Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I. MỞ ĐẦU

PHẦN I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ve giáp rất nhạy cảm với các biến đổi của mơi trường sống vì thế chúng

được sử dụng như những đối tượng nghiên cứu chuẩn cho những điều tra giám

sát biến đổi tài nguyên môi trường, nghiên cứu sinh thái tập tính, phục vụ nghiên

cứu khoa học (theo Vũ Quang Mạnh, 1989, 1990, 2007) [7] [8] [12].

Ve giáp với tầm quan trọng của chúng trong hệ sinh thái tự nhiên cùng với

ý nghĩa thực tiễn đối với con người nên là đối tượng được quan tâm nghiên cứu

từ rất sớm trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam, đây là nhóm còn ít được biết đến.

Khu hệ Ve giáp mới chỉ được nghiên cứu ở một số vùng rải rác của đất nước, các

dẫn liệu còn ít và chưa đồng bộ.

Nằm ở độ cao trung bình trên 1000m so với mặt nước biển với hơn 80

ngọn núi lớn nhỏ, nhiệt độ trung bình mùa hè dao động trong khoảng 16-21°C,

mùa đơng nhiệt độ xuống thấp những năm gần đây có hiện tượng băng tuyết.

Vùng núi Mẫu Sơn được xác định là điểm du lịch nghỉ dưỡng lý tưởng của

vùng Đông Bắc. Vùng núi Mẫu SơnĐây là nơi có địa hình hiểm trở, tổng diện

tích trên 10740ha, trong đó có 5380ha đất lâm nghiệp và 1543ha rừng nguyên

sinh với nhiều loài cây quý hiếm hàng trăm năm tuổi và đa dạng hệ thống thảm

thực vật sinh học cũng như các loài thú, côn trùng quý hiếm đã tạo ra sự đa

dạng sinh học. Khu vực này được đánh giá là nơi có tiềm năng phát triển thành

khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái [51].

Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, từ năm 2002 đến nay, tỉnh

Lạng Sơn đã tập trung đầu tư khai thác tiềm năng du lịch Mẫu Sơn góp phần

thúc đẩy ngành du lịch phát triển, lượng khách du lịch đến với Mẫu Sơn ngày

càng tăng. Điều đó mang lại những ảnh hưởng tích cực cho nền kinh tế- xã hội.

Nhưng bên cạnh đó cũng làm nảy sinh những tiêu cực do môi trường phải

gánh chịu một lượng ô nhiễm từ sự phát triển nhanh chóng về xây dựng các

cơng trình, rác thải , chất thải, chăn thả gia súc tự do, khai thác gỗ, chặt phá

cây rừng,...làm mất đi phần nào sự cân bằng sinh thái môi trường. Đặc biệt,

việc chặt phá rừng làm mất đi nơi trú ngụ của nhiều loài động vật, làm suy

giảm số lượng và sự đa dạng của chúng.



2



Hiện tại, khu hệ Ve giáp ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn còn chưa thấy

có cơng trình nào nghiên cứu, vì thế, với mong muốn bổ sung dẫn liệu và mở

rộng sự hiểu biết đầy đủ hơn về khu hệ Ve giáp Việt Nam, chúng tôi đã chọn đề

tài:

"VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) TRONG CẤU TRÚC NHÓM

CHÂN KHỚP BÉ (MICROARTHROPODA) Ở VÙNG NÚI MẪU SƠN,

TỈNH LẠNG SƠN"

2. Mục đích chọn đề tài

Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố của quần xã Ve giáp (Acari:

Oribatida) trong cấu trúc nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda: Acari,

Oribatida, Collembola) ở vùng núi Mẫu Sơn và bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị

sinh học của chúng ở vùng nghiên cứu.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1. Nghiên cứu cấu trúc nhóm phân loại của quần xã Chân khớp bé

(Microarthropoda: Acari, Oribatida, Collembola) và đa dạng thành phần loài Ve

giáp (Acari: Oribatida) ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

2. Xây dựng bộ ảnh hình thái phân loại các lồi Oribatida xác định được ở

vùng nghiên cứu.

