Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khi xây dựng hệ thống BTHH, giáo viên cần lựa chọn những bài tập đặt HS

vào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét, suy luận, … thì mới có thể trả lời

chính xác. Cần hạn chế các bài tập không cần suy nghĩ, xem xét ,… chỉ cần thay số

là có thể trả lời được mà khơng hiểu ý nghĩ, bản chất của vấn đề. Vì trong khi suy

nghĩ, cân nhắc để tìm cách giải quyết các yêu cầu của BT, học sinh sẽ bộc lộ những

kiến thức tìm tòi, phát hiện trong q trình tự học của mình.

- Hệ thống bài tập phải phát huy tính sáng tạo của học sinh: Khi xây dựng hệ

thống BTHH theo hướng phát triển NLTH cho HS cần chú trọng những BT ở mức

sáng tạo. Những bài tập ở mức sáng tạo sẽ phát huy được khả năng vận dụng kiến

thức của HS trong những tình huống mới.

Ngồi ra cần chú trọng những bài tập có tính cập nhật, vì những BT đó u

cầu HS phải thường xun cập nhật thơng tin, từ đó rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí

và vận dụng các thơng tin vào trong những điều kiện cụ thể của BT.

2.2. Một số biện pháp sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH

2.2.1. Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi

nghiên cứu kiến thức mới

Kiến thức thức mới được hình thành chủ yếu là sự kế thừa và phát triển kiến

thức mà HS sinh đã học ở bậc Trung học cơ sở hoặc dựa vào các quan niệm được

hình thành từ kinh nghiệm cuộc sống. Để tổ chức, điều khiển q trình nghiên cứu

mới, đồng thời tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, GV có thể sử dụng

hệ bài tập phù hợp với các bước khác nhau của quá trình nghiên cứu kiến thức thức

mới. Cụ thể:

Ở phần mở bài, giáo viên nên chọn những bài tập được trình bày dưới dạng

tình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú, nhu cầu cần phải nghiên cứu, giải

quyết. Yêu cầu của các bài tập ở bước này là phải ngắn gọn, mang yếu tố tình huống

và hướng vào nội dung kiến thức cơ bản của bài.

Có thể sử dụng các biện pháp sau để tạo tình huống có vấn đề.

Lựa chọn những bài tập có nội dung nó chứa đựng mâu thuẫn nhận thức

nhận thức giữa cái đã biết, mâu thuẫn đó phải vừa sức, tạo ra được cho HS hứng thú

nhận thức và niềm tin có thể nhận thức được. Tuỳ theo đối tượng HS và nội dung

từng bài học cụ thể như:



26



Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống bất ngờ. Đó là những sự

kiện, hiện tượng mà ta khơng ngờ nó xảy ra như thế. Nhiệm vụ cần giải quyết là

làm sáng tỏ nguyên nhân khoa học của hiện tượng.

Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống khơng phù hợp. Đó là

những sự kiện, hiện tượng trái ngược với quan niệm thông thường của học sinh.

Nhiệm vụ cần giải quyết là phân tích những chỗ sai trong cách hiểu thơng thường từ

đó tìm ra cách hiểu khoa học, phù hợp.

Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống xung đột. Đó là những

sự kiện, hiện tượng chứa những quan điểm trái ngược nhau. Nhiệm vụ cần giải

quyết là tìm hiểu, phân tích, phê phán những quan điểm sai để tìm ra chân lí. Lựa

chọn các bài tập mà nội dung có tình huống bác bỏ. Đó là những sự kiện, hiện

tượng đẽ dẫn đến những kết luận sai lầm. Nhiệm vụ cần giải quyết là đưa ra những

căn cứ khoa học để những kết luận thiếu khoa học hay kết luận sai lầm.

Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó có tình huống lựa chọn trong nhiều

phương án được đưa ra. Nhiệm vụ cần quyết là lựa chọn một phương án hợp lí

trong điều kiện cụ thể nhất định.

