Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LĐ trong độ tuổi

LĐ trong độ tuổi

Tải bản đầy đủ - 0trang

tiế

p

th

a

m

gi

a

la

o

độ

ng

Chú thích: CC: Cơ cấu



SL: Số lượng LĐ: Lao động



Biểu đồ 2.1: Phân loại lao động tại 4 xã

Như vậy, qua bảng 2.9 và biểu đồ ta thấy rõ được số lao động trong độ tuổi

chiếm bình quân rất cao là 92,00% trong khi đó cơ cấu nguồn lao động, lao động

ngoài tuổi trực tiếp tham gia lao động và đóng vai trò chính tạo ra thu nhập của gia

đình chiếm bình qn ít 8,00%. Các xã có số lao động ngoài độ tuổi trực tiếp tham

gia lao động với tỉ lệ cao là các địa phương chuyên canh cây rau màu hay có làng

nghề, ngành nghề phụ như: xã Thanh Giang và Lê Hồng; trong khi Tân Trào và

Cao Thắng tỉ lệ này thấp hơn do người lao động ở lại địa phương chủ yếu chỉ tập

trung sản xuất hai vụ lúa trong khi nguồn lao động trong độ tuổi lao động lại khá

dồi dào. Điều này, cũng phản ánh thực trạng chung về tình hình sử dụng lao động

trên địa bàn huyện hiện nay đó là: lao động nông nghiệp chủ yếu là nữ trong độ

tuổi và bổ sung lao động trên tuổi còn sức khoẻ, lao động dưới tuổi phụ giúp thêm;

những lao động thanh niên nhất là nam thanh niên thường đi làm kinh tế, tăng thu

nhập cho gia đình.

2.4.4.2. Chất lượng lao động nơng thơn tại các 4 xã nghiên cứu

Trình độ học vấn của lao động nông thôn tại các điểm nghiên cứu từ THCS

trở lên chiếm tỉ lệ bình quân 95,5%; tiểu học chỉ chiếm 4,5%, đây là những lao động

phổ biến từ độ tuổi từ 45 trở lên. Lao động qua đào tạo chỉ chiếm 41% (năm 2010 tỉ

lệ này của tỉnh Hải Dương đã đạt 42%) trong đó có bằng, chứng chỉ nghề bình quân



83



đạt 18%, lao động qua đào tạo khơng có bằng, chứng chỉ là 23%. Có thể thấy được

công tác dạy nghề cho người lao động tại huyện chưa được cao. Số lượng người lao

động qua đào tạo nghề khơng có văn bằng chứng chỉ cao hơn hẳn số lao động qua

đào tạo có bằng chứng chỉ 5%.

Lao động nông thôn chủ yếu được đào tạo qua các lớp nghề ngắn hạn theo

các chương trình, dự án tại địa phương; số ít lao động có trình độ Cao đẳng, Trung

cấp nghề ở lại địa phương đầu tư mở mang ngành nghề, phát triển sản xuất, kinh

doanh hoặc một số lao động sau đào tạo nhưng khơng tìm kiếm được việc làm, thu

nhập ổn định phải trở về địa phương làm nơng nghiệp cùng gia đình. Lao động chưa

qua đào tạo chiếm tỉ lệ khá cao với 59%. Điều này, thể hiện chất lượng lao động của

các địa phương trong huyện còn khá thấp.



84



Bảng 2.10: Chất lượng lao động nông thôn tại 4 xã nghiên cứu

Tân Trào

Chỉ tiêu

Tổng LĐ điều tra

I.Trình độ học vấn

- Tiểu học

- Trung học cơ sở

- THPT, Bổ túc THPT

II. Trình độ chun mơn

1. Lao động qua đào tạo



SL



CC



Lê Hồng

SL



CC



Cao Thắng

SL



CC



Thanh Giang

SL



CC



(người)

(%) (người) (%) (người) (%) (người) (%)

50

100,00

50

100,00

50

100,00

50

100,00



Tổng

SL



CC



(người)

(%)