3. Nghiên cứu cấu trúc định lượng quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng,

theo đai khí hậu và bước đầu đánh giá vai trò của chúng như yếu tố sinh học chỉ

thị sự thay đổi khí hậu theo đai cao ở vùng nghiên cứu.

4. Tổng quan tài liệu

4.1. Lược sử nghiên cứu Microathropoda trên thế giới.

Nghiên cứu về Ve giáp trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm. Từ cuối thế

kỷ XIX, chúng đã được các nhà khoa học nghiên cứu về sinh vật quan tâm và tiến

hành tìm hiểu. Khu hệ Ve giáp ln được bổ sung bởi số lượng loài mới, được

phát hiện tăng thêm mỗi năm [12] [18].

Ở Trung Quốc, Wang et al. (2002, 2003) đã thống kê được 580 loài và

phân lồi thuộc 279 giống và có cung cấp thơng tin chi tiết về sự phân bố của mỗi

loài ở các tỉnh của Trung Quốc [50].

3



Đến 2001, khu hệ Ve giáp thế giới đã ghi nhận hơn 1300 giống của 191 họ,

với hơn 10000 lồi. Nhưng theo suy đốn của một số nhà khoa học chuyên

nghiên cứu về Ve giáp, số lượng thực tế của các lồi còn được tìm nhiều hơn thế

(khoảng từ 50000 – 100000 [50].

Thành phần loài Ve giáp không chỉ được bổ sung từ môi trường đất. 15

giống với nhiều lồi chưa được mơ tả, đã được thu thập từ thảm mục ở Oxtraylia

(Walter et al., 1993) [38]. Walter đã ước tính rằng có ít nhất 102 loài Ve giáp sống

trong các tán cây của rừng mưa ở Oxtraylia, vòm lá của một cây cao 10m ở vùng

mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng được gần 400000 Ve bét, mà chủ yếu Ve giáp

(Walter et al., 1995) [39]. Có tới 85 giống thuộc 35 họ Ve giáp đã biết được sống

trên cây. Hầu hết các lồi thuộc nhóm Brachypylina, 2 giống của nhóm

Desmononata và một giống của Mixonomata cũng được thu thập từ các tán cây.

Một vài taxon Ve giáp có nguồn gốc phát sinh sớm cũng có đại diện ở đây

(Norton, 1986; Walter et al., 1993) [35] [38].

Krivolutski et al, 2004 đã thực hiện cơng trình nghiên cứu sự cư trú của Ve

giáp trong lơng các lồi chim ăn thịt, chim cú và đã thu thập được 180 lồi từ bộ

lơng của hơn 2100 cá thể chim thuộc 150 lồi chim với các nhóm sinh thái khác

nhau. Một số lồi Ve giáp thường xun sống trong lơng chim (Krivolutski et al.,

2004) [32].

Nghiên cứu của Karasawa, 2004 cho thấy có một số lồi của một vài giống

(bao gồm Hydrozetes Berlese, 1902) sống trong các sinh cảnh nước ngọt: ao, hồ,

sơng, một số lồi khác sống trong nước mặn: các bãi ven biển, rừng ngập mặn...

(Karasawa, 2004) [29].

Các nghiên cứu về sinh thái - sinh học Ve giáp có thể kể đến: Lindo et al.

(2007), nghiên cứu độ phong phú, độ đa dạng loài và thành phần quần xã Ve

giáp ở dưới mặt đất và trên tán cây của 12 cây thông đỏ ở rừng thông - độc

cần nội địa (British columbia, Canada), các mẫu được thu từ tán lá, từ 3

nhóm địa y khác nhau (địa y dạng lá, địa y dạng sợi và địa y dạng thùy) và

dưới gốc cây. Kết quả cho thấy Ve giáp là nhóm chân khớp ưu thế ở các kiểu

sinh cảnh. Số lượng chân khớp và Ve giáp phong phú nhất ở đất rừng trong

4



mẫu địa y dạng lá so với các sinh cảnh khác (tán cây, địa y dạng sợi, dạng

thùy) (theo Vũ Quang Mạnh, 2013) [47].

