Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Phát huy tích cực nhận thức cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động học 8 - 13

III. Phát huy tích cực nhận thức cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động học 8 - 13

Tải bản đầy đủ - 0trang

LỜI MỞ ĐẦU

Trong ngành tâm lý học và các khoa học nhận

thức, tri giác là quá trình thu thập, giải nghĩa, lựa chọn

và tổ chức các thông tin từ giác quan. Các phương

pháp nghiên cứu tri giác trải dài từ các cách tiếp cận

theo hướng sinh học hay sinh lý học, qua các cách tiếp

cận tâm lý học tới triết học tinh thần và trong nhận

thức luận kinh nghiệm chủ nghĩa, chẳng hạn của David

Hume, John Locke, George Berkeley, hay như trong

khẳng định của Merleau Ponty rằng tri giác là cơ sở

của khoa học và tri thức. Tri giác có tính phụ thuộc và

biến đổi. Nó khơng đồng nhất về một thể. Nó ảnh

hưởng đến phân tích, kết luận của con người đưa ra

thơng tin có thể sai hoặc đúng, nó khơng trong một

phạm trù cơ bản hay quy định tổng thể. Các giác quan

cảm nhận mà tạo thành nó phụ thuộc vào cách bạn cảm

nhận .

Lịch sử ghi nhận rất nhiều những tình huống kì lạ

tương tự so với góc nhìn bình thường – những người

lính mù có thể né được những viên đạn bay tới, những

bệnh nhân có thể thấy được ánh sáng mà không cần

dùng mắt, và những người có thể định vị các chướng

ngại vật bằng cách dùng âm thanh. Suốt bao thế kỉ qua,

những câu chuyện như thế gợi ra sự tò mò mà khơng

có lời giải thích nào, được coi như là có tài dùng phép

hoặc là những tình huống dị biệt về thần kinh – những

3



ngoại lệ đối với các qui luật cơ bản của tri giác. Vì thế

mà các nhà thần kinh học mới bắt đầu nghi vấn rằng

chúng ta có thể có một số cơ chế vận hành nào đó vốn

là nguyên do tạo ra những hoàn cảnh dị biệt như vậy.

Từ những nghi vấn, người ta nghiên cứu và cho ta

biết tri giác là công việc của từng giác quan riêng biệt.

Và vị triết gia Hi-lạp Aristotle là người đầu tiên phân

loại ra bộ năm giác quan nổi tiếng: thị giác, thính giác,

vị giác, khứu giác, và xúc giác. Trong q trình tiến

hố của các giác quan thì lúc đầu dường như khơng có

sự thay đổi nhưng sau đó đã có sự tiến hố và dần dần

có sự chuyển hố thành các chức năng. Mỗi giác quan

đã được phát triển theo hướng chun mơn hố, để tiếp

nhận các loại kích thích phù hợp. Nhờ đó mà sự phản

ánh được chính xác hơn, đem lại hiệu quả cao hơn.

Do kiến thức của sinh viên còn những hạn chế

nhất định nên bài tiểu luận của em khơng tránh khỏi

những thiếu sót. Em rất mong nhận được những nhận

xét quý báu của quý thầy, cô giáo để kiến thức và kĩ

năng của em được hoàn thiện hơn.



NỘI DUNG



I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

1. Khái niệm

Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách

trọn vẹn các thuộc tính cơ bề ngồi của sự vật, hiện



4



tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan

ta.

2. Đặc điểm

Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn

vẹn: tính trọn vẹn của sự vật hiện tượng là do tính trọn

vẹn khách quan của bản thân sự vật hiện tượng quy

định.

Tri giác phản ảnh sự vật hiện tượng theo những

cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải tổng số các

cảm giác mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các

cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành

phần của cấu trúc ấy ở một khoảng thời gian nào đó.

Sự phản ánh này khơng phải đã có từ trước mà nó diễn

ra trong q trình tri giác.

Tri giác là q trình tích cực gắn liền với hoạt

động của con người. Tri giác mang tính tự giac giải

quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó là một

hành động tích cực trong đó có sự kết hợp chặt chẽ của

các yếu tố của cảm giác vận động.