200

100,00



1

19

30



2,00

38,00

60,00



3

23

24



6,00

46,00

48,00



3

19

28



6,00

38,00

56,00



2

22

26



4,00

44,00

52,00



9

83

108



4,50

41,5

54,00



21



42,00



22



44,00



17



34,00



22



44,00



82



41,00



- Có bằng, chứng chỉ



8



16,00



11



22,00



7



14,00



10



20,00



36



18,00



+ Cao đẳng nghề

+ Trung cấp nghề

+ Từ 3 tháng đến 1 năm

+ Từ 1 tháng đến dưới 3 tháng

- Khơng có bằng, chứng chỉ

2. Chưa qua đào tạo



2

1

2

3

13

29



4,00

2,00

4,00

6,00

26,00

58,00



1

2

4

4

11

28



2,00

4,00

8,00

8,00

22,00

56,00



1

1

2

3

10

33



2,00

2,00

4,00

6,00

20,00

66,00



1

2

3

4

12

28



2,00

4,00

6,00

8,00

24,00

56,00



5

6

11

14

46

118



2,5

3,00

5,50

7,00

23,00

59,00



Chú thích: CC: Cơ cấu



85



SL: Số lượng LĐ: Lao động



2.4.4.3. Giới tính của lao động học nghề

Bảng 2.11: Lao động qua đào tạo phân theo giới tính tại 4 xã

Tân Trào



Lê Hồng



Thanh



Cao Thắng



Tổng

giang

Chỉ

SL

SL

SL

SL

SL

CC

CC

CC

CC

CC

tiêu

(người

(người

(người

(người

(người

(%)

(%)

(%)

(%)

(%)

)

)

)

)

)

Tổng

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

21

22

17

22

82



0

0

0

0

0

1. Nữ



16



76,2



15



68,2



14



82,35



16



72,7



61



74,4



2. Nam



5



23,8



7



31,8



3



17,65



6



27,3



21



25,6



Chú thích:



SL: Số lượng



CC: Cơ cấu



Biểu đồ 2.2: Lao động qua đào tạo phân theo giới tính tại 4 xã

Qua bảng 2.11 cho thấy lao động nông thôn tham gia học nghề chủ yếu là lao

động nữ. Ở 4 xã tỷ lệ nữ lao động chênh lệch khá cao so với tỷ lệ nam; tỷ lệ chênh

lệch này lên đến 64,7% ở xã Cao Thắng, đây là xã có tỷ lệ lao động nam – nữ chênh

lệch nhau cao nhất. Tỷ lệ nữ lao động bình quân chiếm 74,4% trong khi tỉ lệ này ở

nam chỉ chiếm 25.6%, chênh lệch nhau lên đến 48,8%.



86



Có hai nguyên nhân dẫn tới kết quả này là: Thứ nhất, tỉ lệ lao động nam ở lại

địa phương tham gia lao động trực tiếp ở hầu hết các ngành kinh tế đều thấp hơn tỉ

lệ nữ. Thứ hai, các nghề đã được tổ chức đào tạo trên địa bàn thường chỉ phù hợp

với lao động nữ như: nghề may, mây-tre đan, thêu-móc sợi, thêu tranh treo

tường,...những nghề này lại chủ yếu được người lao động duy trì mang tính mùa vụ;

các nghề khác như: điện, điện tử, cơ khí, lái xe, mộc... phù hợp với lao động nam thì

đào tạo được chưa nhiều do năng lực của các cơ sở đào tạo nghề còn hạn chế và

chưa được thực sự quan tâm thực hiện.

Từ thực tế trên đặt ra cho các nhà quản lý, các cơ sở, tổ chức dạy nghề về

chiến lược, kế hoạch đào tạo và sử dụng lao động, trong đó cần thực hiện một cách

khoa học chuỗi mắt xích từ cơng tác hướng nghiệp, phân luồng, lựa chọn nghề đào

tạo, tổ chức đào tạo, bố trí việc làm sau đào tạo và sử dụng lao động cho phù hợp.

2.4.4.4. Việc làm của người lao động sau đào tạo

Thơng qua q trình thu nhập và điều tra ý kiến của người lao động nông

thôn về việc làm sau đào tạo; những khó khăn, vướng mắc trong quá trình được đào

tạo nghề và cơ hội việc làm cho người lao động đã được tổng kết lại trong bảng

2.12 như sau:



87



Bảng 2.12: Việc làm sau đào tạo và nhu cầu đào tạo nghề của lao động nông thôn tại 4 xã nghiên cứu

Tân Trào

Chỉ tiêu



Tổng LĐ

I . Đã qua đào tạo



SL



CC



(người)



(%)



(người)



(%)