2.2.2. Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi

vận dụng, củng cố

Khi kết thúc bài học, GV có thể sử dụng một số bài tập để học sinh củng cố vận

dụng kiến thức đã học. Để HS nắm vững được kiến thức của bài đồng thời rèn luyện cho

các em các kĩ năng vận dụng cụ thể, GV có thể sử dụng các biện pháp sau:

- Sử dụng các bài tập nhằm giải quyết các tình huống đặt ra ở đầu bài học

- Từ những kiến thức cơ bản của bài, GV dùng các bài tập có tính sáng tạo để

HS vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết. Tuỳ theo đối tượng HS, GV có thể:

+ Hướng dẫn, gợi ý tài liệu cũng như cách giải để HS có thể tự lực vận dụng

kiến thức để giải quyết các yêu cầu của bài tập.

+ Để học sinh tự lực giải quyết các yêu cầu của bài tập.

2.2.3. Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi

tự học ở nhà

Tự học ở nhà là hình thức tự học chủ yếu của người học. So với tự học trên

lớp, tự học ở nhà có thuận lợi về mặt thời gian và nguồn tài liệu tham khảo, nhưng



27



có khó khăn là không được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy. Bài tập ở khâu này

nhằm vào hai mục đích: một là giúp học sinh củng cố hệ thống hoá những kiến thức

đã học đồng thời rèn luyện các kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế; hai là giúp

học sinh chuẩn bị tiếp cận kiến thức của bài học mới.

Để đảm bảo các bài tập hoá học trong khâu tự học ở nhà có hiệu quả, giáo

viên có thể sử dụng các biện pháp sau:

- Đối với các bài tập dùng để củng cố kiến thức, rèn luyện các kĩ năng vận dụng,

GV cần phải lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp giao cho học sinh. Các bài tập này

được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cơ bản đến sáng tạo và đảm bảo các yêu cầu:

+ Vừa phải cả về số lượng và mức độ.

+ Hướng vào các phần kiến thức cơ bản đã học.

+ Bao gồm những bài tập rèn luyện kĩ năng vận dụng cơ bản và những kĩ

năng vận dụng sáng tạo.

+ Cần tăng cường các bài tập có nội dung tổng hợp, yêu cầu học sinh phải

vận dụng kiến thức của nhiều phần khác nhau để giải quyết.

- Hướng dẫn học sinh các tài liệu cần đọc để giải quyết các yêu cầu đặt ra trong

hệ thống bài tập giáo viên giao cho học sinh, chú ý đến các tài liệu dễ tìm, sát với đối

tượng học sinh cũng như chuẩn kiến thức, kĩ năng theo qui định của chương trình.

- Đối với những bài tập khó giáo viên có thể hướng dẫn học sinh biết cách giải,

đối với những: “ lỗ hổng” về kiến thức, GV có thể hướng dẫn. bổ sung cho các em.

- Tổ chức thành các nhóm học tập ở nhà để các em trao đổi thơng tin, giúp

đỡ nhau trong học tập, cử nhóm trưởng phụ trách và chịu trách nhiệm về việc học

tập của nhóm trước GV.

2.2.4. Sử dụng bài tập hố học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi

kiểm tra đánh giá tự học

Kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng trong quá trình tự học của người

học. Ở khâu này, học sinh coi như thực hiện xong các nhiệm vụ do GV giao, người

học cần được kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc tự học của mình. Để việc kiểm tra,

đánh giá có hiệu quả GV cần sử dụng các biện pháp sau đây:

- Xác định và phổ biến với học sinh các tiêu chí đánh giá cụ thể về thái độ,

kiến thức, kĩ năng và năng lực vận dụng tri thức độc lập, sáng tạo.



28



- Phối hợp giữa việc kiểm tra đánh giá của giáo viên với việc tự kiểm tra,

đánh giá của học sinh trong đó chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá của học sinh.

