Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Công tác quản lý

* Công tác quản lý

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đối với các xã, thị trấn không đủ điều kiện về tài chính, nhân lực và phân cấp

quản lý thực hiện đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động.

Công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thơn chưa có sự phân cơng,

phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong huyện. Vì vậy, đào tạo nghề diễn ra tự

phát, thiếu tính quy hoạch. Các Phòng chuyên môn cứ việc đào tạo theo chuyên môn

do ngành phụ trách, các đồn thể chính trị -xã hội cứ đào tạo cho cho đồn viên, hội

viên của mình “miễn là được càng nhiều càng tốt”. Công tác tuyển sinh, kiểm tra, giảm

sát đối tượng thụ hưởng hỗ trợ, việc thực hiện thời gian giảng dạy, thu chi tài chính,

đánh giá chất lượng, hiệu quả dạy nghề có lúc, có nơi còn bị bng lỏng.

* Đội ngũ giáo viên dạy nghề

Đối với Trung tâm Kỹ thuật TH-HN-DN: tổng số định biên là 19 giáo viên,

trong đó có 12 giáo viên trình độ Đại học, 07 giáo viên trình độ Cao đẳng đang tiếp tục

hoàn thiện Đại học. Đội ngũ giáo viên cơ bản đảm bảo chuẩn về bằng cấp, được phân

công giảng dạy các nghề tương đối phù hợp với chuyên môn đào tạo. Tuy nhiên, về cơ

cấu giáo viên còn có sự bất cập đó là: khơng có giáo viên cơ khí, kỹ thuật sửa chữa,

xây dựng,...trong khi giáo viên tin học (chủ yếu là phổ cập tin học văn phòng) lại nhiều

hơn định biên, đội ngũ giáo viên chưa có kinh nghiệm đào tạo nghề. Nếu trong cùng

một thời gian tổ chức nhiều lớp dạy nghề hoặc khi tổ chức đào tạo các nghề theo “đặt

hàng” mà Trung tâm khơng có giáo viên chun ngành như: nghề mộc, thủ công mỹ

nghệ, sửa chữa điện tử, ô tô, xe máy, cơ khí hàn xì,... thì Trung tâm phải hợp đồng giáo

viên thỉnh giảng mang tính mùa vụ.



91



Bảng 2.13: Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên Trung tâm

KT-TH-HN-DN Thanh Miện

ĐVT: Người



TT

1.

2.

3.

4.

5.



Chuyên ngành

Điện dân dụng

Điện tử

Nông học

Tin học

May Công nghiệp

Cộng



Tổng

05

03

02

04

05

19



Đại học

03

02

02

03

02

12



Trình độ

Cao đẳng

02

01

01

03

07



Trung cấp

-



Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật TH-HN-DN Thanh Miện



Đội ngũ giáo viên tham gia dạy nghề trên địa bàn huyện nhìn chung chuẩn về

bằng cấp chun mơn. Giáo viên thuộc các đơn vị đào tạo nghề công lập của Trung

ương và địa phương có trình độ từ Cao đẳng trở lên chiếm trên 80%, trong khi ngồi

cơng lập là trên 60%. Đối với đào tạo nghề ngoài công lập: các doanh nghiệp đào tạo

trực tiếp tại nơi sản xuất, các cơ cở sản xuất, hộ gia định làm nghề truyền thống tổ chức

truyền nghề do đó đội ngũ giáo viên chủ yếu là công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề, một

số ít là nghệ nhân,... bằng cấp khơng cao hoặc khơng có bằng cấp nhưng khả năng

chun môn, kỹ thuật và hướng dẫn kỹ năng thực hành tốt nên học viên được dạy nghề

ngồi cơng lập trên địa bàn huyện thường vững tay nghề và tỉ lệ lao động tìm kiếm

được việc làm cao. Tuy vậy, đối với một số nghề công tác tổ chức đội ngũ giáo viên

thiếu sự cân đối, giáo viên dạy nghề tiểu thủ cơng nghiệp, mỹ nghệ chưa được kiểm

sốt chặt chẽ.



