Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.1. Hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số

3.2. Kết quả thử gây độc tính cấp của cao dịch chiết Sương sáo

3.3. Tạo chuột BP và ĐTĐ thực nghiệm

3.4. Tác dụng của cao dịch chiết Sương sáo trong dự phòng bệnh ĐTĐ trên

chuột nhắt trắng BP

3.5. Tác dụng của cao dịch chiết Sương sáo trong hỗ trợ điều trị ĐTĐ trên

chuột nhắt trắng BP

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO



4



II. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đái tháo đường

1.1.1. Khái niệm

Theo WHO, ĐTĐ là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường

máu do hậu quả của việc mất hồn tồn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu

trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin [3].

Theo các chuyên gia thuộc Uỷ ban chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ Hoa

Kỳ năm 2003, ĐTĐ được định nghĩa là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng

bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin,

hoặc cả hai. Tăng glucose máu mãn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn

chức năng hay suy giảm chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần

kinh, tim và mạch máu [31].

1.1.2. Chẩn đoán và phân loại

1.1.2.1. Chẩn đoán

* Các chỉ số để chẩn đoán ĐTĐ

Các chỉ số để chẩn đoán ĐTĐ bao gồm:

- Xét nghiệm HbA1c là phương pháp đo lượng glucose trong máu gắn với

hemoglobin của tế bào hồng cầu. Khi glucose gắn kết với hemoglobin, nó sẽ ở đó và

tồn tại đến hết đời sống của hồng cầu. Như vậy nếu nồng độ glucose trong máu

càng cao thì lượng glucose gắn vào hemoglobin của hồng cầu càng nhiều, do đó

nồng độ HbA1c cũng sẽ gia tăng. Do vậy, HbA1c phản ánh nồng độ glucose trong máu

trong khoảng 2-3 tháng và có thể thực hiện bất kì thời điểm nào trong ngày [91]. HbA1c

tuy có thuận tiện là khơng phụ thuộc vào tình trạng no hay đói của người bệnh; tiết kiệm

được thời gian chẩn đoán nhưng chi phí cho xét nghiệm này cao và bị ảnh hưởng bởi

một số yếu tố như: thiếu máu, bất thường hemoglobin, thai kì, chứng tăng ure huyết. Do

đó, tiêu chuẩn HbA1c chưa phù hợp để sử dụng phổ biến ở các nước trên khắp thế giới

để xác định bệnh ĐTĐ [92].



5



- Nghiệm pháp dung nạp glucose: Là biện pháp thường được sử dụng để chẩn

đoán khi nồng độ glucose huyết ở mức trung bình, trong thời kỳ mang thai và trong các

nghiên cứu dịch tễ học [90].

Theo WHO, glucose huyết bình thường (lúc đói) vào khoảng dưới 140

mg/dL. Vào thời điểm 120 phút (sau dung nạp), mức glucose huyết khoảng từ 140200 mg/dL (7,8-11,1 mmol/L) được cho là rối loạn dung nạp đường và trên 200

mg/dL (> 11,1 mmol/L) được cho là ĐTĐ.

- Xét nghiệm glucose huyết lúc đói: Là phương pháp chính để xác định tình trạng

glucose huyết của cơ thể, được thực hiện sau khi người bệnh nhịn đói qua đêm trong 8

tiếng đồng hồ đến 14 giờ [91].

* Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ

- Theo hiệp hội ĐTĐ Mỹ (American Diabetes Association, ADA), tiêu chuẩn

chẩn đoán ĐTĐ được thể hiện ở Bảng 1.1.

Bảng 1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo ADA năm 2010

Glucose huyết



Giai đoạn tiền



Chẩn đốn bệnh



bình thường



tiểu đường



Glucose huyết



< 7,8 mmol/L



7,8-11,0 mmol/L



tiểu đường

≥ 11,1 mmol/L



ngẫu nhiên



(140 mg/dL)



(140-200 mg/ dL



Glucose huyết lúc



4,0-5,6 mmol/L



5,6-6,9 mmol/L



Ít nhất qua 2 lần thử

≥ 7 mmol/L



đói



(72-100 mg/dL)



(101-125 mg/dL)



(126 mg/dL)



Nghiệm pháp



< 7,8 mmol/L



7,8-11,0 mmol/L



≥ 11,1 mmol/L



dung nạp glucose

HbA1c



(140 mg/dL)

< 5,7%



(140-200 mg/dL)

5,7-6,4%



(200 mg/dL)

≥ 6,5%



Tên xét nghiệm



(200 mg/dL)



Bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo đường có thể có một trong ba chỉ số

như sau:

+ Tiêu chuẩn 1: Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L với các triệu

chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân khơng có ngun nhân.