3. Phân loại

a) Phân loại theo cơ quan phân tích nào giữ vai trò

chính trong số các cơ quan tham gia vào q trình tri

giác ta có: tri giác nhìn, tri giác nghe, tri giác sờ mó



b) Phân loại theo đối tượng phản ánh

Tri giác khơng gian: là tri giác về hình dáng, độ

lớn, vị trí, độ xa và phương hướng của các sự vật đang

5



tồn tại trong không gian, tri giác này giữ vai trò quan

trọng trong sự tác động qua lại của con người với mơi

trường xung quanh, nó là điều kiện để con người định

hướng trong môi trường.

Tri giác thời gian: Lọai tri giác này cho biết độ

dài lâu, tốc độ, nhịp điệu và tính liên tục khách quan

của các hiện tượng trong hiện thực . Nhờ tri giác thời

gian mà những biến đổi xẩy ra trong thế giới chung

quanh được phản ánh.

Tri giác vận động: là sự phản ánh những thay đổi

về vị trí các sự vật trong khơng gian, lọai này cho ta

biết phương hướng, tốc độ, thời gian chuyển động của

đối tượng tri giác.

Tri giác con người (tri giác xã hội): Là quá trình

nhận thức lẫn nhau của con người trong điều kiện giao

lưu trực tiếp. Đây là lọai tri giác đặc biệt vì đối tượng

tri giác cũng là con người. Quá trình này bao gồm tất

cả các mức độ của sự phản ánh tâm lý từ cảm giác cho

đến tư duy.

4. Vai trò

Tri giác là thành phần chính trong nhận thức cảm

tính, là điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi

và hoạt động của con người trong thế giới khách quan.

Dựa vào các hình ảnh của tri giác, con người điều

chỉnh hoạt động của mình cho thích hợp với sự vật

hiện tượng khách quan. Quan sát - hình thức cao nhất

của tri giác đã trở thành một bộ phận không thể thiếu

6



của hoạt động và là một phương pháp nghiên cứu khoa

học.

5. Quy luật

a) Quy luật về tính đối tượng của tri giác

Tri giác bao giờ cũng có đối tượng là các sự vật

trong hiện thực khách quan. Tri giác phản ánh các sự

vật hiện tượng trong hiện thực khách quan khơng phải

dưới hình thức tập hợp đơn thuần các cảm giác lẫn lộn

về mọi sự vật hiện tượng, mà nó phản ánh một cách

trọn vẹn, cụ thể sự vật hiện tượng độc lập với sự vật

hiện tượng khác.



b) Quy luật về tính ổn định của tri giác

Tính ổn định của tri giác chính là khả năng tri giác

sự vật hiện tượng một cách không thay đổi trong những

điều kiện luôn biến đổi.Con người có đươc tính ổn

định trong tri giác chủ yếu là do kinh nghiệm.

c) Quy luật về tính lựa chọn của tri giác

Bất kì đối tượng nào khi tác động vào các cơ quan

cảm giác của chúng ta cũng đều nằm trong một bối

cảnh nào đó, tri giác sẽ tách đối tượng đó ra khỏi các

sự vật xung quanh để phản ánh chính bản thân đối

tượng.

d) Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

Hình ảnh tri giác bao giờ cũng có một ý nghĩa nào

đó, được gắn với một tên gọi nhất định. Điều này có

được do sự gắn bó chặt chẽ của tri giác với tư duy các

7



cảm giác khi được tổ hợp lại thành một hình ảnh trọn

vẹn, sẽ được đem so sánh đối chiếu với các biểu tượng

của sự vật, hiện tượng đã được lưu giữ trong trí nhớ và

được xếp vào một nhóm, một lớp hay một loại hiện

tượng nhất định.

e) Quy luật tổng giác

Trong khi tri giác thế giới, con người không chỉ

phản ánh thế giới bằng những giác quan cụ thể mà toàn

bộ những đặc điểm nhân cách, đặc điểm tâm lí của con

người cũng tham gia tích cực vào q trình tri giác, làm

cho khả năng tri giác của con người sâu sắc và chính

xác hơn

g) Ảo giác

Là sự phản ánh khơng chính xác về sự vật, hiện

tượng. Trong thực tế hay gặp các ảo giác quang học và

ảo giác hình học.