S. Karasawa đã nghiên cứu ảnh hưởng của vi sinh cảnh (Microhabitat) và

sự phân cắt địa lý đến quần xã Ve giáp ở rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu (Nhật

Bản), 2004. Ve giáp được thu thập từ lá, vỏ cây (ở 3 độ cao 0-50, 50-100, 100150cm cách mặt đất), mẩu rễ cây, đất nền và từ lồi tảo biển từ 2 hòn đảo cách

nhau 470km. Kết quả cho thấy: thành phần loài quần xã Ve giáp ở vỏ đầu rễ cây

và vở thân cây có sự sai khác với ở lá cây, đất nền và từ tảo biển ở 2 hòn đảo này;

quần xã Ve giáp ở cùng một kiểu sinh cảnh nhưng sống ở các địa điểm khác nhau

có khuynh hướng giống nhau hơn là những quần xã ở các sinh cảnh khác nhau

nhưng cùng một địa điểm. Điều này có nghĩa là cùng một thành phần loài Ve giáp

ở rừng ngập mặn chịu ảnh hưởng của nhân tố vi sinh cảnh (đặc trưng đặc biệt bởi

các cây ngập nước thủy triều) lớn hơn là do bị phân cách về địa lí (Karasawa S.,

2004) [29].

Zaitsev và Wolters, 2006 đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu Ve giáp

theo một lớp cắt ngang Châu Âu, từ Hà Lan đến Matxcova (liên bang Nga) trong

cùng một kiểu sinh cảnh (rừng rụng lá theo mùa) với mục đích đánh giá tác động

của khí hậu lục địa đến cấu trúc và độ đa dạng của quần xã Ve giáp. Kết quả

nghiên cứu cho thấy: khi hậu lục địa có ảnh hưởng rõ ràng đến cấu trúc, chức

năng và độ đa dạng của các quần thể Ve giáp như làm gia tăng độ phong phú (mật

độ trung bình) của các lồi sống trên bề mặt thảm lá, theo chiều từ phía Tây sang

phía Đơng và làm giảm độ phong phú cua các loài sống trong lớp thảm. Mặt

khác, cũng có những dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ dần dần,

dọc theo lát cắt từ Tây sang Đơng. Kiểu đất đóng vai trò điều chỉnh thành phần

loài và độ giàu loài của quần xã Ve giáp. (Zaitsev et al., 2006) [42].

Trong một nghiên cứu khác của Taylor và Wolters, 2005 hai tác giả đã sử

dụng phương pháp túi lưới dựng lá để làm thực nghiệm nghiên cứu tác động của

sự khô hạn kéo dài của mùa hè đến cấu trúc quần xã Ve giáp trong 2 dạng lá (lá

cây sồi – cây lá rộng và lá cây vân sam – cây lá kim) với hai loại chất lượng (lá

tươi và lá trong thời gian ủ ban đầu). Kết quả cho thấy trong cả hai dạng lá, sự

5



khơ hạn có tác động đến sự phát triển của quần xã Ve giáp. Trong thời gian ngắn

của nghiên cứu, quần xã Ve giáp trong lá cây sồi ít nhạy cảm với sự khơ hạn hơn

so với quần xã Ve giáp trong lá vân sam. Sự thay đổi về mật độ và thành phần

loài của Ve giáp được ghi nhận chỉ sau một vụ khô hạn của mùa hè đã cho thấy có

tiềm tàng một khả năng xảy ra sự thay đổi có ý nghĩa về cấu trúc quần xã Ve giáp

ở trong cả hai dạng lá nếu khí hậu thay đổi lâu dài (Taylor et al., 2005) [37].