6



+ Tiêu chuẩn 2: Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/L, xét nghiệm lúc

bệnh nhân đã nhịn đói sau 6-8 giờ khơng ăn.

+ Tiêu chuẩn 3: Glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau khi uống 75 gam

glucose ≥ 11,1 mmol/L.

Các xét nghiệm trên phải được lặp lại 1-2 lần trong những ngày sau đó [3].

- Đối với chuột, nồng độ glucose huyết ≥ 10 mmol/L được coi là bị ĐTĐ [86].

1.1.2.2. Phân loại

Theo WHO năm 1999, ĐTĐ được phân loại thành những dạng sau:

- ĐTĐ type 1: ĐTĐ phụ thuộc insulin có liên quan tới sự thiếu hụt insulin

tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn), thường là kết

quả của sự phá hủy tự miễn các tế bào β của tụy, chiếm tỉ lệ khoảng 5-10% tổng số

bệnh nhân ĐTĐ thế giới [26]. Người bệnh ĐTĐ type 1 sẽ có đời sống phụ thuộc

insulin hồn tồn, thường được phát hiện trước 40 tuổi và phụ thuộc nhiều vào các

yếu tố di truyền.

- ĐTĐ type 2: ĐTĐ không phụ thuộc insulin, được biểu hiện bằng giảm nhạy

cảm với insulin ở gan, cơ vân, mô mỡ và sự suy chức năng của tế bào β, dẫn tới rối

loạn bài tiết insulin. ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 90% ĐTĐ trên thế giới, thường gặp

ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí

cả lứa tuổi thanh thiếu niên.

Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của ĐTĐ type 2 là có sự tương tác giữa

yếu tố gen và yếu tố mơi trường trong cơ chế bệnh sinh. Vì vậy, để điều trị ĐTĐ

type 2 cần thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose huyết, tuy

nhiên nếu q trình này thực hiện khơng tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng

cách dùng insulin.

- ĐTĐ thai kỳ: bệnh ĐTĐ thai kỳ thường xảy ra ở phụ nữ khi mang thai và

sẽ hết sau khi sinh. Bệnh ĐTĐ thai kỳ tuy khơng gây ảnh hưởng gì đến sức khỏe

thai phụ nhưng nếu khơng kiểm sốt tốt sẽ gây ra các vấn đề trong quá trình mang



7



thai nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Đặc biệt bệnh ĐTĐ thai kỳ có nhiều khả năng

chuyển thành bệnh ĐTĐ type 2 sau này.

- Các thể ĐTĐ khác (hiếm gặp) như: khiếm khuyết chức năng tế bào β,

khiếm khuyết gen hoạt động của insulin, bệnh tụy ngoại tiết (viêm tụy, chấn thương,

carcinom tụy), các bệnh nội tiết (hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp), thuốc

hoặc hóa chất, các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch.

1.1.3. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

1.1.3.1. Thế giới

Ngày nay, cùng với sự phát triền của nền kinh tế, bệnh ĐTĐ đang trở thành

mối lo ngại trên toàn thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Tuy nó là một

căn bệnh khơng lây nhiễm nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng dẫn đến những

hậu quả nghiêm trọng cả về sức khỏe và kinh tế đối với tồn xã hội.



Hình 1.1. Tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới năm 2017

và dự đoán năm 2045 [54]

Năm 2017, trên tồn thế giới có 425 triệu người mắc bệnh ĐTĐ. Trong đó tỉ lệ mắc

ĐTĐ ở người trưởng thành (20-79 tuổi) chiếm tỉ lệ cao, đứng đầu là Hoa Kỳ (348 triệu

người), Trung Quốc (110 triệu người), Đức (42 triệu người), Ấn Độ (32 triệu người). Dự



8



báo năm 2045, trên tồn thế giới có 629 triệu người mắc ĐTĐ, tăng 48% [54].

