Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trên cơ sở dự báo nhu cầu lao động qua công tác dạy nghề của huyện; tổng hợp, phân tích, phân loại đối tượng lao động, nhu cầu đào tạo từng nghề, loại hình đào tạo, thời gian đào tạo,...Từ đó, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề như: chuẩn cơ sở vật chất, tài

Trên cơ sở dự báo nhu cầu lao động qua công tác dạy nghề của huyện; tổng hợp, phân tích, phân loại đối tượng lao động, nhu cầu đào tạo từng nghề, loại hình đào tạo, thời gian đào tạo,...Từ đó, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề như: chuẩn cơ sở vật chất, tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

phí cho lao động nơng thơn.

Tổ chức dạy và học: Tiếp tục phát triển mơ hình dạy nghề tại chỗ cho lao động

nông thôn nhất là dạy nghề ngắn hạn. Đối với dạy nghề ở trình độ Cao đẳng, Trung cấp

cần tăng cường liên kết đào tạo nghề tại huyện nhằm tạo điều kiện cho lao động nơng

thơn đã có gia đình học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp. Tuy nhiên, cần có sự kiểm

tra, giám sát chặt chẽ năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề, cơ sở vật chất tại chỗ

phục vụ dạy nghề và điều kiện thực hành cho học viên.

Thực hiện phương châm “dạy nghề mà người lao động và thị trường lao động

cần, không đào tạo những nghề mà cơ sở dạy nghề có”. Cắt giảm số lượng đào tạo đối

với những ngành nghề gần đây đào tạo nhiều nhưng không hiệu quả như: thêu tranh

treo tường, đan móc sợi, mây giang xiên,... Tăng cường đào tạo các ngành nghề mới ở

nông thôn, phát huy tiềm năng sinh học và lợi thế so sánh của địa phương như: nuôi ba

ba, ếch, lươn, giun đất, ni dế, nhím,...có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Cơ chế, chính sách dạy nghề: Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng

cao năng lực đào tạo của Trung tâm KT – TH – HN - DN. Ngoài ra, tạo điều kiện về

đất đai, cơ sở vật chất, tín dụng,...nhằm khuyến khích các trường dạy nghề, các trung

tâm đào tạo liên kết hoặc thành lập các đơn vị dạy nghề trên địa bàn huyện. Khuyến

khích các doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục dạy nghề; doanh nghiệp thuộc các ngành

kinh tế trực tiếp đào tạo nghề cho người lao động.

Đẩy mạnh mơ hình hợp tác công - tư: Một là, đơn vị dạy nghề tuyển sinh, đào

tạo lý thuyết; doanh nghiệp bố trí cơ sở vật chất, trang thiết bị, phối hợp hướng dẫn

thực hành. Hai là, đơn vị đào tạo lo đầu vào, số lượng, chất lượng đào tạo; doanh

nghiệp tổ chức sát hạch, tuyển dụng bố trí việc làm đầu ra cho lao động. Dạy nghề theo

mơ hình này khơng nhất thiết phải đào tạo hết thời gian, hết nội dung, chương trình

theo quy định mà có thể chỉ cần đào tạo một khâu, một cơng đoạn trong quy trình sản



102



xuất, kiểm tra sản phẩm thì người lao động đã được tuyển dụng tham gia vào day

chuyền sản xuất, lắp ráp. Như vậy, sẽ giảm thời gian học nghề, giảm chi chí dạy nghề.

Đối với cơ sở dạy nghề: Triển khai thí điểm mơ hình cấp thẻ học nghề cho nơng

dân, để họ chủ động hơn trong việc lựa chọn cơ sở dạy nghề, trao quyền tự chủ cho lao

động trong việc chọn ngành nghề đào tạo theo sở thích và điều kiện tìm việc làm. Đây

là mơ hình đào tạo hiệu quả vì kinh phí đào tạo nghề sẽ được chi vào đúng việc, đúng

người có nhu cầu học nghề, khắc phục được tình trạng học nghề miễn phí theo phong

trào, học rồi bỏ đó, gây lãng phí thời gian, nguồn lực. Các cơ sở dạy nghề chủ động

xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, các nguồn

huy động khác cho dạy nghề đảm bảo đúng mục đích, có hiệu quả và theo quy định của

pháp luật.

Đổi mới hình thức đào tạo: đa dạng các hình thức dạy nghề cho phù hợp với

từng loại đối tượng lao động.