Bảng 2.14: Trình độ chun mơn của đội ngũ giáo viên dạy nghề

Đơn vị đào tạo nghề



Tổng số



Trình độ chuyên môn



92



1.Trực thuộc địa phương

-Cơng lập

-Ngồi cơng lập

2.Trực thuộc trung ương



(%)



Sau đại học



100

100

100

100



5,45

5,90

1,20

12,60



Đại học,



Trình



Cao đẳng

76,35

84,60

62,80

75,90



độ khác

18,20

9,50

36,00

11,50



Nguồn: Phòng Lao động Thương binh và xã hội Thanh Miện



* Giáo giáo án, giáo trình

Đối với các nghề ở trình độ sơ cấp nghề trở lên thường có chương trình, nội

dung giáo án, giáo trình theo quy định hoặc tập bài giảng được phê duyệt. Song, các

lớp dạy nghề ngắn hạn khác về cơ bản không có giáo trình, học liệu. Giáo viên giảng

dạy các lớp nghề thủ công mỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là hợp đồng thời vụ,

có tay nghề nhưng chưa có kiến thức sư phạm nên việc xây dựng nội dung, chương

trình, giáo án, giáo trình rất hạn chế, thường họ chỉ dạy học viên thực hành một số sản

phẩm mẫu nên khi hết thời gian học nghề, các sản phẩm mẫu này khơng còn phù hợp,

phải chuyển sang các sản phẩm theo mẫu mới để đáp ứng nhu cầu thị trường thì người

học nghề lại bị lúng túng. Vì vậy, một số nghề ngắn hạn do chưa có khung chương

trình, giáo án, giáo trình cụ thể nên người lao động sau học nghề còn thiếu những kỹ

năng để duy trì, sáng tạo trên nền tảng cơ bản được học nghề.

* Chính sách đối với người học nghề

Lao động nơng thôn tham gia lớp đào tạo nghề được hỗ trợ kinh phí học nghề

theo mức quy định tại Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 21 tháng 2 năm 2011 của

Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương về phê duyệt kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề cho lao

đông nông thôn.

Đối với dạy nghề sơ cấp: Hỗ trợ tối đa 1.500.000 đồng/học viên/khố đối với

nhóm nghề: hàn, điện dân dụng, điện cơng nghiệp, sửa chữa máy nông cụ, kỹ thuật sửa

chữa máy lạnh, điều hồ khơng khí. Hỗ trợ 1.350.000 đồng/học viên/khố đối với

nhóm nghề: tin học ứng dụng, kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính, may cơng nghiệp,



93



dệt, thêu ren, chế tác đá quý, mộc mỹ nghệ, gốm sứ, quản trị máy tính, lắp ráp điện tử.

Hỗ trợ 1.200.000 đồng/học viên/khố đối với nhóm nghề: kế tốn doanh nghiệp, thư

ký, nghiệp vụ văn phòng, kế tốn thuế, nấu ăn, khách sạn, nhà hàng, kỹ thuật trồng trọt,

bảo vệ thực vật, kỹ thuật chăn nuôi thú y, nuôi thuỷ sản nước ngọt, làm vườn, cây cảnh.

Những nghề khác phát sinh áp dụng mức hỗ trợ cùng loại như trên.

Đối với dạy nghề dưới 3 tháng, mức hỗ trợ nghề được tính theo thời gian thực tế

của khoá học. Riêng đối với lao động nông thôn thuộc diện người bị thu hồi đất canh

tác, người được hưởng chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng, hộ nghèo,

người khuyết tật được hỗ trợ thêm tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày/người, hỗ trợ tiền

đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức khơng q 200.000 đồng/khố/người

đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15km trở lên.

Mỗi lao động nơng thơn chỉ được học nghề một lần theo chính sách ưu đãi của

đề án. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác thì khơng được

tiếp tục hỗ trợ theo chính sách ưu đãi của đề án. Những người đã được hỗ trợ học nghề

nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan được xem xét tiếp tục hỗ trợ học

nghề để chuyển đổi việc làm nhưng tối đa không quá 3 lần. Lao động nông thôn sau

khi học nghề được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.

* Việc làm của lao động nông thôn sau học nghề

Hiện nay, lao động nông thôn trên địa bàn sau khi học nghề chủ yếu phải tự bố

trí, tìm kiếm việc làm. Trong khi các nghề thủ công, mỹ nghệ thị trường đầu vào, đầu

ra bấp bênh, việc làm không ổn định và chỉ mang tính thời vụ; những nghề phục vụ các

ngành sản xuất cơng nghiệp vẫn khó tìm kiếm việc làm do số doanh nghiệp đầu tư trên

địa bàn và tuyển dụng lao động nơng thơn còn rất khiêm tốn. Vì vậy, lao động nơng

thơn sau đào tạo có việc làm và làm đúng nghề chiếm tỉ lệ thấp, số lao động bỏ nghề

còn khá cao. Điều này, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của lao động nơng thơn trong

việc có nên bỏ thời gian tham gia học nghề hay không và phải lựa chọn học ngành

nghề gì cho phù hợp. Đây là vấn đề cần được các nhà quản lý quan tâm, tìm giải pháp



94



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Công tác quản lý

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×