Minor et al., 2004 đã điều tra ảnh hưởng của một vài loại vật liệu bổ sung

vào đất trồng liễu luân phiên trong thời gian ngắn đến độ phong phú, độ đa dạng

và cấu trúc quần xã quần xã Ve bét sống tự do trong đất (gồm hai nhóm Ve giáp

và Mesostigmata) phản ứng với các chất bổ sung khác với nhóm ăn mùn bã và

nấm (Ve giáp). Phân đạm khơng ảnh hưởng lâu dài đến các nhóm Ve bét. Lớp đất

phủ dẻo màu đen không ảnh hướng đến Mesostigmasa nhưng về lâu dài lại gây

hại cho Ve giáp. Các vật liệu bổ sung vào đất có lợi cho Mesostigmata trong khi

đó, gây bất lợi cho Ve giáp [33].

Chachaj và Seniczak, 2006 nghiên cứu động thái mùa của độ phong phú Ve

giáp ở các đồng cỏ vùng đất thấp và các bãi chăn thả cừu, trâu bò ở một số địa

phương Bắc Ba Lan, kết quả cho thấy: Động vật chăn thả đã làm thay đổi động

thái mùa của mật độ Ve giáp ở bãi chăn thả khi so sánh với đồng cỏ khô, chủ yếu

do độ phong phú của một vài loài Ve giáp. Hầu hết Ve giáp đều nhạy cảm với

động vật chăn thả (Chachaj et al., 2006) [26].

Tìm hiểu về vai trò chỉ thị sinh học của Ve giáp cũng có nhiều cơng trình

nghiên cứu.

Ve giáp chịu ảnh hưởng có chọn lọc đối với thuốc trừ sâu. Chúng tỏ ra

“trơ” hay không nhạy cảm với thuốc trừ sâu. Thí dụ như với chlopyrifos (Stark,

1992), phản ứng dương tính với thuốc trừ dịch hại (Broadbent và Tomlin, 1979)

và phản ứng âm tính với azadirachtin (Stark, 1992) (theo Vương Thị Hòa và nnk,

2005) [2].

Theo Behan-Pelletier (1999), lồi đơng đảo xuất hiện chiếm ưu thế trong

những môi trường sống đặc trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, chúng như

những sinh vật chỉ thị thích hợp [25].

6



Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đơ thị cũng

cho thấy Ve giáp là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất lượng khơng

khí (Weigmann, 1991) [41]. Theo Steiner, ơ nhiễm khơng khí, đặc biệt trong

trường hợp NO2 tăng cao, đã làm suy giảm độ giàu loài của Ve giáp và tạo ra

những quần xã đơn điệu nhiều hơn. Ông cũng lưu ý rằng nhiều loài bị ảnh hưởng

nhiều hơn bởi đặc trưng của vi sinh cảnh (Microhabitat) hơn là bởi mức độ ô

nhiễm và sự thay đổi trong các cấu trúc quần thể [36].

Cấu trúc quần thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của Ve giáp cũng có

phản ứng âm tính với liều cao của một số kim loại nặng trong môi trường đô thị.

Tiềm năng của Ve giáp như một nhóm sinh vật chỉ thị chọn lọc cho sự ơ nhiễm

khơng khí và ơ nhiễm kim loại nặng là rất quan trọng, cần được nghiên cứu rộng

hơn, nhiều hơn, đặc biệt là ở những nơi mà hệ sinh thái nông nghiệp tiếp giáp gần

gũi với khu vực đô thị (Behan-Pelletier, 1999) [25].

Không chỉ giới hạn trong các vấn đề vừa nêu, trên thế giới còn có nhiều

hướng nghiên cứu khác nữa về Ve giáp như: nghiên cứu nguồn gốc phát sinh Ve

giáp; lịch sử hình thành lồi, hướng tiến hóa của Ve giáp; ảnh hưởng của các nhân

tố tự nhiên lên mật độ, thành phần lồi Ve giáp; vài trò của Ve giáp trong sự phân

hủy và chu trình dinh dưỡng; nghiên cứu về quy luật và các yếu tố phát tán Ve

giáp; nghiên cứu về môi trường sống Ve giáp; nghiên cứu về sự đa dạng và phân

bố của Ve giáp trên toàn cầu…

4.2. Lược sử nghiên cứu Microathropoda ở Việt Nam

Động vật Arthropoda đất bao gồm ve bét (Acari), hình nhện (Araneida), bọ

cạp (Scorpionida), rết, cuốn chiếu (Chilopoda & Diplopoda) và nhiều côn trùng

(Insecta) khác. Chúng là thành phần quan trọng, không thể thiếu, tham gia vào

các quá trình sinh học của mơi trường đất. Cấu trúc quần xã động vật đất

Arthropoda và biến đổi của nó, liên quan chặt chẽ đến tính chất của mơi trường.