+ Đối với lao động trẻ: áp dụng hình thức dạy nghề tập trung dài hạn để đào tạo

đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề nhằm đáp ứng nhu cầu lao động khi các doanh

nghiệp vào đầu tư trên địa bàn và xuất khẩu lao động.

+ Đối với lao động trên 35 tuổi: tổ chức dạy nghề ngắn hạn, tập trung vào các

làng nghề, tiểu thủ công nghiệp, nghề nông nghiệp. Dạy nghề ngay tại thôn, xã, hoặc

tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn huyện để tạo điều kiện cho lao động tranh thủ

được thời gian vừa học vừa làm, giảm chi phí đi lại, góp phần tăng năng suất của cây

trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thơn, tạo thêm nhiều việc làm hơn.

Trong đó:

Mở lớp dạy nghề cho các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ như: mây tre đan

xuất khẩu, tăng giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm. Để nâng cao thu nhập, thu hút

lao động ở địa phương vào lĩnh vực này thì việc đào tạo nâng cao tay nghề, tìm kiếm

thị trường đầu ra là hết sức quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho lao động

nông thôn.



103



Mở các lớp chế biến nông sản: là một huyện nông nghiệp sản phẩm rau, củ, quả

và sản lượng lúa lớn. Song hiện nay, trên địa bàn huyện chỉ có 02 làng nghề bánh đa

thái tiêu thụ sản phẩm nơng nghiệp còn lại chưa có các cơ sở chế biến, sơ chế, bảo

quản sản phẩm nên hiệu quả kinh tế thấp.

Phát triển mô hình dạy nghề tại các doanh nghiệp, làng nghề theo hình thức vừa

học vừa làm, phù hợp với lao động trẻ, tiếp thu nhanh, sau khi được đào tạo qua các

doanh nghiệp, làng nghề lao động có tay nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng

giáo viên, nâng chuẩn thông qua việc hỗ trợ kinh phí đào tạo, khuyến khích, tạo điều

kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên Trung tâm dạy nghề của huyện học tập nâng cao

trình độ chun mơn nghiệp vụ, kiến thức sư phạm. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra,

sát hạch đội ngũ giáo viên trong diện quản lý và kiểm tra bằng, chứng chỉ, năng lực

thực tiễn của đội ngũ giáo viên thỉnh giảng, hợp đồng giảng dạy.Rà soát, tổ chức bồi

dưỡng kiến thức sư phạm cho đội ngũ giáo viên truyền nghề trong các làng nghề, giáo

viên, công nhân kỹ thuật hướng dẫn kỹ năng thực hành trong các doanh nghiệp, cơ sở

sản xuất.

Đối với người học nghề: Chỉ hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thơn theo đúng

đối tượng quy định và những người có nhu cầu học nghề thực sự, có thái độ học tập

tích cực. Tập trung đào tạo chuyển đổi nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt trong

vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nơng nghiệp.

Tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục định hướng, tư vấn, cung cấp thông

tin, giúp người học nắm được nhu cầu thị trường lao động, chính sách và nhiệm vụ của

người đi học nghề và cơ hội việc làm sau đào tạo, từ đó giúp lao động học nghề có

cách nhìn và sự lựa chọn đúng đắn.

Cùng với việc dạy nghề cần rèn luyện, nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức tổ

chức kỷ luật, tác phong công nghiệp đồng thời nâng cao thể lực, sức bền đáp ứng yêu

cầu sản xuất công nghiệp hiện đại.



104



Tổ chức các cuộc thi, giao lưu giáo viên, học viên giữa các trung tâm, các

trường, các đơn vị dạy nghề, tạo sân chơi bổ ích, động lực phấn đấu, nâng cao chất

lượng dạy và học.

Quản lý chặt chẽ công tác dạy nghề: Quy hoạch, sắp xếp lại các cơ sở dạy nghề

không để phát triển tự phát, dẫn tới quản lý lỏng lẻo, quan tâm phát triển các cơ sở đào

tạo nghề tư nhân. Cùng với đó phải kiểm tra, kiểm sốt chặt chẽ hoạt động của các cơ

sở dạy nghề này; nâng cao chất lượng dạy nghề của các đồn thể chính trị - xã hội.

Quản lý tốt công tác tuyển sinh và lưu giữ hồ sơ không để chồng chéo, một lao động

học nhiều lớp nghề, học nhiều lần một nghề (trừ một số đối tượng theo quy định) nhất

là những đối tượng lao động được hưởng chế độ từ nguồn kinh phí của các đề án, dự án

đào tạo nghề miễn phí và có hỗ trợ.

