Resort là khu nghỉ 5 sao đẳng cấp quốc tế trên biển đầu

tiên và lớn nhất tại Miền Bắc. Đây cũng là quần thể nghỉ dưỡng đầu tiên của hệ thống

11



Vinpearl trong lần đầu Bắc tiến, sau các Vinpearl Resort đã nổi tiếng tại Nha Trang,

Phú Quốc, Đà Nẵng. Tọa lạc trên tồn bộ đảo Rều - hòn đảo hoang sơ bốn phía là

biển- Vinpearl Hạ Long có tầm nhìn “độc nhất vơ nhị” : 360 độ, bao qt tồn bộ

vịnh Hạ Long huyền thoại. Với 384 phòng. Mỗi phòng đều có ban cơng, truyền hình

cáp màn hình phẳng, két an tồn và minibar. Phòng tắm riêng đi kèm bồn tắm, vòi

sen, máy sấy tóc và đồ vệ sinh cá nhân miễn phí. Các tiện nghi khác bao gồm trung

tâm thể dục, sân chơi cho trẻ em và tiện nghi thể thao dưới nước trong khn viên.

Q khách có thể lặn với ống thở và lặn biển hoặc chơi tennis. Resort còn cung cấp

dịch vụ thu đổi ngoại tệ, dịch vụ trợ giúp đặc biệt, trung tâm dịch vụ doanh nhân và lễ

tân 24 giờ.

Hình 1. Khách sạn Vinpearl Hạ Long



( Nguồn khách sạn Vinpearl Hạ Long)

2.1.1. Tổ chức bộ máy của khách sạn.

Xuất phát từ đắc điểm hoạt động của khách sạn mà hình thành nên cơ cấu tổ

chức quản trị trực tuyến chức năng,bao gồm các bộ phận như sau:

- Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy



Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy khách sạn Vinpearl Hạ Long

Thư





Tổng giám đốc



Phó tổng giám đốc



Thư



12



Bộ

phận

nhân

sự



Kinh

doanh



Đặt

phòng



Bộ

phận

kinh

doanh



Bộ

phận

tài

chính



Kế

tốn

nhà

hàng



Bộ

phận

lễ

tân



Bộ

phận

ẩm

thực



Bộ

phận

bảo

vệ



Bộ

phận

buồng

phòng



Bộ

phận

kỹ

thuật



Club

Floor



Nhà

hàng



Buồng

phòng



Lễ tân



Quầy

bar



Giặt





Kế

tốn

tổng

hợp



Quan

hệ

khách

hàng



Quản

lý máy



Tổng

đài



Bếp



Linen



Business

center

(Nguồn : Phòng nhân sự của Khách sạn Vinpearl Hạ Long )

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban

a. Tổng giám đốckhách sạn (General Manager): Chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ

khách sạn hoạt động một cách hiệu quả, lập kế hoạch kinh doanh, phối hợp các bộ

phận trong khách sạn một cách đồng bộ có hệ thống, chỉ đạo cơng việc của phó giám

đốc và các bộ phận khác trong khách sạn.

b. Bộ phận Tiền sảnh (Front Office)

- Phân cơng lao động, bố trí ca trực, ngày nghỉ cho nhân viên, điều phối, đôn đốc

kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả làm việc của nhân viên trong bộ phận, tham gia

tuyển chọn nhân viên, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên.

- Tham gia vào các hoạt động của khách sạn, phối hợp tốt với các bộ phận để tăng

doanh thu. Tham mưu cho ban giám đốc phòng kinh doanh tiếp thị đưa ra những

13



chiến lược, chương trình kinh doanh có tính khả thi. Tính tốn điều tiết phòng sao cho

hợp lý, chuẩn bị và đón các khách, đồn khách quan trọng.

Bộ phận Tiền sảnh bao gồm:

Giám sát bộ phận Lễ Tân (Front Office Supervisor)

- Có tính chất cơng việc tương tự với FOM trong ca làm việc của mình, nhưng quyền

hạn có phần bị hạn chế hơn, mọi công việc cần phải thông qua FOM trước khi thực

hiện.

Lễ Tân (Receptionist)

Ca ngày:

- Nhận tin nhắn liên quan đến việc phục vụ khách cung cấp thơng tin và giúp đỡ

khách, kiểm tra và làm chìa khóa cho khách, tiếp đón và sắp xếp phòng hợp lý theo

yêu cầu của khách. Kiểm tra và lưu trữ thông tin đến và lưu trú và đi của khách, làm

thẻ đăng ký trước của khách VIP và khách thường xuyên, giải đáp những yêu cầu và

thắt mắt của khách, báo cáo những vấn đề trục trặc những than phiền của khách với

trưởng phó bộ phận tiền sảnh, nhận yêu cầu báo thức chuyển cho bộ phận chức năng

thực hiện, bán phòng và giới thiệu các dịch vụ cho khách và giúp đở khi khách checkout.

Ca đêm:

- Thực hiện công việc kết sổ hoặc tiếp nhận các chứng từ chuyển đến tiếp tân từ các

bộ phận khác, tham gia giữ an ninh chung trong KS kiểm tra các cửa khóa, hiểu biết

cụ thể các quy trình cài đặt các thiết bị của KS và chỉ sử dụng chúng có mục đích an

tồn.

- Bàn giao những việc đã làm và kết quả để ca ngày tiếp tục kiểm tra và xử lý, chuẩn

bị bản báo cáo hoạt động ca đêm và thống kê tình trạng phòng mỗi ngày.

- Chuẩn bị các cơng việc cần thiết cho việc đón khách ngày hơm sau, duy trì sự phối

hợp chặt chẽ với các bộ phận trong KS để hỗ trợ phục vụ khách đạt hiệu quả cao

nhất.

- Nhân viên quan hệ khách hàng (Guest Relation)

- Lưu trữ, cập nhật hồ sơ các thông tin cần thiết về khách hàng như: Tên, tuổi, số

chứng minh thư…. Ngồi ra, còn phải nắm bắt và lưu giữ những thông tin khác như:

ngày sinh nhật và lễ kỷ niệm hoặc một kỉ niệm đáng nhớ của khách hàng trong

khoảng thời gian lưu trú.

- Hướng dẫn khách về phòng sau khi đã check-in, giới thiệu tiện nghi của KS và

những dịch vụ trong KS cho khách trên đường đưa khách về phòng.

- Kiểm tra với trưởng ca tiếp tân về tình trạng phòng trong ngày nhanh chóng thực

hiện các yêu cầu cho khách , kiểm tra danh sách khách đến và đi trong ngày để lên kế

hoạch tiếp đón và xác nhận các yêu cầu của khách đã được đáp ứng.

Nhân viên đặt phòng/ tổng đài (Operator Staff)

- Nhận và chuyển các cuộc gọi đến và đi, nhận và lấy tin nhắn, kiểm tra và báo cáo

doanh thu điện thoại, theo dõi tính phí các cuộc gọi của các phòng ban để tính phí cho

phòng ban đó.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của chuyên đề......................................................................................

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×