Nhiều đại diện Arthropoda đất là những thiên địch ăn mồi, cung cấp một số hoạt

chất sinh học quan trọng. Do có vai trò khơng thể thay thế, nên Arthropoda đất

đang được nghiên cứu nhiều trên toàn thế giới.

7



Oribatida là thành phần ưu thế trong quần xã động vật Arthropoda đất về

đa dạng nhóm phân loại và mật độ quần thể. Khu hệ Oribatida của Việt Nam chỉ

mới bắt đầu được nghiên cứu rộng và chuyên sâu từ năm 1967. Có thể khái qt

q trình nghiên cứu khu hệ Oribatida và nhóm Chân khớp (Arthropoda) ở hệ

sinh thái đất Việt Nam, qua 3 giai đoạn chính như sau:

4.2.1. Giai đoạn từ năm 1967 - 1986

Trước năm 1967, nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam chưa được quan tâm

nhiều và hầu như vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu nào về nhóm động vật này.

Đến năm 1967, khu hệ Oribatida bắt đầu được các tác giả nước ngồi quan tâm

nghiên cứu. Cơng trình đầu tiên được công bố là: “New oribatida (Acari,

Oribatei) from Vietnam” của hai tác giả người Hungari là Balogh J. và Mahunka

S. [23]. Qua cơng trình này các tác giả đã giới thiệu về khu hệ, danh pháp và đặc

điểm phân bố của 33 lồi Oribatida, trong đó mơ tả 29 loài và 4 giống mới. Tiếp

theo là nghiên cứu của hai tác giả Tiệp Khắc Rajski và Szudrowicz (theo Ermilov

et al., 2011) [43] [44] [45].

Cũng nhóm tác giả này trong các năm 1979, 1980 đã nghiên cứu về

Acarina và Collembola ở đất canh tác, Savan, đất rừng Buôn Lưới, Konhanưng

(xã Sơn Lang, An Khê, Gia Lai + Kontum), nông trường Biển Hồ (Plêiku Gia Lai

– Kontum), trại giống bông Cheo Reo. Theo kết quả nghiên cứu có sự khác nhau

về sự phân bố của Acarina và Colllembola theo mùa và theo chiều sâu thẳng

đứng. Vào mùa khô Acarina và Collembola phân bố chủ yếu ở tầng đất từ 0 – 20

cm (80%, 75,4% tương ứng của mỗi nhóm trong tổng số lượng). Mùa mưa 2

nhóm động vật này phân bố đồng đều hơn theo chiều sâu thẳng đứng ở độ sâu từ

0 – 40 cm. Thành phần loài Acarina và Collembola có sự sai khác rất nhỏ giữa

mùa mưa và mùa khô: mùa mưa Acarina chiếm 75,5%, Collembola chiếm 25,5%,

mùa khơ các tỉ lệ đó là 75,4% Acarina và 24,6% Collembola (theo Vũ Quang

Mạnh và nnk, 2012 [17].

Cơng trình đầu tiên đánh dấu cho sự phát triển của nghiên cứu trong giai

đoạn này là nghiên cứu về nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau

(Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội) năm 1984 của Vũ Quang Mạnh. Tác giả đã tiến

8



hành nghiên cứu trên bờ sông Nhuệ, ở ruộng luân canh rau xanh xã Mai Dịch (Từ

Liêm, Hà Nội) và ở vườn trồng các loại cây lâu niên và rau xanh ven thị xã Cà

Mau (Minh Hải) [6].