Để giúp HS tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của mình. Cụ thể là:

+ Lựa chọn các bài tập cơ bản, tiêu biểu trong số các bài tập đã giao cho học

sinh, ra cho HS lựa chọn các bài tập cơ bản, tiêu biểu trong số các bài tập đã giao

cho học sinh, ra cho HS và yêu cầu cho HS làm ngay tại lớp hoặc ở nhà sau đó nộp

lại bài cho giáo viên. Nếu có thời gian, GV có thể cho HS hoặc đại diện nhóm HS

trình bày các bài làm trước lớp, cả lớp và giáo viên cùng hoàn thiện các bài giải,

từng cá nhân học sinh tự đánh giá kết quả tự học của mình; nếu khơng có thời gian,

GV có thế nhận xét, hướng dẫn giải các bài tập đã giao cho HS, từng cá nhân học

sinh tự đánh giá kết quả tự học của mình.

+ Hướng dẫn cho HS chọn ở các BT ở các tài liệu tham khảo, những bài tập

cơ bản, tương tự những bài tập giáo viên đã giao cho, tự giải và đối chiếu với kết

quả ở các tài liệu tham khảo hoặc trao đổi với bạn bè, thầy cô và tự đánh giá mức độ

nắm kiến thức của mình qua quá trình tự học. Hình thức này đòi hỏi tính tự giác cao

của người học và người học phải được bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn những bài tập cơ

bản để vừa hướng vào các nội dung cơ bản của chương trình vừa đảm bảo được thời

gian tự học ở nhà của người học. Cụ thể là GV phải định hướng cho HS lựa chọn

bao nhiêu bài tập, những dạng nào, ở tài liệu nào ?

- Hạn chế sử dụng những bài tập có mức độ tái hiện, tăng cường sử dụng các

bài tập ở mức độ sáng tạo để giúp học sinh tự đánh giá được NLTH của bản thân.

- Động viên, khuyến khích HS tự nhận ra những hạn chế, thiếu sót của mình

và tự hồn thiện kiến thức qua q trình tự học của mình.

2.3. Bài tập dùng để rèn một số năng lực trong việc phát triển NLTH cho HS.

2.3.1. Bài tập phát triển năng lực tư duy độc lập

Trong quá trình dạy học cần phải rèn cho học sinh thói quen suy nghĩ độc

lập, từ đó mới có tư duy logic, tư duy hình tượng, rồi mới đến tư duy phê phán. Có

tư duy phê phán mới có tư duy sáng tạo. Như vậy, độc lập là tiền đề cho sáng tạo

trong quá trình tự lực học tập.

Các bài tập phát triển NLTH phải hướng HS vào những suy nghĩ độc lập,

giúp các em tìm tòi, phát hiện ra kiến thức.



29



Ví dụ 1: Khử hoàn toàn 8 gam một oxit kim loại M cần vừa đủ 3,36 lít khí

CO (ở đktc). Muốn hoà tan lượng kim loại thu được cần 200 ml dung dịch HCl 1M.

Tìm cơng thức oxit kim loại.

Hướng dẫn

Để làm được ví dụ này học sinh phải biết cách lập công thức oxit của kim

loại M. Nếu không suy nghĩ kĩ, các em sẽ đặt công thức là M 2On. Vấn đề đặt ra là:

Công thức M2On chỉ phù hợp với các kim loại có hố trị khơng đổi. Vậy với các kim

loại có nhiều mức oxi hố thì cơng thức trên có còn phù hợp hay khơng? Khi đó học

sinh phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Từ đó tìm cơng thức tổng qt phù hợp là

MxOy.

Một trong các phương pháp giải nhanh bài tập này là có thể áp dụng hệ quả

của định luật bảo tồn khối lượng:

nO (của oxit) = nCO = 0,15 mol.

� mM



= 8 – 0,15. 16 = 5,6 (gam)



5,6

� x MM



y 0,15



� MM 



56y

1,5x



� nM



=



5,6

MM



( 1)



Đề bài chưa rõ là hoá trị của kim loại M không đổi hay thay đổi, vậy thì phải

gọi cơng thức của muối clorua kim loại M như thế nào?

