Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lao động kỹ thuật có trình độ Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề còn chiếm tỉ lệ thấp, đây là một bất lợi trong việc cung cấp nguồn lao động tại chỗ có chất lượng khi có các dự án đầu tư vào các cụm công nghiệp đã được quy hoạch trên địa bàn.

Lao động kỹ thuật có trình độ Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề còn chiếm tỉ lệ thấp, đây là một bất lợi trong việc cung cấp nguồn lao động tại chỗ có chất lượng khi có các dự án đầu tư vào các cụm công nghiệp đã được quy hoạch trên địa bàn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 2.4: Lao động nơng thơn phân theo trình độ đào tạo

Nguồn: Phòng Lao động thương binh và xã hội Thanh Miện

Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015

SL

CC

(người

(%)

)



SL



CC



SL



CC



(người)



(%)



(người)



(%)



69.091



100,00



70.782



100,00



72.164



25.875



37,45



28.971



40,93



10.433



15,10



12.259



- Cao đẳng nghề



1.140



1,65



- Trung cấp nghề



2.038



- Từ 3 tháng đến 1 năm

- Từ 1 tháng đến dưới 3 tháng



Chỉ tiêu



Tổng số

I .Lao động qua đào tạo

1. Qua đào tạo (có bằng, chứng

chỉ)



2. Qua đào tạo (khơng có bằng,

chứng chỉ)

II. Chưa qua đào tạo



14/13



15/14



BQ



100,00



102,45



101,95



102,20



32.907



45,60



111,97



113,59



112,77



17,32



14.346



19,88



117,50



117,02



137,51



1.203



1,70



1.371



1,90



105,53



113,97



109,66



2,95



2.222



3,14



2.353



3,26



109,02



105,90



107,45



3.766



5,45



4.622



6,53



5.498



7,62



122,73



118,95



120,83



3.489



5,05



4.212



5,95



5.124



7,10



120,72



121.65



121,19



15.442



22,35



16.712



23,61



18.561



25,72



108,22



101,06



109,63



43.216



62,55



41.811



59,07



39.257



54,40



96,75



93,89



95,31



Chú thích:



70



So sánh (%)



SL: Số lượng



CC: Cơ cấu



BQ: Bình quân



2.4.1.5 Về tình hình sử dụng lao động nông thôn

Qua bảng 2.5 cho thấy: Lao động có việc làm thường xuyên tại huyện có xu

hướng tăng lên nhưng vẫn chiếm tỉ lệ thấp. Năm 2015, tỉ lệ này chỉ chiếm 40,52%,

đây chủ yếu là những lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công

nhiệp, dịch vụ, lao động tại các làng nghề, trang trại và lao động nông nghiệp ở các

vùng sản xuất chuyên canh cây rau màu. Lao động thiếu việc vẫn chiếm tỉ lệ cao,

năm 2015 là 18,33%, đây chủ yếu là những lao động nơng nghiệp mang tính mùa

vụ, thời gian lao động trong năm chỉ đạt từ 50 đến 70%.

Năm 2015, số lao động nông thôn thường xuyên làm kinh tế ngoài huyện là

18.502 người, chiếm 25,64 %, thường là những lao động thanh niên không tiếp tục

theo học THPT, Bổ túc THPT, chuyên nghiệp, có sức khoẻ và thiếu việc làm. Điều

này, cũng phản ánh nguồn lao động của huyện đang dư thừa, các ngành công

nghiệp, xây dựng, dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh nên

chưa tạo ra nhiều việc làm để thúc đẩy chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp

sang các ngành kinh tế khác.

Lao động khơng có việc làm còn tỉ lệ khá cao, đây là những lao động thu hồi

đất sản xuất chưa chuyển đổi được nghề; lao động trong độ tuổi nhưng sinh sau năm

1993 không được giao đất sản xuất nông nghiệp, hiện nay không có nghề nghiệp,

việc làm phải ở lại địa phương cùng gia đình sản xuất nơng nghiệp; lao động nơng

nghiệp đã chuyển nhượng đất nông nghiệp đi làm kinh tế xa nhà nhưng đến nay trở

về địa phương chưa tìm được việc làm mới.

Từ thực tế đó, đòi hỏi kinh tế của huyện phải có sự chuyển dịch tích cực và

một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu đó là phải tập trung đào

tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng thời gian lao động vật chất của

người lao động, tạo ra nhiều việc làm mới cho lao động nơng thơn.