4.2.2. Giai đoạn từ năm 1987 - 2007

Trong giai đoạn này đầu tiên có thể kể đến cơng bố của Mara Jeleva và Vũ

Quang Mạnh năm 1987 về ve giáp bậc thấp ở miền Bắc Việt Nam. Trong cơng

trình này, các tác giả giới thiệu đặc điểm phân bố, danh pháp phân loại học của

những loài ve giáp bậc thấp đã phát hiện được tại thời điểm nghiên cứu ở miền

Bắc Việt Nam (Jeleva M. và Vu Quang Manh, 1987) [46].

Năm 1990, các tác giả Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật đã có nghiên

cứu về cấu trúc định lượng của nhóm chân khớp bé (Microarthropoda: Oribatei,

Acari khác và Collembola) ở 7 kiểu hệ sinh thái, 5 dải độ cao khí hậu và 3 loại

đất vùng đồi núi đông bắc Việt Nam. Các tác giả đã xác định được mật độ chân

khớp bé trong lớp đất mặt 10 cm thay đổi từ 4040 đến 12180 cá thể / 1m 2 ở các

hệ sinh thái, từ 2750 đến 16530 cá thể /1m2 ở các dải độ cao khí hậu và từ 5390

đến 6200 cá thể/1m2 ở các loại đất nghiên cứu. Lớn nhất là sai khác mật độ nhóm

chân khớp bé ở các dải độ cao khí hậu; còn ở các loại đất khác nhau thì sai khác

này hầu như khơng có. Từ hệ sinh thái vườn trồng cây gỗ và cây ngắn ngày

quanh khu dân cư cho đến hệ sinh thái rừng ngun sinh nhóm ve giáp ln

chiếm số lượng lớn, từ 72,1% cho đến 83,7% tổng số lượng nhóm chân khớp bé,

còn nhóm bọ nhảy chỉ dưới 10% tổng số lượng. Chỉ riêng hệ sinh thái nơng

nghiệp điển hình bọ nhảy chiếm đến 32,8% tổng số lượng chân khớp bé. Theo dải

độ cao khí hậu có khuynh hướng tăng số lượng nhóm chân khớp bé ở dải nhiệt

đới có mùa đơng rét, cao 600 – 300m, và giảm chỉ số này ở dải nhiệt đới khơng

có mùa đơng rét, cao 100 – 30 m, còn ở các dải khí hậu còn lại thì số lượng của

chúng giữ vị trí trung bình, so với 2 dải cao trên. Nhóm ve giáp ln có số lượng

lớn trong tổng số chân khớp bé, từ 65,7% đến 81,5%, còn bọ nhảy cũng chỉ

chiếm số lượng ít, từ 2,6% đến 15,1% tổng số lượng chân khớp bé. Nghiên cứu

trên 3 loại đất (đất pheralít mùn vàng nhạt trên núi cao, đất pheralít đỏ nâu trên

nền vơi và đất phù sa ngòi suối), các tác giả cũng chỉ ra rằng số lượng nhóm ve

9



giáp và cả nhóm chân khớp bé không chênh lệch nhiều giữa 3 kiểu đất nghiên

cứu từ 3480 đến 4080 ve giáp và từ 5390 đến 6200 chân khớp bé trên 1m 2 mặt

đất [15]. Như vậy có thể nói đây là một trong các cơng trình nghiên cứu khá đầy

đủ về nhóm Oribatida. Các đặc điểm sinh thái học của nhóm động vật này đã

được lần lượt phân tích dưới tác động của các nhóm nhân tố sinh thái. Đặc biệt

trong nghiên cứu này tác giả đã chú ý đến ảnh hưởng của đai khí hậu đến cấu trúc

quần xã Oribatida, đây là một hướng nghiên cứu mới trong giai đoạn này.

Trong thông báo khoa học của các trường đại học năm 1994, Vũ Quang

Mạnh đã đưa ra dẫn liệu về cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: Oribatei) vùng đảo

Cát Bà ven biển Bắc Việt Nam. Qua nghiên cứu tác giả đã giới thiệu danh sách

các loài ve giáp, sống ở đất vùng ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), đảo Cát Bà

(Hải Phòng) và đồng bằng sơng Hồng (Từ Liêm, Hà Nội). Tác giả đã xác định

được 28 loài ve giáp thuộc 16 họ, 22 giống [9].