50



100



50



100



50



100



21



42,00



22



44,00



17



34,00



22



44,00



82



41,00



3



14,29



7



31,82



5



29,42



5



22,73



20



24,39



8



38,10



5



22,73



6



35,29



9



40,91



28



34,15



10



47,61



10



45,45



6



35,29



8



36,36



34



41,46



29



58,00



28



56,00



33



66,00



28



56,00



118



59,00



vụ



1. Có nhu cầu học nghề



SL



CC



Thanh Giang

Tổng

SL

CC

SL

CC

(người

(%) (người) (%)

)

50

100

200

100



CC



học

2.Chỉ sử dụng nghề đã học mang tính thời



II. Chưa qua đào tạo



Cao Thắng



SL



1. Có việc làm ổn định đúng với nghề đã



3- Khơng duy trì được nghề



Lê Hồng



(người) (%)



13



44,83



9



32,14



14



42,42



16



57,14



52



44,07



5



17,24



3



10,71



5



15,15



7



25,00



20



16,95



- Khơng học nghề nếu phải đóng học phí



8



27,59



6



21,43



9



27,27



9



31,14



32



27,12



2. Khơng có nhu cầu học nghề



16



55,17



19



67,86



19



57,58



12



42,86



66



55,93



- Học nghề nếu phải đóng góp học

phí



Chú thích:



88



SL: Số lượng



CC: Cơ cấu LĐ: Lao động



Qua bảng 2.12 cho thấy hiệu quả của công tác đào tạo nghề chưa cao, điều này

được thể hiện rõ bằng tỉ lệ lao động sau đào tạo có việc làm ổn định đúng với nghề đã

học chỉ chiếm bình quân 24,39,%; chỉ sử dụng nghề đã học mang tính thời vụ chiếm

34,15% và khơng duy trì được nghề là 41,46%.

Như vậy, có thể khẳng định việc thực hiện chuỗi liên kết giữa đào tạo và bố trí

việc làm sau đào tạo chưa tốt, đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu thực sự của lao động

nông thôn và thị trường lao động. Lao động sau đào tạo có việc làm ổn định chủ yếu là

lao động xác định chuyển đổi nghề từ nông nghiệp sang làm việc ở các công ty, doanh

nghiệp may mặc trên địa bàn; các nghề điện, điện dân dụng, cơ khí do lao động tự đầu

tư mở cơ sở sửa chữa, buôn bán, lắp ráp,...Đối với lao động sau đào tạo chỉ sử dụng

nghề mang tính thời vụ đó là những lao động bán nơng nghiệp và xác định thu nhập từ

nông nghiệp vẫn là chủ yếu, còn nghề đã học chỉ là nghề phụ, tăng thu nhập lúc nông

nhàn. Các nghề này thường là các nghề thủ cơng mỹ nghệ như: thêu gen, móc sợi, đính

hạt cườm, mây tre đan,... nhiều lao động sau khi được đào tạo nghề do khơng có việc

làm, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định nên bỏ nghề, nghề bị mai một hoặc

khơng còn sử dụng nghề đã học. Có nhiều lớp nghề ngắn hạn được hỗ trợ hoặc miễn

phí theo đề án nhưng sau 3 tháng học nghề và được cấp chứng chỉ cũng là lúc nghề

khơng còn tồn tại.

Trong số lao động nơng thơn chưa qua đào tạo chỉ có bình qn

44,07% lao động có nhu cầu học nghề và 16,95% lao động sẵn sàng

học nghề nếu phải đóng góp, 27,12% khơng học nghề nếu phải bỏ

tiền nộp học phí; còn 55,93% lao động khơng có nhu cầu học nghề

kể cả khơng phải đóng học phí. Đây là điều hết sức bất cập cần phải

khắc phục nếu muốn tăng cường dạy nghề cho lao động nơng thơn.

Ngun nhân chủ yếu đó là: Thứ nhất, lao động nông thôn chưa ý

thức được tầm quan trọng của đào tạo nghề ảnh hưởng lớn tới năng

suất, hiệu quả lao động, tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao

động nông thôn. Thứ hai, chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cũng là

nguyên nhân dẫn đến lao động nông thôn chưa thực sự quan tâm

dành thời gian, kinh phí cho



89



học nghề, thậm chí khi được miễn học phí, được hỗ trợ một số chi phí trong q trình

học nghề nhưng vẫn khó thu hút lao động vào học nghề.