Tỉ lệ ĐTĐ cũng có sự khác nhau giữa thành thị và nơng thơn, giữa các lứa

tuổi. Theo số liệu điều tra quốc gia năm 2008, tại Philippine tỉ lệ ĐTĐ ở khu vực

nông thôn là 5,8% nhưng ở khu vực thành thị là 8,3% [39]. Shaw JE và cộng sự

thực hiện nghiên cứu trên 91 quốc gia đã đưa ra tỉ lệ ĐTĐ trên toàn thế giới ở người

trưởng thành là 6,4% (285 triệu người), ước tính sẽ tăng lên 7,7% (439 triệu người)

vào năm 2030 [76]. Năm 2011, nghiên cứu của Whiting và cộng sự đã đưa ra số

người mắc ĐTĐ ở người trưởng thành (20-79 tuổi) là 366 triệu người, ước tính năm

2030 là 552 triệu người [87].

1.1.3.2. Việt Nam

Với sự phát triển kinh tế cũng như đơ thị hóa kéo theo sự thay đổi lối sống,

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới

[76]. Cùng với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, tỉ lệ

ĐTĐ của Việt Nam nằm trong khu vực 2 (tỉ lệ 2-4,99%) theo phân loại của hiệp hội

ĐTĐ quốc tế và WHO [3]. Kết quả điều tra năm 2001 tại 4 thành phố lớn gồm: Hà

Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh cho thấy, tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi

30-64 là 4,9%; rối loạn dung nạp glucose máu là 5,9%; tỉ lệ rối loạn glucose máu

lúc đói là 2,8% [2]. Số liệu thống kê năm 2002-2003 cho thấy, tỉ lệ ĐTĐ cũng có sự

khác nhau giữa khu đơ thị với vùng núi cao. Tỉ lệ ĐTĐ ở khu đô thị là 4,4% trong

khi đó ở vùng núi cao tỉ lệ này chỉ ở mức 2,1%. Khơng chỉ có sự khác nhau giữa các

vùng miền mà tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ còn có sự khác nhau giữa giới tính và giữa các

nhóm tuổi. Tỉ lệ ĐTĐ ở nữ là 3,7% còn ở nam là 3,3%. Điều đáng lo ngại hơn là tỉ

lệ mắc bệnh ĐTĐ ở độ tuổi 30-64 chiếm tỉ lệ cao (10,5%) [3]. Năm 2008, tỉ lệ ĐTĐ

ở độ tuổi 30-69 tại thành phố Hồ Chí Minh đã được tác giả Đỗ Thị Ngọc Diệp và

cộng sự nghiên cứu, đưa ra tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở độ tuổi này là 7,04% [6].

Theo số liệu thống kê năm 2013, tỉ lệ mắc ĐTĐ cao nhất ở Tây Nam Bộ (7,2%) và

thấp nhất ở Tây Nguyên (3,8%) [1].



9



1.1.4. Nguyên nhân

1.1.4.1. Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường type 1

* Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc xác định ai là người có

khả năng phát triển bệnh ĐTĐ type 1. Gen được truyền từ bố mẹ sang con, gen giúp

thực hiện tạo ra các protein cần thiết cho hoạt động của các tế bào. Tuy nhiên, do

một số biến thể gen hoặc một vài nhóm gen tương tác với nhau tạo nên ngun nhân

chính gây ra bệnh ĐTĐ.

* Yếu tố mơi trường

Do các chất độc hoá học, do vi khuẩn, virus (virus quai bị, rubella, virus

coxsackie B4)… gây nhiễm khuẩn, nhiễm độc dẫn đến làm tổn thương và phá hủy

tuyến tụy đặc biệt là tế bào β, làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất insulin dẫn đến

thay đổi glucose huyết [5].

* Yếu tố miễn dịch

Như chúng ta đã biết, hệ thống miễn dịch có cơ chế bảo vệ cơ thể bằng cách

xác định và tiêu diệt vi khuẩn, virus. Nhưng trong các bệnh tự miễn, hệ thống miễn

dịch lại tấn công các tế bào trong cơ thể và trong bệnh ĐTĐ type 1 thì hệ thống này

đã tấn cơng các tế bào beta trong tuyến tụy làm cản trở hoặc ngừng sản xuất insulin

của tuyến tụy. Có 2 hệ thống miễn dịch gây ra ĐTĐ type 1:

- Miễn dịch thể dịch: sự có mặt của nhiều loại kháng thể kháng tế bào β của

đảo tụy là nguyên nhân gây ĐTĐ type 1.

