Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Có rất nhiều khái niệm cũng như cách hiểu về nguồn vốn kinh doanh nhưng

tóm lại chúng ta có thể hiểu như sau: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền

của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

nhằm thu lợi nhuận”.

1.1.2. Phân loại nguồn vốn trong doanh nghiệp

 Theo nguồn hình thành gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ phải trả.

Vốn chủ sở hữu: là nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp do

chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn ( vốn góp của chủ sở hữu), lợi nhuận

sau thuế chưa phân phối, do tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới. Nguồn vốn

chủ sở hữu là nguồn vốn có tính ổn định cao và quan trọng, thể hiện tính tự chủ của

doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp càng lớn thể hiện tính

độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao.

Vốn nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh

doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm và nghĩa vụ phải thanh toán cho các chủ nợ.

Nợ phải trả phát sinh từ những sự kiện như mua hàng hóa chưa trả tiền, vay nợ, sử

dụng dịch vụ chưa thanh toán, phải trả nhân viên, thuế phải nộp,...Trên báo cáo tài

chính vốn nợ phải trả được trình bày gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.

 Theo tính chất luân chuyển: gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.

Nguồn vốn ngắn hạn: được doanh nghiệp sử dụng tài trợ cho tài sản ngắn hạn.

Vốn ngắn hạn bao gồm nguồn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, thành phần là các

bộ phận cấu thành nợ ngắn hạn của doanh nghiệp gồm vay và nợ thuê tài chính

ngắn hạn, các khoản phải trả ngắn hạn( bao gồm các khoản vay và nợ phải trả dài

hạn đến hạn và quá hạn)

Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong một

thời gian dài hơn một năm được dung để tài trợ cho tài sản dài hạn. Thành phần

gồm vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn.

Nguồn vốn dài hạn chiếm tỷ trọng cao hơn nguồn vốn ngắn hạn trong các

doanh nghiệp sản xuất, còn trong các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ thì

ngược lại.



5



1.1.3. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

bảo hiểm

Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập một doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng

và doanh nghiệp khác nói chung, muốn đăng kí thành lập doanh nghiệp bất cứ đơn

vị kinh doanh nào cũng phải có đủ số vốn pháp định theo quy định của pháp luật, là

điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc gia. Riêng đối với các

nước kém phát triển, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, cần phải có

một khối lượng vốn rất lớn. Điều này càng được khẳng định chắc chắn khi nghiên

cứu vai trò của vốn với tăng trưởng và phát triển của mọi đất nước.

Vốn kinh doanh đo lường qui mô, phân loại doanh nghiệp, là một trong

những nguồn lực quan trọng để doanh nghiệp tận dụng tối đa phục vụ cho việc

sản xuất, kinh doanh mở rộng sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, phục vụ

đầu tư vào máy móc, nâng cao các trang thiết bị từ đó nâng cao chất lượng sản

phẩm, nâng cao năng suất lao động, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập

người lao động, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động,…

phát triển hơn, là cơ sở doanh nghiệp dựa vào đó để hoạch định đưa ra các

chiến lược, các kế hoạch kinh doanh trong tương lai , tạo chỗ đứng của doanh

nghiệp trên thị trường.

Vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển nói

chung và Việt Nam nói riêng đưa các nước này có thể tiến hành đổi mới nền kinh

tế, đưa nền kinh tế tiến kịp với các nước phát triển .Việt Nam là một nước tiến

hành Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa muộn so với thế giới, mặt khác lại có xuất

phát điểm thấp, đó là những khó khăn cản trở sự phát triển kinh tế. Để khắc phục

những khó khăn này thì vốn đóng vai trò rất quan trọng. Nước ta cần phải có

một lượng vốn lớn để xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực và đơi rmới thiết bị cơng nghệ cho q trình sản xuất. Nền

kinh tế không thể phát triển được nếu thiếu một cơ sở hạ tầng thuận lợi, đồng

bộ .Cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay tuy đã có những tiến bộ song vẫn đang ở

mức thấp kém. Đó là một yếu tố làm giảm tính hấp dẫn của các nhà đầu tư nước



6



ngoài .Nguồn nhân lực nước ta có rất nhiều lợi thế song tay nghề lại thấp. Máy

móc thiết bị sử dụng trong q trình sản xuất phần lớn là lạc hậu so với các nước

phát triển …Tất cả những điều đó đòi cần phải có nguồn vốn để đầu tư phát triển

các doanh nghiệp.