Năm 1995, Vũ Quang Mạnh đã cơng bố cơng trình nghiên cứu vai trò

của hệ động vật đất đối với q trình cải tạo đất, góp phần phủ xanh đất trống

đồi trọc [10].

Tổng kết quá trình nghiên cứu về ve giáp ở Việt Nam của bản thân tác giả

và các tác giả có liên quan, năm 1995, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã

cơng bố danh sách đầy đủ các loài ve giáp đất (Acari: Oribatei) ở Việt Nam tại

thời điểm tổng kết. Danh sách này bao gồm 146 loài ve giáp thuộc 87 giống, 44

họ. Tính đa dạng phân loại học của khu hệ ve giáp thể hiện chủ yếu ở các taxon

phân loại bậc giống và họ. Trung bình cứ 1 họ có 2 giống, mỗi giống có chưa đến

2 lồi. Trong 44 họ ve giáp đất ở Việt Nam, thì 56,82% họ chỉ có 1 giống. chỉ

riêng họ Oppiidae có 10 giống còn tất cả các họ còn lại chỉ có 5 giống trở xuống.

Trong 44 họ ve giáp thì số họ có từ 1 – 5 lồi chiếm 86,36%, số họ chỉ có 1 lồi

chiếm 47,73%. Còn các họ có từ 6 loài trở lên chiếm 13,63% tổng số họ [13].

Năm 1997, trong cơng trình nghiên cứu khu hệ Oribatida của vùng núi cao

Phanxipăng, Krivolutsky và cộng sự đã phát hiện ra 7 họ không những là đại diện

đặc trưng của miền Bắc Việt Nam mà còn là đặc trưng của hệ động vật mang tính

Ấn Độ - Mã Lai, với yếu tố khí hậu ơn đới [48].

10



Một trong các hướng nghiên cứu thu hút được rất nhiều sự chú ý của các

chuyên gia chuyên ngành là nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Ve giáp nói

riêng và của nhóm động vật chân khớp bé nói chung. Thuộc vào hướng nghiên

cứu này, có thể kể đến cơng trình nghiên cứu của nhóm tác giả Vũ Quang Mạnh,

Đỗ Huy Trình, Nguyễn Trí Tiến báo cáo tại hội thảo bảo vệ môi trường và sử

dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên năm 2002. Trong cơng trình này các tác giả đã

nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ bón phân lên cấu trúc quần xã động vật chân

khớp bé (Microarthropoda) ở đất canh tác vùng Bắc Giang. Các tác giả đã nghiên

cứu cấu trúc và mật độ các nhóm ve bét chính ở đất canh tác với 7 chế độ bón

phân khác nhau và ở đất đối chứng. Các mẫu đất được thu theo hai tầng thẳng

đứng, tầng 1: sâu trong đất từ 0 – 10cm, tầng 2: sâu trong đất từ 11 – 20cm. Các

nhóm ve bét chính được khảo sát và đối chứng là ve giáp (Oribatei), ve mò mạt

(Gamasina), ve Uropodina và ve bét khác (other Acarina) [19].

Năm 2004, Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Xuân Lâm đã đưa ra kết quả

nghiên cứu quần xã chân khớp bé ở các đai khí hậu của vườn quốc gia Tam Đảo.

Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu ở các đai độ cao 450m, 900m và 1300m. Kết

