Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Để tăng cường dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và phát triển kinh tế -xã hội thì công tác dạy nghề không chỉ dừng lại ở khâu cấp văn bằng, chứng chỉ nghề mà cần có các hoạt động hỗ trợ lao động sau học nghề thông qua các cơ chế, chính sách ưu

Để tăng cường dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và phát triển kinh tế -xã hội thì công tác dạy nghề không chỉ dừng lại ở khâu cấp văn bằng, chứng chỉ nghề mà cần có các hoạt động hỗ trợ lao động sau học nghề thông qua các cơ chế, chính sách ưu

Tải bản đầy đủ - 0trang

đem lại hiệu quả.

* Tổ chức thực hiện

Phát triển mạng lưới dịch vụ công về tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao

động sau đào tạo. Nội dung này nên giao các đồn thể chính trị-xã hội với chức năng

làm cơng tác vận động quần chúng, sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi đảm nhiệm thực

hiện tốt.

Tăng cường công tác tư vấn, đào tạo cho các lao động có điều kiện, khả năng

thành lập các doanh nghiệp, tổ hợp sản xuất, các hợp tác xã những kiến thức cơ bản về

luật doanh nghiệp, các văn bản pháp lý liên quan; hỗ trợ cho người lao động trong quá

trình đăng ký, khởi sự, thành lập doanh nghiệp.

Ngoài ra, chú trọng đào tạo cho cả chủ sử dụng lao động do đối tượng này có

vai trò quan trọng đối với khởi lập và phát triển hệ thống cơ sở sản xuất kinh doanh và

thu hút lao động. Do đó, cần thiết có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực

kinh doanh và điều hành của đội ngũ này.

3.1.3.3. Tăng cường đầu tư tài chính, hồn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị

phục vụ công tác dạy nghề cho lao động nông thôn

* Mục tiêu

Tăng cường đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị nhất là trang thiết bị

phục vụ thực hành cho học viên. Đồng thời, bố trí các điểm dạy nghề đủ khơng gian,

đảm bảo điều kiện dạy nghề tại chỗ cho lao động nông thôn. Huy động các nguồn lực

từ công tác xã hội hoá và sự vào cuộc của các doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề

cho lao động nông thôn.

* Tổ chức thực hiện

Uỷ ban nhân dân huyện tạo điều kiện về đất đai để mở rộng, xây dựng trường

dạy nghề mới, tăng cường đầu tư cải tạo trường lớp, nhà xưởng thực hành, hoàn thiện

cơ sở vật chất Trung tâm KT-TH-HN-DN. Khảo sát các cơ sở đào tạo, so sánh với

chuẩn trường, chuẩn trung tâm đã được ban hành.



107



Đối với việc liên kết dạy nghề ngắn hạn tại địa phương giữa các đồn thể chính

trị-xã hội với các Trung tâm dạy nghề của tỉnh cần phải lựa chọn địa điểm đảm bảo cơ

sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học nhất là điều kiện thực hành cho học viên.

Các phòng, ban chức năng tăng cường xuống cơ sở đặt địa điểm đào tạo nghề để giám

sát, kiểm tra nếu phát hiện không đảm bảo điều kiện quy định thì đình chỉ lớp học và

hoạt động của đơn vị dạy nghề.

Cùng với việc mở rộng hình thức dạy nghề theo địa chỉ, đơn đặt hàng thì cần

khuyến khích phát triển mơ hình liên kết đào tạo giữa các đơn vị dạy nghề với các

doanh nghiệp thông qua việc tổ chức cho lao động học nghề được tới thực hành trực

tiếp tại các doanh nghiệp để tận dụng cơ sở vật chất và tạo điều kiện cho lao động học

nghề tiếp cận, cọ sát với môi trường sản xuất của doanh nghiệp.

Các cơ sở dạy nghề cần có sự tự chủ về tài chính để tự đầu tư, tự nâng cao chất

lượng và quy mô đào tạo nghề. Các trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề cần phải được

trang bị, nâng cấp để đạt tiêu chuẩn quy định. Việc tăng cường liên kết đào tạo, liên

thông các trường cũng là xu hướng chung vì khi các ttrường liên kết, liên thơng có thể

tận dụng hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và tạo cơ hội cho học

viên được học lên bậc học cao hơn.

Khuyến khích việc đầu tư mua sắm trang thiết bị, máy móc thực hành từ nguồn

xã hội hố.



108



KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận



1.1. Dạy nghề cho người lao động trong xây dựng nông thôn mới là hoạt động có mục đích,

có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho

người lao động ở khu vực nơng thơn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động để họ có

thể thực hiện thành cơng nghề đã được đào tạo, góp phần vào q trình xây dựng nơng

thơn mới trên địa bàn.