3.1.3 Bố trí, sắp xếp, sử dụng lao động và hỗ trợ duy trì, phát triển nghề đã

đào tạo phù hợp

3.1.3.1. Bố trí, sắp xếp, sử dụng lao động qua đào tạo hợp lý

* Mục tiêu

Khắc phục được tình trạng đào tạo theo lối mòn, phong trào, có gì đào tạo đó;

các cấp, các ngành, các cơ sở dạy nghề chỉ lo khâu đào tạo mà khơng có quy hoạch, kế

hoạch, dự tính, dự báo và định hướng ngành nghề; đào tạo không gắn với nhu cầu thực

sự của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động.

* Tổ chức thực hiện

Thực hiện tốt hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh cuối bậc

học THCS, học sinh THPT, Bổ túc THPT và cho đại đa số lao động nông thôn. Xác

định rõ đối tượng học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp, đối tượng học nghề để tăng

năng suất lao động với nghề hiện đang làm và đối tượng học nghề để làm nghề lúc

nông nhàn.

Công tác dạy nghề chỉ nên giao cho các trường, trung tâm dạy nghề có chức



105



năng, nhiệm vụ và điều kiện dạy nghề. Phòng Lao động thương binh và xã hội phải là

cơ quan tham mưu, chủ trì điều phối. Các phòng chức năng như: Nơng nghiệp và phát

triển nông thôn phụ trách tham mưu đào tạo nghề nơng nghiệp, Phòng Kinh tế và hạ

tầng tham mưu đào tạo nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề. Đối với

các đồn thể chính trị-xã hội chỉ nên tham gia phối hợp chuyển giao khoa học kỹ thuật,

phổ biến, bồi dưỡng kiến thức cho hội viên mà không nên tham gia dạy nghề.

Tăng cường phối hợp giữa đơn vị dạy nghề với doanh nghiệp thông qua việc ký

kết hợp đồng cung ứng. Bên đào tạo đảm bảo số lượng, chất lượng lao động theo yêu

cầu; doanh nghiệp đảm bảo tuyển dụng lao động với mức lương, thưởng theo cam kết.

Có thể dạy nghề đủ thời gian, nội dung, chương trình để lao động sau học nghề thực

hiện được tất cả các khâu, các chi tiết thực hành một nghề nhưng cũng có thể chỉ cần

đào tạo một khâu, một công đoạn trong dây chuyền sản xuất, lắp ráp, hoàn thiện, kiểm

tra sản phẩm,...theo yêu cầu của doanh nghiệp. Ngoài ra, hàng năm trên cơ sở quy

hoạch phát triển kinh tế- xã hội, Phòng Lao động thương binh và xã hội dự báo nhu cầu

lao động để có kế hoạch điều phối công tác dạy nghề.

Trước khi cấp đất cho các doanh nghiệp, cấp phép sản xuất kinh doanh, UBND

huyện yêu cầu các doanh nghiệp báo cáo rõ quy mơ sản xuất, nhu cầu sử dụng lao

động. Từ đó, doanh nghiệp đưa ra cam kết ưu tiên sử dụng lao động là người địa

phương, nhất là lao động bị thu hồi đất canh tác.

Tổ chức dạy nghề cho các đối tượng đi xuất khẩu lao động, đảm bảo 100% có

tay nghề và được giáo dục định hướng.

3.1.3.2. Khuyến khích, hỗ trợ người lao động làm nghề sau đào tạo

* Mục tiêu

Để tăng cường dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và phát triển kinh

tế -xã hội thì cơng tác dạy nghề khơng chỉ dừng lại ở khâu cấp văn bằng, chứng chỉ

nghề mà cần có các hoạt động hỗ trợ lao động sau học nghề thông qua các cơ chế,

chính sách ưu đãi, hệ thống tư vấn, giới thiệu việc làm, trợ giúp pháp lý,...để lao động

sau học nghề tìm kiếm được việc làm, thu nhập ổn định, có như vậy đào tạo nghề mới



106



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trên cơ sở dự báo nhu cầu lao động qua công tác dạy nghề của huyện; tổng hợp, phân tích, phân loại đối tượng lao động, nhu cầu đào tạo từng nghề, loại hình đào tạo, thời gian đào tạo,...Từ đó, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề như: chuẩn cơ sở vật chất, tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×