6. Những sai lầm có thể của tri giác

Sai lầm do hiện tượng vật lí tạo nên: ánh sáng

phản chiếu hay khúc xạ có thể gây ra hiện tượng tri

giác sai lầm .

Sai lầm do các giác quan tạo nên: các giác quan

của con người có thể bị đánh lừa trong những điều

kiện nhất định do dó tri giác có thể sai trong trường

hợp này.

Sai lầm do đại não gây nên: sai lầm này có thể

chia thành nhiều loại: do nhu cầu gây nên, do tình cảm

gây nên, do khơng chú ý mà gây nên

7. Những yếu tố ảnh hưởng đến tri giác

8



Kinh nghiệm trong quá khứ : tri giác của con

người chịu ảnh hưởng của quá khứ rất mạnh. Con

người nhận biết đối tượng một phần do thói quen và

những điều đã biết trong hoạt động và cuộc sống này.

Nhu cầu hiện tại: nhu cầu đã hướng dẫn tri giác

của con người về cái họ cần. Thông thường một nhu

cầu khó đạt, con người hay gán cho nó giá trị lớn. Một

khi nhu cầu đã thỏa mãn, tri giác của con người về đối

tượng sẽ trở nên khách quan hơn.

Tình cảm hiện tại: tình cảm ảnh hưởng mạnh mẽ

đến tri giác nhất là ở tuổi nhỏ khi những hiểu biết chưa

được kiện toàn. Tâm trạng của con người sẽ chi phối rõ

ràng đến hình ảnh đang tri giác.

II. CÁC GIÁC QUAN VÀ VAI TRỊ CỦA NĨ

Mỗi giác quan có một vai trò nhất định nhưng

chúng đều được cấu tạo nên từ 3 bộ phận:bộ phận nhận

cảm, bộ phận dẫn truyền, bộ phận trung ương

1. Cơ quan xúc giác (cơ quan khơng chun trách)

Là hệ thống cảm giác khơng có cơ quan chuyên

trách, các tế bào xúc giác nằm rải rác ở trên bề mặt da.

Xúc giác là cơ quan đầu tiên chúng ta có được và

cũng là cơ quan cuối

cùng tồn tại khi chúng ta mất đi.

Tiếp nhận thông tin bằng: cảm giác cơ học, cảm

giác nhiệt độ, cảm giác xúc giác tinh vi có ý thức,

cảm giác nội tạng, cảm giác bản thể.Các cảm giác xúc

giác mang tính chủ thể, nó có tác động giúp cho cơ thể

thích ứng với các hoạt động ở trong mỗi một thời điểm,

nó giống như một “ăng ten” để tiếp nhận sóng.

9



2. Hệ thống cảm giác có cơ quan chuyên trách.

a) Cơ quan thị giác

90 % thơng tin từ bên ngồi vào con người là

thơng qua thị giác, thị giác tiếp nhận kích thích ánh

sáng từ các sự vật hiện tượng, nó giống như một “máy

ảnh”. Cơ quan thị giác đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

b) Cơ quan khứu giác

Chuyên tiếp nhận các kích thích về mùi do các tế

bào cảm giác nằm ở màng nhày của khoang mũi truyền

đến cho chúng ta thông tin về trạng thái của sự vật hiện

tượng xung quanh, từ đó ảnh hưởng đến thái độ tình

cảm của mỗi người và quy định nên những hành động

của con người đối với đối sự vật hiện tượng đó.

c) Cơ quan vị giác

Trên bề mặt lưỡi có nhiều trồi vị giác để tiếp

nhận các kích thích vị: ngọt, chua, mặn, đắng. Vị giác

giúp chúng ta nhận thức vị của thức ăn, có nghĩa là

giúp chúng ta hiểu biết hơn về đối tượng.

d) Cơ quan thính giác

Là cơ quan cảm giác chuyên nhận các kích thích

của âm thanh. Cơ chế diễn ra của nó là sự tiếp nhận và

truyền âm.