- Miễn dịch qua trung gian tế bào: sự thay đổi và rối loạn về số lượng và tỉ lệ

giữa các tế bào lympho là nguyên nhân gây ĐTĐ type 1.

1.1.4.2. Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường type 2

Có 2 nguyên nhân chính gây nên bệnh ĐTĐ type 2.

* Yếu tố di truyền

Cơ sở sinh lí của ĐTĐ type 2 chủ yếu liên quan đến suy giảm tiết insulin và

kháng insulin. Gen đóng vai trò quan trọng đối với bệnh ĐTĐ type 2. Theo thống kê

của Prasad năm 2015, có 153 gen liên quan đến ĐTĐ type 2 [73]. Trong đó, phần

lớn các gen được phát hiện ảnh hưởng đến ĐTĐ type 2 thông qua mối liên quan với



10



suy giảm tiết insulin. Các gen này ảnh hưởng đến tổng hợp insulin ở lưới nội chất

trong tế bào β tuyến tuỵ, kích thích tế bào tiết insulin thơng qua khử cực màng tế

bào dưới tác động của glucose [48]. Một số ít các gen liên quan đến kháng insulin

thơng qua mã hoá thụ thể tiếp nhận insulin trên màng tế bào. Trong các mô mỡ và

mô cơ, gen tác động đến q trình truyền tín hiệu từ thụ thể tiếp nhận insulin đến

chất vận chuyển glucose và trong mô gan, ức chế q trình truyền tín hiệu đến gan,

gây tăng cường tổng hợp glucose [28]. Do đó, bố hoặc mẹ mắc bệnh ĐTĐ type 2 thì

nguy cơ lây sang con cái là rất lớn bởi vì gen được truyền từ bố mẹ sang con.

* Yếu tố môi trường

Do ăn uống (chế độ ăn giàu lipid, carbohydrate, nghèo chất xơ), chế độ sinh

hoạt, thói quen lười vận động dẫn đến béo phì nhất là béo bụng thường có sự xuất

hiện nhiều mảng lipid che lấp các thụ thể tiếp nhận insulin ở tế bào đích, kết quả là

các cơ quan đích mất nhạy cảm với insulin, đặc biệt là ở các mơ mỡ và cơ. Do đó

glucose từ máu khơng đi vào các cơ quan đích, làm cho glucose huyết tăng, gây

ĐTĐ type 2 [3]. Ngoài ra, các tế bào β tuyến tụy khi dư thừa lipid sẽ làm nhiễm

độc, gây chết tế bào.

1.1.5. Triệu chứng

Cả ĐTĐ type 1 và 2 đều có các triệu chứng tương tự nhau. Các triệu chứng

thường thấy gồm: tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, sụt cân nhanh, mệt mỏi.

- Tiểu nhiều: Glucose niệu kéo theo lợi niệu thẩm thấu làm tăng lượng nước

tiểu, bệnh nhân thường xuyên mắc đi tiểu hơn người bình thường.

- Ăn nhiều: Cơ thể không thể sử dụng đường để cung cấp năng lượng làm

cho bệnh nhân có cảm giác đói chỉ sau bữa ăn một thời gian ngắn.

- Uống nhiều: Mất nước làm kích hoạt trung tâm khát ở vùng hạ đồi, làm cho

bệnh nhân có cảm giác khát và uống nước liên tục.

- Gầy nhiều: Dù ăn uống nhiều hơn bình thường, nhưng do cơ thể khơng thể

sử dụng glucose để tạo năng lượng, buộc phải tăng cường thoái hóa lipid và protid

để bù trừ, làm cho bệnh nhân sụt cân, người gầy còm, xanh xao.

- Mệt mỏi: Do glucose không vào được tế bào để tạo năng lượng nên cơ thể

lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi.