Đến đây học sinh phải định hướng bài toán sang 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu hoá trị của M khơng đổi thì

xM + 2yHCl � MCl2y/x + + H2



5,6

MM





0,2



0,2.MM. x = 5,6.2y







MM 



56y

(2)

x



Từ (1) và (2) ta thấy điều này vơ lí � Trường hợp này loại.

Trường hợp 2: Nếu M có hố trị thay đổi

2M + 2mHCl � 2MClm + mH2



5,6

MM



0,2



30



� 0,2. 2 = 2m.



5,6

MM



� MM = 28m



Khi đó chọn m = 2 � MM = 56 là phù hợp � M là Fe

Thay vào:



x

y







5,6

MM







0,15



x







0,1







2



y 0,15 3



Cơng thức oxit là Fe2O3

Ví dụ 2: Hồ tan hết 4,431 gam hh X gồm Al, Mg trong HNO3 loãng, thu được dd A

và 1,586 lít (đktc) hh khí B gồm NO và N2O. Hãy xác định % mỗi kim loại trong hh

X theo 3 cách khác nhau.

Hướng dẫn

Cách 1: + PTPƯ: Al + 4HNO3  Al(NO3)3 + NO + 2H2O



+



(1)



3Mg + 8HNO3  3Mg (NO3)2 + 2NO + 4H2O



(2)



8Al + 30HNO3  8Al(NO3)3 + 3N2O + 15H2O



(3)



4Mg + 10HNO3  4Mg (NO3)2 + N2O + 5H2O



(4)



Gọi a,b là số mol của NO, N2O có :



30a + 44b = 2,59

a+b=



1, 568

= 0,07

22, 4



 a = b = 0.035

+



Gọi x, y, z, t là số mol Al, Mg tham gia PƯ (1), (2), (3), (4) có:

x+



2y 3z

t

+

+

= a + b = 0,07

3

8

4

27(x + z) + 24(y + t)

x+



(*)



= 4,431



(**)



2y

= 0,035

3



(***)



3z

t

+

= 0,035

8

4

+



(****)



Từ (*), (**), (***), (****) có :

(y + t) = 0,161  nMg = 0,0161 mol.

(x + z) = 0,021  nAl = 0,021 mol .



+



Xác định được: %m Mg = 87,2% và %m Al =12,8%.



Cách 2: + Gọi số mol Al, Mg là x, y có:

(a)



Al - 3e  Al3+

x  3x



NO3 - + 3e + 4H+  NO + 2H2O

0,105



0,035



31



(c)



(b)



Mg - 2e  Mg2+



2NO3- + 8e + 10H+  N2O + 5H2O



y  2y

+



Áp dụng PP bảo toàn e có:

+ Bài ra có:





+



0,28



x=



n Al



(d)



0,035

3x + 2y = 0,105 + 0,28 = 0,385 (*)

27x + 24y = 4,431

(**)



= 0,021 mol; y =



n Mg



0,161 mol.



Xác định được: %m Mg = 87,2% và %m Al =12,8%.



Cách 3: + Theo (1), (2), (3), (4) có:



n Al3



1

= 3



3



(trong muối )



=



n NO



(a)



3 n

n Mg2 = 1 n NO3

NO

(trong muối) =

2

2



(b)



n Al3 = 8 n N O



(c)



n Mg2 = 4. n N2 O



(d)



3



+

+



n NO 



2



n



3



Từ (a), (b), (c), (d) ta có: 3 Al + 2

Gọi x, y là số mol của Al, Mg có:

3x + 2y = 0,385

27x + 24y = 4,431  x =



n Mg2



=3



n Al = 0,021 mol;



n NO + 8 n N O

2



y = n Mg = 0,161 mol.



+ Xác định được: %m Mg = 87,2% và %m Al =12,8%.