Thời đại nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, không phải thời

bao cấp, nguồn vốn của các doanh nghiệp không phải lấy từ ngân sách nhà nước.

Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính tốn hoạch

định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết

dính các q trình và quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhờn bơi trơn cho cỗ máy

kinh tế vận động có hiệu quả.

Trong các doanh nghiệp bảo hiểm, nguồn vốn kinh doanh có vai trò hết sức

quan trọng góp phần cho sự phát triển của doanh nghiệp; là sự cam kết mức trách

nhiệm bằng vật chất của các thành viên với khách hàng, đối tác, cũng như đối với

doanh nghiệp; Là cơ sở để phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh đối

với các thành viên góp vốn…Các doanh nghiệp bảo hiểm có một nguồn tiền nhàn

rỗi lớn, một phần sẽ được ký thành vốn điều lệ theo quy định của pháp luật, phần

còn lại các doanh nghiệp bảo hiểm có thể đầu tư sinh lời, nguồn vốn này chiếm tỷ

trọng thấp nhưng lại có vai trò quan trọng. Là nguồn vốn tự do của doanh nghiệp

nên khơng chịu sự kiểm sốt và quy định của pháp luật do đó các doanh nghiệp có

thể đem đầu tư vào những khoản mục có tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhằm phục vụ

những chiến lược và mục tiêu của riêng mình.

Nguồn vốn kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểm càng cao càng thể hiện

được tài chính vững mạnh, chắc chắn sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư, nhiều khách hàng

trong tương lai gần. Sự cạnh tranh càng lớn càng giúp doanh nghiệp bảo hiểm tại

Việt Nam phát triển mạnh mẽ, khách hàng – người dân Việt Nam nhờ đó sẽ được sử

dụng nhiều sản phẩm cải tiến, tối ưu hơn nữa!



7



1.2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quy mô, cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Cơ cấu nguồn vốn là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn

chiếm trong tổng số nguồn vốn

Tỷ trọng nguồn vốn thứ i trong tổng nguồn vốn = x 100

Các bộ phận nguồn vốn bao gồm:

Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp thời gian

chiếm dụng nhỏ hơn một năm, nguồn vốn ngắn hạn bao gồm các thành phần như

phải trả người bán ngắn hạn, người mua trả tiền trước ngắn hạn, thuế và các khoản

phải nộp nhà nước, phải trả người lao động, phải trả ngắn hạn khác, vay và nợ thuê

tài chính ngắn hạn

Quy mơ nguồn vốn ngắn hạn của doanh nghiệp tính bằng tiền= [tổng trị số của

chỉ tiêu thuộc mục I – nợ ngắn hạn thuộc nguồn C – nợ phải trả] của phần nguồn

vốn trong báo cáo tài chính B01-DN.

Nguồn vốn dài hạn là nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, có thể sử

dụng thường xuyên, lâu dài hơn một năm.

Quy mơ tính bằng tiền của nguồn vốn dài hạn = [tổng trị số của các chỉ tiêu

thuộc mục II- nợ dài hạn, thuộc nguồn C – nợ phải trả + tổng trị số của các chỉ tiêu

thuộc các mục( I-vốn chủ sở hữu, II-nguồn kinh phí và các quỹ khác), thuộc nguồn

D-vốn chủ sở hữu] phần nguồn vốn, trong báo cáo tài chính B01-DN

Phương trình thể hiện mức đọ an tồn của chính sách sử dụng nguồn vốn để

hình thành tài sản của doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nguồn vốn ngắn hạn + Nguồn vốn dài hạn

TSNH



TSDH



NVNH



NVDH



Hay : TSNH – NVNH = NVDH – TSDH

 Nguồn vốn ngắn hạn phải hoàn lại dưới một năm vì vậy doanh nghiệp nên

dung để hình thành các loại tài sản ngắn hạn.