11



Với bệnh nhân ĐTĐ type 2 thường khơng có bất kỳ triệu chứng nào ở giai

đoạn đầu vì vậy bệnh thường được chẩn đốn muộn (chỉ có cách kiểm tra đường

máu cho phép chẩn đoán được ở giai đoạn này).

1.1.6. Cơ chế gây đái tháo đường

Khi chúng ta ăn, hệ thống tiêu hóa sẽ chia nhỏ thành phần thành các phân tử

dinh dưỡng và hấp thu thơng qua hệ thống tiêu hóa để ni dưỡng cơ thể. Thành

phần có chứa cacbohydrat hay các dạng đường khác nhau được chuyển hóa thành

glucose - nguồn năng lượng quan trọng của các cơ quan trong cơ thể và được dự trữ

ở gan dưới dạng glycogen. Tuy nhiên, để cơ thể sử dụng nguồn năng lượng này,

glucose phải đi vào trong các tế bào. Tuyến tụy sản xuất ra một loại hormone gọi là

insulin- một chất truyền tin rất cần thiết giúp glucose đi vào trong các tế bào.

Nồng độ glucose huyết trong máu được điều hòa nhờ sự tham gia của nhiều

loại hormone tuyến tụy trong đó có hai hormone quan trọng là insulin và glucagon

(Hình 1.2) [53].



Hình 1.2. Vai trò của insulin và glucagon trong điều hòa glucose huyết [53]



12



Sau bữa ăn, lượng đường trong máu sẽ tăng lên, khi đó insulin được phóng

thích vào mạch máu đến các tế bào, kết hợp với các thụ thể insulin đó kích hoạt việc

di chuyển của glucose từ máu vào tế bào làm cho nồng độ glucose huyết giảm. Khi

nồng độ glucose huyết giảm glucagon tác động tới gan để huy động glycogen dự trữ

từ gan để chuyển hóa thành glucose dẫn đến nồng độ glucose huyết tăng.

Khi có sự thiếu hụt insulin một cách tương đối hay tuyệt đối dẫn đến glucose

không thể vận chuyển vào tế bào làm cho nồng độ glucose huyết trong máu tiếp tục

tăng cao dẫn đến glucose được chuyển đến thận và bị đào thải qua nước tiểu gây

bệnh ĐTĐ (Hình 1.3).



Hình 1.3. Cơ chế gây bệnh đái tháo đường

1.1.7. Biến chứng

Cũng như ung thư và HIV, bệnh ĐTĐ có thể để lại hậu quả nguy hiểm. Khi

bệnh biểu hiện ra bên ngồi thì đã q nặng, điều trị rất khó khăn, đặc biệt đáng sợ

nhất là các biến chứng của bệnh ĐTĐ.

Có 2 loại biến chứng: biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính



13



1.1.7.1. Biến chứng cấp tính

Thường xảy ra đột ngột trong thời gian ngắn, là hậu quả của chẩn đốn

muộn, gây ra nhiễm khuẩn cấp tính hoặc điều trị khơng thích hợp gây ra nhiễm toan

ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu. Nguyên nhân của hai biến chứng này là do

khi thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây

toan hóa tổ chức làm rối loạn chuyển hóa glucose và lipid [3].

1.1.7.2. Biến chứng mạn tính

Do hàm lượng glucose máu tăng cao đã làm tăng gốc tự do, đồng thời tăng

hiện tượng glycosyl hóa các protein. Các gốc tự do hình thành có khả năng oxy hóa

rất mạnh làm tổn thương tế bào, tổn thương mạch máu, hình thành các biến chứng

tại võng mạc, hệ thần kinh (Hình 1.4).

Bệnh thần kinh



Đái tháo

đường



Tổn thương mạch

máu



Hình 1.4. Biến chứng của đái tháo đường

- Tổn thương hệ thần kinh: Là biến chứng phổ biến và xuất hiện sớm nhất.

Khi hàm lượng glucose huyết tăng quá cao trong thời gian dài sẽ dẫn tới làm tổn

thương các mạch máu nhỏ nuôi dây thần kinh khiến cho bệnh nhân giảm cảm giác,

tê bì hoặc kim châm, yếu cơ. Các dấu hiệu này thường hay xảy ra ở bàn chân mà cụ

thể là gây loét bàn chân. Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới bệnh nhân

phải đoạt chi cao, thậm chí tử vong [5].



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×