Nhìn chung, hiệu quả đào tạo nghề thấp, thiếu tính thực tế, chưa gắn kết với thị

trường lao động, các đơn vị đào tạo nghề công lập mới chỉ thực hiện công đoạn đào tạo

mà chưa quan tâm tới việc giới thiệu việc làm hay tiếp tục hỗ trợ tổ chức các hình thức

hợp tác, tạo việc làm, duy trì phát triển nghề cho người lao động sau đào tạo.

2.4.4.5. Những yếu tố ảnh hưởng tới dạy nghề cho lao động nông thôn

* Cơ cấu dân số, lao động nông thơn

Thanh Miện có cơ cấu dân số trẻ, nguồn lao động nông thôn dồi dào và chiếm tỉ

lệ lớn. Do yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăng năng suất lao

động nên nhu cầu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn khá cao. Qua bảng 2.11 cho

thấy: lao động nông thôn học nghề chủ yếu là lao động nữ, độ tuổi lao động học nghề

tập trung từ 30 đến 45 tuổi. Đây là thực trạng cần được các nhà quản lý phân tích trong

cơng tác xây dựng kế hoạch đào tạo nghề đối với từng nhóm tuổi, từng giới tính cho

phù hợp với công tác quy hoạch nguồn lao động phục vụ trong các ngành kinh tế, sự

chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế theo hướng tích cực nhằm thúc

đẩy kinh tế-xã hội phát triển.

* Công tác quản lý

Đối với cấp huyện: Phòng Lao động thương binh và xã hội là cơ quan chuyên

môn tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo

nghề. Tuy nhiên, ở lĩnh vực này, Phòng mới chỉ quan tâm tới việc dạy nghề cho các đối

tượng chính sách, hộ nghèo, người tàn tật mà chưa mở rộng tới các đối tượng khác.

Theo quyết định phê duyệt đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ thì Phòng Lao động

thương binh và xã hội huyện phải bố trí một cán bộ chuyên trách về công tác dạy nghề

để trực tiếp tham mưu xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát và quản lý nhà nước về

công tác dạy nghề nhưng trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói chung và huyện Thanh Miện

nói riêng vẫn chưa triển khai thực hiện.



90



Đối với các xã, thị trấn không đủ điều kiện về tài chính, nhân lực và phân cấp

quản lý thực hiện đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động.

Công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thơn chưa có sự phân cơng,

phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong huyện. Vì vậy, đào tạo nghề diễn ra tự

phát, thiếu tính quy hoạch. Các Phòng chuyên môn cứ việc đào tạo theo chuyên môn

do ngành phụ trách, các đồn thể chính trị -xã hội cứ đào tạo cho cho đồn viên, hội

viên của mình “miễn là được càng nhiều càng tốt”. Công tác tuyển sinh, kiểm tra, giảm

sát đối tượng thụ hưởng hỗ trợ, việc thực hiện thời gian giảng dạy, thu chi tài chính,

đánh giá chất lượng, hiệu quả dạy nghề có lúc, có nơi còn bị bng lỏng.

* Đội ngũ giáo viên dạy nghề

Đối với Trung tâm Kỹ thuật TH-HN-DN: tổng số định biên là 19 giáo viên,

trong đó có 12 giáo viên trình độ Đại học, 07 giáo viên trình độ Cao đẳng đang tiếp tục

hoàn thiện Đại học. Đội ngũ giáo viên cơ bản đảm bảo chuẩn về bằng cấp, được phân

công giảng dạy các nghề tương đối phù hợp với chuyên môn đào tạo. Tuy nhiên, về cơ

cấu giáo viên còn có sự bất cập đó là: khơng có giáo viên cơ khí, kỹ thuật sửa chữa,

xây dựng,...trong khi giáo viên tin học (chủ yếu là phổ cập tin học văn phòng) lại nhiều

hơn định biên, đội ngũ giáo viên chưa có kinh nghiệm đào tạo nghề. Nếu trong cùng

một thời gian tổ chức nhiều lớp dạy nghề hoặc khi tổ chức đào tạo các nghề theo “đặt

hàng” mà Trung tâm khơng có giáo viên chun ngành như: nghề mộc, thủ công mỹ

nghệ, sửa chữa điện tử, ô tô, xe máy, cơ khí hàn xì,... thì Trung tâm phải hợp đồng giáo

viên thỉnh giảng mang tính mùa vụ.



91



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LĐ trong độ tuổi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×