 Nguồn vốn dài hạn có thời hạn thanh tốn trên một năm vì vậy doanh nghiệp

nên dùng để hình thành nên tài sản dài hạn của doanh nghiệp.



8



Trường hợp thứ nhất: khi NVDH > TSDH hay NVNH < TSNH thì phần

NVDH dư thừa sẽ được dung để hình thành TSNH. Trong vòng một năm khi chưa

đến hạn thanh toán phải trả vốn cho các chủ nợ thì các tài sản ngắn hạn này chuyển

đổi được thành tiền. Đây là chính sách sử dụng vốn để hình thành tài sản an tồn

nhưng nhược điểm là doanh nghiệp phải trả mức phí sử dụng cao hơn do dung

nhiều nguồn vốn dài hạn. Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là cổ tức, vốn vay nợ là

lãi vay. Do các chủ sở hữu phải chịu nhiều rủi ro hơn so với các chủ nợ nên chi phí

sử dụng vốn chủ sở hữu thường cao hơn so với chi phí vốn vay nợ. Mà chi phí sử

dụng vốn vay dài hạn lại cao hơn vốn vay nợ ngắn hạn.

Phần nguồn vốn dài hạn dư thừa được gọi là vốn luân chuyển thuần (VLCT)

VLCT= NVDH – TSDH

VLCT= [ VC + Nợ dài hạn] – TSDH > 0

VLCT= [TSNH- NVNH] > 0

Nếu như rơi vào trường hợp này thì khả năng thanh tốn của các nguồn vốn

ngắn hạn đến hạn phải trả là rất cao. Vì vậy muốn cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn thì cần phải duy trì VLCT một cách

hợp lý để thỏa mãn nhu cầu thanh toán các khoản cơng nợ ngắn hạn. Quy mơ VLCT

càng lớn thì khả năng thanh toán của các doanh nghiệp càng cao. Còn nếu quy mơ

VLCT có chiều hướng suy giảm thì doanh nghiệp sẽ mất dần khả năng thanh toán

các NVNH đến hạn phải trả.

Trường hợp thứ hai: khi NVDH < TSDH hay NVNH > TSNH, tức VLCT < 0.

Khi đó doanh nghiệp đã phải sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn dư thừa để bù

đắp cho phần thiếu hụt của NVDH. Trong vòng một năm các tài sản dài hạn được

hình thành bởi NVNH dư thừa chưa được chuyển đổi thành tiền trong khi đến hạn

phải thanh toán cho các chủ nợ. Mặc dù phải gánh chịu mức rủi ro cao nhưng uu

điểm là chi phí sử dụng vốn sẽ thấp do sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn( lãi suất

vay NNH thấp và có nhiều khoản NNH khơng phải trả lãi).

Chính sách này hơi mạo hiểm vì đưa doanh nghiệp vào tình trạng chiu áp lực

về thanh tốn các khoản nợ ngắn hạn. Nếu một trong số các khoản nợ ngắn hạn dư



9



thừa đã sử dụng để hình thành các TSDH bị mất kahr năng thanh tốn có thẻ làm

xuất hiện nguy cơ phá sản. Một số biện pháp doanh nghiệp có thể sử dụng là: thu

hẹp quy mô TSCĐ, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thu hồi đầu tư tài chính dài hạn.

Trường hợp thứ ba: TSDH= NVDH hay NVNH= TSNH, VLCT= 0

Lúc này NVDH vừa đủ để hình thành các TSDH nên khơng phải sử dụng nợ

ngắn hạn để bù đắp. Tuy nhiên mức độ an tồn của chính sách này khơng cao, nguy

cơ xảy ra mất khả năng thanh tốn nợ ngắn hạn ln tiềm ẩn vì VLCT=0.