2.3.2. Bài tập bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

Đây là một trong những năng lực cần thiết phải rèn luyện cho học sinh vì nó

có tác dụng rất lớn kích thích hoạt động tư duy sáng tạo của học sinh. Khi giải quyết

vấn đề đòi hỏi học sinh phải huy động các kiến thức, tài liệu thu thập, xem xét đánh

giá thơng tin một cách chính xác, khoa học qua đó giúp học sinh nắm chắc kiến

thức. Đồng thời hình thành cho HS là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có hứng

thú nhất là trong những vấn đề mới.

Khi xây dựng hệ thống bài tập hoá học, giáo viên cần chọn những bài tập đặt

học sinh vào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét suy luận thì mới có thể trả

lời chính xác. Cần hạn chế những bài tập không cần suy nghĩ xem xét mà vẫn trả lời



32



được trong khi không hiểu ý nghĩa, bản chất hố học. Vì trong khi suy nghĩ, cân

nhắc để tìm cách giải quyết các yêu cầu của bài tập, học sinh sẽ bộc lộ những kiến

thức tìm tòi, phát hiện trong q trình tự học của mình.

Ví dụ 1: Ở 250C, người ta thực hiện một pin gồm 2 nửa sau: Ag nhúng vào dung

dịch AgNO3 0,1M và Zn nhúng vào dung dịch Zn(NO3)2 0,1M.

a) Thiết lập sơ đồ pin.

b) Viết PTHH của các phản ứng tại các điện cực và phản ứng xảy ra khi pin làm

việc. Tính suất điện động của pin.

c) Tính nồng độ các ion khi pin khơng có khả năng phát điện.

Cho E0(Ag+/Ag) = +0,8V; E0(Zn2+/Zn) = - 0,76V

Hướng dẫn

Với bài tập này HS sẽ phát hiện ngay có một số vấn đề cần phải tìm đọc, học

hỏi mới có thể giải quyết được. Giáo viên sẽ là nguồn sẵn sàng cung cấp kiến thức

cần thiết hoặc hướng dẫn để giúp HS đáp ứng yêu cầu giải bài tập.

a)



Cực (-)



b)



Zn



Anot (-)

Catot (+)



Zn(NO3)2 (0,1M )



AgNO3 (0,1M)



Ag



Cực (+)



Zn � Zn2+ + 2e

Ag+ + 1e � Ag



Phản ứng:

Zn + 2Ag+ � Zn 2+ + 2Ag

Epin = Ecatot – Eanot = E (Ag+/Ag) – E (Zn2+/Zn) =

= (0,8 + 0,059lg[Ag+]) – ( - 0,76 +



0,059

lg[Zn2+]) =

2



= +0,741 – (-0,7859) = + 1,53V

c) Khi pin khơng có khả năng phát điện, thì lúc đó Epin = 0

Khi đó phản ứng đạt trạng thái cân bằng:

n. E 0



2.(0,8 0,76)



0,1

2x

0,1-2x



0,1

x

0,1+x



[ Zn 2 ]

Ta có: K cb 

10 0,059 10 0,059 1052,9



[Ag ]

Mặt khác:

Zn + 2Ag+ � Zn 2+ + 2Ag

Ban đầu:

Phản ứng:

Cân bằng:



[ Zn 2 ] 0,1 x



1052,9

Vậy:



[Ag ] 0,1 2x



(M)

(M)

(M)



� 0,1 - 2x �0 � x = 0,05M



[ Zn2+ ] = 0,1 + 0,05 = 0,15M



33



[ Ag+ ] = 1052,9 .[ Zn2+] = 1,4. 10-27M

Ví dụ 2: Dung dịch A là dd HCl và dd B là dd NaOH.

1. Lấy 10 ml dd A pha loãng bằng nước thành 1000 ml thì thu được dung dịch HCl

có pH = 2. Tính nồng độ CM của dd A?

Để trung hồ 100 gam dd B cần 150 ml dd A. Tính C% của dd B.