quả phân tích về mật độ, phân bố và cấu trúc nhóm cho thấy ở đai cao khí hậu

1300, trên 1m2 số lượng nhóm Oribatei, Collembola chiếm 34,46%, 0,8% tổng số

lượng cá thể chân khớp bé còn lại các ve bét khác chiếm số lượng chủ yếu. Ở đai

cao khí hậu 900m, tỉ lệ số lượng cá thể Oribatei, Acarina khác và Collembola lần

lượt là: 39,9%, 23,3%, 23,7%. Tương ứng ở đai cao khí hậu 450m, các tỉ lệ này

tương ứng là: 50,3%, 19,4%, 15,7%. Như vậy tỉ lệ số lượng cá thể nhóm Oribatei

có xu hướng tăng theo chiều giảm độ cao của đai khí hậu. Đặc điểm khác biệt có

ở mật độ quần xã chân khớp bé đạt lớn nhất ở hệ sinh thái rừng của đai cao

900m, thấp hơn và tương đối đồng đều ở đai cao 1300m và 450m, khơng xác

định thấy có sự sai khác đặc biệt trong cấu trúc quần xã chân khớp bé, theo ba đai

cao khí hậu của vườn quốc gia Tam Đảo. Kết quả phân tích về mật độ, phân bố và

tỷ lệ giữa các nhom Oribatei, ve Gamasina và ve Uropodina cho thấy ở đai cao

1300m tỷ lệ số lượng cá thể của Oribatei, Gamasina và Uropodina lần lượt là

39,3%, 4,5% và 8,5%. Ở đai cao 900m, các tỷ lệ này là 63,1%, 19% và 7%. Còn

11



ở đai cao khí hậu 450m, Oribatei chiếm 72,2%, Gamasina chiếm 20,5% và

Uropodina chỉ chiếm 0,1%. Như vậy tương tự như ở các nhóm chân khớp bé, mật

độ quần xã Acarina đạt lớn nhất ở hệ sinh thái rừng của đai cao 900m, thấp hơn

và tương đối đồng đều hơn ở các đai cao 1300m và 450m [14].

Ngồi các cơng trình trên, còn phải kể đến của nhóm tác giả Vương Thị

Hòa, Hồng Ngun Bình, Nguyễn Sỹ Vinh, Vũ Quang Mạnh được công bố

năm 2005, nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Shachong Shuang 200

SL đến cấu trúc và số lượng của động vật chân khớp bé ( Microarthropoda) ở

đất vườn thí nghiệm khoa sinh – KTNN trường ĐHSPHN2 Xuân Hòa, Mê

Linh, Vĩnh Phúc [3].

Năm 2007, trong báo cáo hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài

nguyên sinh vật lần thứ hai, Vũ Quang Mạnh đã trình bày việc áp dụng phương

pháp biểu đồ lưới trong nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật. Tác giả đã trình

bày kết quả phân tích sự hình thành quần xã động vật ve giáp (Acari: Oribatida) ở

miền bắc Việt Nam bằng phương pháp biểu đồ lưới. Cấu trúc quần xã đã được

khảo sát theo 6 kiểu hệ sinh thái khác nhau ở miền Bắc Việt Nam. Qua phân tích

bằng phương pháp biểu đồ lưới ta thấy sự biến đổi của quần xã ve giáp ở các hệ

sinh thái đất ở miền Bắc Việt Nam diễn ra theo trình tự, từ rừng tự nhiên đến các

hệ sinh thái nhân tác, mà trong đó gồm cả rừng nhân tác, cuối cùng là trảng cỏ tự

nhiên và cây bụi. Mẫu phân tích ở mức độ lồi thu được từ các vùng và sinh cảnh

càng đồng nhất càng tốt. Đối với các nhóm động vật đất, có thể thu mẫu theo đặc

điểm tầng thảm phủ thực vật, theo các tán cây rừng , theo các tầng sâu trong đất,

theo mùa trong năm. Các số liệu để so sánh có thể là dẫn liệu định tính của khu

hệ, như danh sách thành phần lồi hay tính chất của các pha phát triển, tuổi sinh

học hoặc các số liệu định lượng cá thể, sinh lượng… Phương pháp biểu đồ lưới

có thể dùng để so sánh từng đôi giá trị chỉ số đồng dạng thành phần loài đồng

thời với nhiều chỉ tiêu khác nhau trong cùng một thời điểm [11].

Một trong những cơng trình tiêu biểu đánh dấu bước phát triển trong giai

đoạn này là Động vật chí của Vũ Quang Mạnh được công bố năm 2007. Trong



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×