71



Bảng 2.5: Tình hình sử dụng lao động nơng thơn

Nguồn: Phòng Lao động thương binh và xã hội Thanh Miện



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



SL



CC



SL



CC



SL



CC



(người)



(%)



(người)



(%)



(người)



(%)



Tổng số lao động



69.091



100,00



70.782



100,00



72.164



1. Có việc làm thường xun



25.895



37,48



27.662



39,08



2. Làm ngồi huyện (trong nước)



14.654



21,21



16.075



3. Lao động xuất khẩu



2.456



3,55



4. Thiếu việc làm ở địa phương



14.866



5. Khơng có việc làm



11.220



Chỉ tiêu



14/13



15/14



BQ



100,00



102,45



101,95



102,20



29.241



40,52



106,82



105,71



106,26



22,71



18.502



25,64



109,70



115,10



112,37



2.628



3,72



2.129



2,95



107,00



81,01



93,11



21,52



13.847



19,56



13.228



18,33



93,15



95,53



94,33



16,24



10.570



14,93



9.064



12,56



94,21



85,75



89,88



Chú thích:



72



So sánh (%)



SL: Số lượng



CC: Cơ cấu



BQ: Bình qn



Tóm lại, từ nghiên cứu thực trạng lao động trên địa bàn huyện Thanh Miện

cho thấy: (1) Nguồn lao động nông thôn là khá dồi dào, chủ yếu là lao động trẻ; cơ

cấu lao động chuyển dịch chậm, lao động làm trong ngành nông nghiệp, thuỷ sản

còn chiếm tỉ lệ cao. (2) Chất lượng lao động nơng thơn đã có sự tiến bộ nhưng còn

thấp, lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao. Lao động nông thôn vẫn chủ yếu là

lao động phổ thông, lao động làm nơng nghiệp nhưng chưa thực sự có nghề nông

nghiệp; cơ cấu lao động nông thôn được đào tạo chưa thực sự hợp lý. Những yếu tố

đó ảnh hưởng trực tiếp tới sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành, các khu

vực; ảnh hưởng tới sự chuyển dịch và phát triển kinh tế- xã hội của huyện, năng

suất, hiệu quả lao động, thu nhập và đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn.

2.4.2. Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện

Thanh Miện

2.4.2.1. Dạy nghề của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề

Thanh Miện

Theo quy định của Bộ Giáo và đào tạo thì học sinh THPT đều được học một

nghề nhất định, kết quả học nghề sẽ là một trong những tiêu chí để được cộng điểm

khi thi tốt nghiệp THPT. Vì vậy, qua bảng 2.4 cho thấy hằng năm đều có 100% học

sinh THPT tham gia học nghề. Trên địa bàn Thanh Miện việc dạy nghề cho học sinh

THPT được Sở Giáo dục và đào tạo Hải Dương giao cho Trung tâm KT-TH-HNDN đảm nhận toàn bộ. Công tác tổ chức nghề, phân lớp hết sức đơn giản, do Ban

Giám hiệu các trường lập danh sách theo quy định, trên cơ sở đăng ký của học sinh.

Tuy nhiên, việc đăng ký của học sinh cũng chỉ mang tính hình thức vì các trường

THPT thường hướng cho học sinh đăng ký một hoặc hai nghề nhất định để thuận lợi

công tác tổ chức quản lý, dạy nghề và thi cử. Do vậy, các ngành nghề được hướng

nghiệp chưa đa dạng, chỉ tập trung đào tạo các nghề như: Làm vườn, nông nghiệp,

điện dân dụng.

Thời gian dạy nghề trong 105 tiết học, cơ bản được bố trí trong dịp hè; nội

dung học phần lớn là lý thuyết; các thiết bị phục vụ thực hành rất hạn chế nên chất

lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.



73



Kết quả của việc đào tạo nghề cho học sinh THPT mới chỉ đáp ứng được hai

yêu cầu đó là: Thứ nhất, giúp học sinh tiếp cận với một số nghề qua đó tư vấn, phân

luồng, giúp học sinh lựa chọn nghề đúng đắn khi tốt nghiệp THPT. Thứ hai, thông

qua học nghề, học sinh được cấp chứng chỉ, được cộng điểm thi tốt nghiệp THPT

điều này được phát huy tác dụng đối với học sinh diện trung bình yếu, khó vượt qua

kỳ thi tốt nghiệp THPT.



74



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lao động kỹ thuật có trình độ Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề còn chiếm tỉ lệ thấp, đây là một bất lợi trong việc cung cấp nguồn lao động tại chỗ có chất lượng khi có các dự án đầu tư vào các cụm công nghiệp đã được quy hoạch trên địa bàn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×