2. Hoà tan hết 9,96 gam hỗn hợp Al, Fe bằng dd 1,175 lít dd A, thu được dd A1.

Thêm 800 ml dd B vào dd A1, lọc được kết tủa X, rửa sạch và nung ngồi khơng khí

đến khối lượng khơng đổi thu được 13,65 gam chất rắn.

Tính khối lượng của Al, Fe trong hỗn hợp đầu.

Hướng dẫn

1.

Xác định được: CM(A) = 1 M; C%(B) = 6%.

2.

+ Các PTPƯ:

2Al + 6HCl  2AlCl3 + 3H2

(1)

Fe + 2HCl  FeCl2 + H2

(2)

NaOH + HCldư  NaCl + H2O

(3)

2NaOH + FeCl2  Fe(OH)2 + 2NaOH

(4)

3NaOH + AlCl3  Al(OH)3 + 3NaOH

(5)

NaOHdư + Al(OH)3  NaAO2 + 2H2O

(6)

4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O  4Fe(OH)3

(7)

0



(8)



0



(9)



2Fe(OH)3 t  Fe2O3 + 3H2O

2Al(OH)3 t  Al2O3 + 3H2O



Phát hiện vấn đề: Quan sát thấy khi cho dd B (NaOH) vào dd A 1(HCldư, FeCl2,

AlCl3), tạo ra kết tủa X (Fe(OH)2, Al(OH)3), nhưng nếu NaOH dư thì kết tủa X lại

tan vào dd (mấu chốt của bài tốn là NaOH có dư khơng ? Dư bao nhiêu)  xuất

hiện mâu thuẫn:

Kết tủa X (Fe(OH)2, Al(OH)3) tạo ra > < dd B (NaOH) cho vào dd A1.

Giải quyết vấn đề: Phải phân tích tìm cách xác định NaOH có dư khơng ? Tính

NaOH dư bằng cách nào ?

- Xác định được: nNaOH (đầu) = 1,2 mol; nHCl (đầu) = 1,175 mol.

- Theo (1), (2),(3),(4),(5) có:

nNaOH (đầu) = nNaOH (pư) + nNaOH (dư)

nNaOH (pư) = nHCl (đầu) = 1,175 mol.

 nNaOH (dư) = 1,2 -1,175 = 0,025 mol.

Phát hiện vấn đề thứ 2: n Al(OH)3 chưa biết � khơng thể biết được Al(OH)3 có bị

hồ tan hết hay chưa  không xác định được chất rắn sau khi nung gồm chất nào?

� xuất hiện mâu thuẫn:



34



Dữ kiện bài tốn cho (khơng đủ để xác định n Al(OH)3 ) > < Dữ kiện cần xác định (



n Al(OH)3 ).

Giải quyết vấn đề: Biện luận.

Trường hợp 1: nAl < 0,025 mol  chất rắn chỉ có Fe2O3

 xác định được: mFe = 9,555 g ; mAl = 0,405 g.



Trường hợp 2: nAl < 0,025 mol  chất rắn sau khi nung gồm Fe2O3, Al2O3.

 xác định được: mFe = 8,447 g ; mAl = 1,513 g.



Ví dụ 3: Cho một luồng khí CO đi qua ống sứ đựng 0,04 mol hh A gồm FeO và

Fe2O3 đốt nóng. Sau khi kết thúc thí nghiệm, thu được chất rắn B gồm 4 chất, nặng

4,784 gam. Khí đi ra khỏi ống sứ cho hấp thụ vào dd Ba(OH) 2 dư, thu được 9,062

gam kết tủa. Mặt khác hoà tan chất rắn B bằng dd HCl dư, thấy thốt ra 0,6272 lít

H2 (đktc).

a) Tính % khối lượng các oxit trong A.

b) Tính % khối lượng các chất trong B. Biết rằng trong B số mol sắt từ oxit bằng

1/3 tổng số mol sắt (II) và sắt (III) oxit.