 Tóm lại, các giác quan được ví như “ăng ten” để thu

nhận các thơng tin từ thế giới bên ngồi, các giác quan

này là khởi điểm, là bước đầu của quá trình nhận thức

của con người. Hoạt động chủ đạo của con người và

hoạt động nghề nghiệp về thực chất nó là một q trình

nhận thức, vì thế khơng thể thiếu đi vai trò của các giác

quan. Muốn vậy, phải bảo vệ các giác quan và phát huy

10



cao độ vai trò của nó, huy động tất cả các giác quan

tham gia vào quá trình nhận thức nhằm nâng cao hiệu

quả của q trình nhận thức.

III. PHÁT HUY TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO

TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC

ĐỊNH HƯỚNG TRONG KHƠNG GIAN



1. Xây dựng mơi trường



Mơi trường cho trẻ hoạt động là nơi có nguồn

thơng tin phong phú, khuyến khích tính độc lập và khả

năng hoạt động tích cực ở trẻ.Tuy nhiên, môi trường

hoạt động của trẻ không đồng nhất với môi trường giáo

dục. Yếu tố cốt lõi trong môi trường hoạt động là

những giá trị, kinh nghiệm chuẩn mực cần chọn lọc mà

trẻ cần chiếm lĩnh như tri thức, kĩ năng, chuẩn mực

hành vi đạo đức…chứa đựng tiềm năng trở thành động

cơ bên trong của trẻ. Chỉ có những giá trị nào thích hợp

với đặc trưng của trẻ mầm non mới trở thành đối tượng

hoạt động của trẻ.Trong mơi trường giáo dục lại có

nhiều mơi trường hoạt động khác nhau.Ở mơi trường

hoạt động thì vai trò chủ thể tích cực của trẻ và vai trò

hướng dẫn của cơ giữ vai trò quan trọng.

Việc tổ chức tốt mơi trường hoạt động mang tính

phát triển cho trẻ có ý nghĩa vơ cùng to lớn:

-



Nó giúp trẻ tìm tòi, khám phá và phát hiện nhiều



điều mới lạ, hấp dẫn trong cuộc sống. Các kiến thức, kĩ

năng của trẻ được củng cố và bổ sung.

11



-



Trẻ được tự lực chọn hoạt động: cá nhân hoặc



theo nhóm.

-



Tạo cơ hội để trẻ bộc lộ khả năng của mình.



-



Hơn thế, mơi trường phù hợp, đa dạng sẽ gây



hứng thú cho cả cơ và trẻ; góp phần hình thành và nâng

cao mối quan hệ thân thiện, tự tin giữa giáo viên với trẻ

và giữa trẻ với nhau.

Để tổ chức môi trường ĐHTKG cho trẻ, phải đáp

ứng các u cầu như an tồn và vệ sinh, khơng gây

nguy hiểm cho trẻ. Ví dụ đồ dùng, đồ chơi trong lớp

cũng như các thiết bị ngồi trời khơng sắc nhọn, nếu bị

gãy hỏng phải được sửa, bổ sung ngay…

2. Môi trường vật chất



Trong môi trường vật chất giáo viên cần chú ý

đến hai vấn đề: lựa chọn đồ dùng đồ chơi và bố trí, sắp

xếp chúng.

Khi lựa chọn vật liệu, đồ dùng đồ chơi cho các hoạt

động của trẻ cần chú ý:

-



Đồ dùng đồ chơi phải mang tính mở, tức là có thể



sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.

-



Sắp xếp đồ dùng đồ chơi để tạo cơ hội cho trẻ



được giao tiếp, hợp tác với nhau trong quá trình hoạt

động.



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Phát huy tích cực nhận thức cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động học 8 - 13

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×