1.2. Nhu cầu về dạy nghề của lao động nông thôn Thanh Miện là rất lớn. Tuy nhiên, số

lượng lao động nông thôn qua đào tạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

Nguyên nhân chủ yếu là do: (1) công tác dạy nghề của huyện còn thiếu tính quy hoạch,

kế hoạch, phát triển tự phát; (2) dạy nghề còn mang tính phong trào, thậm chí là để giải

ngân mà chưa chú ý đến nhu cầu thực sự của người lao động và nhu cầu thị trường lao

động; (3) năng lực dạy nghề của Trung tâm KT-TN-HN-DN huyện và các Trung tâm,

trường đào tạo nghề của tỉnh liên kết với địa phương dạy nghề tại chỗ cho lao động

nơng thơn còn hạn chế; (4) Cơng tác tổ chức quản lý dạy nghề thiếu sự giám sát chặt

chẽ từ khâu tuyển sinh, giáo trình, chất lượng giáo viên, thời gian giảng dạy, kiểm tra,

đánh giá chất lượng đến việc bằng, chứng chỉ nghề nhất là những nghề ngắn hạn.

1.3. Thực trạng dạy nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trên

địa bàn 4 xã nghiên cứu

Thuận lợi: Qua quá trình điều tra, thu thập và xử lý số liệu trên 4 xã: Tân Trào,

Lê Hồng, Cao Thắng, Thanh Giang đã tổng kết thực trạng cơng tác dạy nghề có được

nhiều mặt tích cực như sau: (1) Cơ cấu dân số trẻ, nguồn lao động nông thôn dồi dào,

hàng năm được bổ sung lực lượng lao động khá lớn; (2) Công tác dạy nghề ở từng địa

phương đã và đang được các cấp chính quyền quan tâm, hỗ trợ lớn.



109



Khó khăn: (1) Công tác đào tạo nghề chủ yếu là đào tạo tại chỗ (ở thôn, xã)

với cơ sở vật chất không đảm bảo, phương tiện thực hành yếu kém, thời gian học

khơng đủ theo quy định, nhiều giáo viên khơng có bằng cấp, thiếu nghiệp vụ sư phạm;

(2) lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao cho thấy rằng chất lượng đào tạo tại địa

phương vẫn còn hạn chế; (3) Tỷ lệ lao động sau đào tạo có việc làm ổn định đúng với

nghề đã học chiếm tỷ lệ thấp, có thể khẳng định việc thực hiện chuỗi liên kết giữa đào

tạo và bố trị việc làm sau đào tạo chưa tốt.

1.4.



Thực trạng dạy nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trên

địa bàn huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương

Thuận lợi: (1) Số lượng lao động nông thôn được học nghề và tỉ lệ lao động

nông thôn qua đào tạo tăng khá nhanh qua các năm, góp phần chuyển dịch lao động từ

ngành nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, giải quyết việc làm cho người lao

động; (2) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy nghề của Trung tâm Kỹ thuật THHN-DN được đầu tư và từng bước hồn thiện, dần đáp ứng tốt hơn cơng tác đào tạo

nghề cho người lao động; (3) Năng suất lao động, thu nhập của số đông người lao động

sau học nghề tăng, góp phần từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của đại bộ phận

lao động nông thôn.

Khó khăn: (1) Công tác khảo sát, nắm bắt nhu cầu thị trường lao động, nhu cầu

học nghề thực sự của lao động nơng thơn còn hạn chế nhất là việc khảo sát, phân

luồng, định hướng nghề nghiệp cho lao động trẻ còn hạn chế; (2) Cơng tác dạy nghề

chỉ quan tới số lượng mà chưa quan tâm tới chất lượng, nhu cầu thực sự của người học

nghề và thị trường lao động, chưa có sự liên kết giữa các đơn vị dạy nghề, cơ quan, tổ

chức tham gia dạy nghề với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sử dụng lao động; (3)

Ngành nghề đào tạo chưa đa dạng, cơ cấu đào đạo nghề chưa hợp lý.



1.5. Từ nghiên cứu kết quả thực trạng trên địa bàn 4 xã đã thấy được cả những mặt tích cực

và hạn chế của cơng tác dạy nghề trùng khớp với giả thuyết đã đặt ra, tác giả đã đề xuất

3 giải pháp lớn nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những tồn tại góp



110



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Để tăng cường dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và phát triển kinh tế -xã hội thì công tác dạy nghề không chỉ dừng lại ở khâu cấp văn bằng, chứng chỉ nghề mà cần có các hoạt động hỗ trợ lao động sau học nghề thông qua các cơ chế, chính sách ưu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×