Vốn chủ sở hữu: là nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp do

chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn ( vốn góp của chủ sở hữu), lợi nhuận

sau thuế chưa phân phối, do tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới. Nguồn vốn

chủ sở hữu là nguồn vốn có tính ổn định cao và quan trọng, thể hiện tính tự chủ của

doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp càng lớn thể hiện tính

độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao.

Quy mơ Vốn trở sở hữu tính bằng tiền là khoản mục V trong bao cáo tài chính

B01-DN

Vốn nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh

doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm và nghĩa vụ phải thanh tốn cho các chủ nợ.

Nợ phải trả phát sinh từ những sự kiện như mua hàng hóa chưa trả tiền, vay nợ, sử

dụng dịch vụ chưa thanh toán, phải trả nhân viên, thuế phải nộp,...Trên báo cáo tài

chính vốn nợ phải trả được trình bày gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.

Quy mơ vốn Nợ phải trả được tính bằng tiền là khoản mục IV trong báo cáo

tài chính B01-DN.

Thơng qua xác định tỷ trọng trong tổng số nguồn vốn, thông kê tiến hành so

sánh quy mô tổng nguồn vốn và từng loại nguồn vốn cuối năm so với đầu năm hoặc

so với số cuối năm của một số năm qua đó có thể đánh giá được xu hướng biến

động của nguồn vốn theo thời gian. Bên cạnh đó kết hợp xem xét tình hình biến

động về cơ cấu vốn để đánh giá tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn và tìm hiểu các

nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của cơ cấu nguồn vốn theo thời gian.



10



1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

a. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế

rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều

hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả cao nhất. Có các phạm trù hiệu quả khác nhau như:

hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất trong qúa trình

kinh doanh. Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một

đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả tối ưu, khả năng sinh lời nhiều

nhất. Có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn.

Một quan điểm phổ biến và khá đầy đủ đó là: hiệu quả sử dụng vốn phản ánh

trình độ lợi dụng nguồn lực vốn để đạt được mục tiêu đã xác định, mà cụ thể nó

biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có

được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng

cao. Quan điểm này xuất phát từ mục đích chính của mọi hoạt động kinh doanh:

thu lợi nhuận. Nói cách khác, hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mặt chất lượng của

các hoạt động kinh doanh. Trong thống kê, hiệu quả sử dụng vốn là một chỉ tiêu

tương đối, biểu hiện quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh và nguồn vốn

kinh doanh của doanh nghiệp hoặc ngược lại. Trong đề tài này chúng ta quan tâm

đến hiệu quả sử dụng vốn với vai trò là một chỉ tiêu thống kê cần phân tích.

b. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Khi tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp

đều phải huy động mọi nguồn lực mà mình có nhằm đạt được mục tiêu lâu dài nhất

của mình là tối đa hóa lợi nhuận dựa trên việc tối ưu hóa các nguồn lực. Một trong

số các cơng cụ hữu hiệu nhất giúp doanh nghiệp đánh giá được mức độ hồn thành

mục tiêu của mình chính là hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng vốn giúp doanh

nghiệp có cái nhìn sâu sắc hơn đối với tình hình hoạt động tài chính của cơng ty,

phân tích và giải quyết các vấn đề liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng đến mục tiêu

hoạt động, từ đó tìm ra hướng giải quyết thích hợp để thực hiện tốt nhất các mục

tiêu đã đề ra.



11



Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn chính là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn

tại của doanh nghiệp, và không chỉ tồn tại một cách “cầm chừng” mà còn phải tồn

tại một cách vững chắc giữa môi trường cạnh tranh ngày một khắc nghiệt hiện nay.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ làm tăng khả năng cạnh tranh, đứng vững

của doanh nghiệp trên thị trường mà còn là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp

thực hiện mục tiêu tối đa hố lợi nhuận của mình.