Hướng dẫn

a) + Các PTHH:



3Fe2O3 + CO  2Fe3O4 + CO2



(1)



Fe3O4 + CO  3FeO + CO2



(2)



FeO + CO  Fe



(3)



+ CO2



Fe + 2HCl  FeCl2 + H2



(4)



CO2 + Ba(OH)2  BaCO3 + H2O



(5)



Phát hiện vấn đề: Ý 1 của BT có điểm vướng mắc là khơng biết CO có dư hay

khơng? Các oxit bị khử đến mức độ nào ?  chưa xác định được % khối lượng các

oxit trong A  xuất hiện mâu thuẫn:

Dữ kiện bài toán cho > < Dữ kiện cần phải xác định

Giải quyết vấn đề: Phân tích tìm ra cách giải quyết vướng mắc của BT là áp dụng

định luật bảo toàn khối lượng: mA + mCO = mB + m CO2

 mA = 4,784 + 0,046 . 44 – 0,046 . 28 = 5,52

Xác định được mA thì việc xác định % khối lượng của các oxit thật đơn giản:

%FeO = 13,04% ; %Fe2O3 = 86,96%.

b) Xác định được: %Fe = 32,78% ; %Fe2O3 = 20,06% ; %FeO = 18,06%.



35



2.3.3. Bài tập phát triển năng lực tư duy sáng tạo

Cần chú trọng mức độ sáng tạo khi xây dựng hệ thống bài tập để phát triển

NLTH cho học sinh. Những bài tập ở mức độ sáng tạo sẽ phát huy được khả năng

vận dụng kiến thức của HS trong những tình huống mới.

Thực tiễn DH ở trường THPT cho thấy, HS nói chung đều có khả năng tự

học, tự đọc tuỳ theo từng đối tượng, đặc biệt là các học sinh giỏi mơn hố học.

Thơng qua việc tự học, tự đọc, HS sẽ được củng cố, bổ sung, đào sâu, mở rộng và

nâng cao kiến thức. Điều quan trọng hơn là thông qua tự học, tự đọc, HS sẽ thu

nhận được kiến thức bằng cách tự tìm được kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của

giáo viên. Sử dụng BT trong phát triển NLTH là một biện pháp hữu hiệu để kích

thích việc tự đọc, tự học, tự nghiên cứu, tự khám phá tìm tòi của HS.

Học sinh phải biết cách giải bài tập bằng nhiều phương pháp, tìm ra hướng

giải ngắn nhất. Khi đó học sinh phải có năng lực tư duy sáng tạo, tính độc lập suy

nghĩ khi tiến hành giải bài tập. Có thể rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho học

sinh bằng các bài tập có nhiều cách giải, hoặc yêu cầu cách giải ngắn gọn nhất,

nhanh nhất.

Ví dụ 1: Hồ tan m gam hỗn hợp X gồm: Cu, CuS, Cu 2S và S bằng dung dịch

HNO3 dư, thấy thoát ra 13,44 lít khí NO duy nhất (đktc) và dung dịch Y. Thêm

Ba(OH)2 vào dung dịch Y thu được 76 gam kết tủa. Tìm giá trị của m .

Hướng dẫn

Cách 1: Giải thông thường theo phương pháp ghép ẩn

Học sinh hiểu được sâu sắc về bản chất hóa học thì có thể giải ví dụ này như sau:

Gọi x, y, z và t lần lượt là số mol của Cu, CuS, Cu2S và S trong hỗn hợp X.

Các PTHH xảy ra:

3Cu + 8HNO3



��





x



3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O

x



3CuS + 14HNO3

y



��





2

x

3



3Cu(NO3)2 + 8NO + 3H2SO4 + 4H2O

8

y

3



y



S



10

z

3



2z

+



2HNO3



��

� H2SO4 + 2NO



36



(2)



y



3Cu2S + 22HNO3 ��

� 6Cu(NO3)2 + 10NO + 3H2SO4 + 8H2O

z



(1)



(3)



z

(4)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×