Khơng chỉ có vai trò quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp khi khẳng định

việc kinh doanh của doanh nghiệp đang đi đến thành cơng hay thất bại, có đạt được

mục tiêu kinh doanh khơng, có bảo tồn được vốn khơng… hay nói cách khác hiệu

quả sử dụng vốn góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp,

không những thế còn là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, nâng cao đời sống vật chất

tinh thần cho cán bộ cơng nhân viên trong doanh nghiệp. Nhìn nhận ở khía cạnh

toàn diện hơn, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp còn có ý nghĩa

quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân khi giúp tận dụng và tiết kiệm được nguồn

lực đất nước. Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, đi nhanh vào công nghiệp

hố, hiện đại hóa phát triển kinh tế với tốc độ nhanh.

c. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Cơng thức tổng qt:

H=

Trong đó Q: kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

V: vốn kinh doanh của doanh nghiệp gồm vốn chủ sở hữu, nợ phải trả,

nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.

-



Hiệu quả sử dụng tổng vốn

Hiệu quả sử dụng tổng vốn được thống kê tính và so sánh hai chỉ tiêu là số



vòng quay tổng vốn và tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng vốn. Cơng

thức tính các chỉ tiêu

 Số vòng quay tổng vốn: Chỉ tiêu này cho chúng ta biết trong năm tổng nguồn vốn của

doanh nghiệp luân chuyển được mấy lần hoặc cho biết doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh

tạo ra trong năm gấp mấy lần tổng vốn bình quân sử dụng vào hoạt động kinh doanh.



12



Cơng thức tính:



= (Đơn vị tính là lần hoặc %)

Tỷ suất lợi nhuận giữa lãi vay và thuế trên tổng vốn (RTV):: Phản ánh mối quan hệ

giữa lợi nhuận và vốn kinh doanh. Các công thức dưới đây tạm kí hiệu chỉ tiêu lợi

nhuận là LN.Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn đưa vào kinh doanh trong kỳ

tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Công thức tính:



(Đơn vị tính là lần hoặc %)

-



Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu



Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu được đánh giá qua hai chỉ tiêu là số vòng quay

vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.

 Số vòng quay vốn chủ sở hữu:

=

Chỉ tiêu có đơn vị tính là lần được tính bằng cách so sánh doanh thu thuần

hoạt động kinh doanh với vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ, đo lường khả

năng hoạt động của vốn chủ sở hữu. Nó cho biết số vốn chủ sở hữu doanh nghiệp sử

dụng vào hoạt động kinh doanh trong năm đã luân chuyển được mấy lần hoặc cho

biết số doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh tạo ra trong năm gấp mấy lần vốn

chủ sở hữu bình quân.

 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:

Chỉ tiêu có đơn vị tính là số lần ( hoặc % hoặc đơn vị tiền tệ), được tính

bằng cách so sánh lợi nhuận sau thuế tạo ra trong năm với vốn chủ sở hữu bình

quân.

ROE = hoặc ROE= x 100 (%)

Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, cho biết cứ một

đơn vị tiền tệ vốn chủ sở hữu sử dụng vào hoạt động kinh doanh tạo ra được mấy

đơn vị tiền tệ lợi nhuận sau thuế trong năm. Nếu chỉ tiêu nhân thêm với 100 thì cho

biết tỷ suất sinh lãi tính trên vốn chủ sở hữu trong năm đạt bao nhiêu phần trăm

hoặc cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu sử dụng vào hoạt động kinh doanh tạo ra

được mấy đồng lợi nhuận sau thuế trong năm.



13



-



Hiệu quả sử dụng vốn nợ phải trả

Hiệu quả sử dụng vốn bợ phải trả của doanh nghiệp được thống kê tính và



so sánh chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn nợ phải trả. Chỉ tiêu

có đơn vị là số lần ( hay % hoặc đơn vị là tiền tệ), được tính bằng cách so sánh giữa

EBIT và vốn nợ phải trả bình quân trong năm

= hoặc = x 100 ( %)

Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời vốn nợ phải trả, cho biết cứ một đơn vị

tiền tệ vốn nợ phải trả dùng vào hoạt động kinh doanh tạo ra được mấy đơn vị tiền

tệ EBIT. Nếu chỉ tiêu nhân thêm với 100 thì cho biết tỷ suất EBIT trên vốn nợ phải

trả trong năm đạt bao nhiêu % hoặc cho biết cứ 100 đồng vốn nợ phải trả dùng vào

kinh doanh tạo ra được mấy đồng EBIT.

Nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn sẽ không đi phân tích hiệu quả sử dụng

của hai loại nguồn vốn này thay vào đó ta sẽ phân tích mức độ an tồn của chính

sách sử dụng nguồn vốn để hình thành tài sản của doanh nghiệp.

1.3. Các phương pháp thống kê phân tích nguồn vốn kinh doanh của doanh

nghiệp

1.3.1. Phương pháp thống kê mô tả

Khái niệm

Thống kê mô tả bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, từ việc tính tốn các

chỉ số biểu thị đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu tới việc phân loại, sắp

xếp số liệu ấy thành các bảng biểu hay vẽ các đồ thị thống kê,…

Bảng biểu thống kê:

Chúng ta sử dụng bảng thống kê để mơ tả, trình bày dữ liệu, kết quả tính

tốn một cách khoa học, hợp lý, giúp thơng tin được phản ánh cụ thể, rõ ràng,

nêu bật được các đặc trưng về mặt lượng của các hiện tượng được phân tích.

Ngồi ra, bằng việc sắp xếp thơng tin một cách khoa học, bảng thống kê sẽ giúp

ta có những phân tích, nhận xét tổng quát, sơ bộ về bộ số liệu, làm cơ sở cho

những phân tích sâu hơn.



14



Ta sử dụng bảng biểu để thống kê số liệu của công ty Dai-ichi như: doanh thu,

lợi nhuận sau thuế, tổng vốn,… cũng như các kết quả về hiệu quả sử dụng vốn tính

tốn được như: hiệu quả sử dụng vốn tính theo doanh thu, tỷ suất lợi nhuận,…

Đồ thị thống kê:

Biểu đồ và đồ thị dùng để mơ tả có tính quy ước các số liệu thống kê. Đồ thị

sử dụng hình vẽ kết hợp con số, màu sắc, đường nét để tóm tắt, trình bày một cách

sinh động trực quan hiện tượng nghiên cứu. Ta sử dụng đồ thị thống kê để biểu hiện

kết cấu của hiện tượng, sự phát triển của chúng qua thời gian, mối liên hệ giữa các

hiện tượng,…Có nhiều loại đồ thị khác nhau như biểu đồ cột, tròn, đường,… tùy

theo mục đích sử dụng và đặc điểm của số liệu mà chọn loại đồ thị thích hợp.

Đồ thị thống kê được sử dụng để biểu thị giá trị bình quân , tốc độ tăng của

tổng nguồn vốn, tốc độ phát triển của các chỉ tiêu thống kê như tổng nguồn vốn,

lợi nhuận trước thuế, tổng doanh thu, tỷ suất lợi nhuậ trên tổng vốn,… của công

ty Dai-ichi

Ứng dụng

Thống kê mô tả được ứng dụng rộng rãi và phổ biến trong tất cả những bài

phân tích, nghiên cứu theo cả hai dạng: đồ thị và bảng biểu. Việc tính tốn các chỉ

số cơ bản như: trung vị, mốt, trung bình,… của mẫu và tổng thể giúp cho việc mô tả

đặc trưng về lượng cũng như về chất của hiện tượng rõ ràng hơn, mô tả được mối

quan hệ mật thiết giữa các số liệu, giúp cho việc phân tích trở nên dễ dàng hơn.

Chúng ta có thể sử dụng nhiều phần mềm khác nhau như Stata, SPSS, Excel để tính

những chỉ số trên, kẻ bảng biểu hay vẽ đồ thị trực quan sinh động rất thuận tiện.

Chúng ta sẽ sử dụng bảng biểu và đồ thị để trình bày các chỉ tiêu về quy mơ và cơ

cấu tổng vốn của công ty Dai-ichi.

1.3.2. Phương pháp phân tích dãy số thời gian

Khái niệm

Xuất phát từ đặc điểm của hiện tượng nếu nó ln biến động theo thời gian,

chúng ta có cơ sở để tiến hành thực hiện phương pháp dãy số thời gian. Phương



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×