Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ở HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƯƠNG

Ở HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phát hiện thực trạng của dạy nghề cho người lao động trong xậy dựng nông

thôn mới ở huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương

Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác dạy nghề cho người lao

động trong xây dựng nơng thơn mới. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng

cao hiệu công tác dạy nghề cho người lao động trong xây dựng nông thôn mới ở

huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương.

2.1.2. Tiến trình nghiên cứu:



 Giai đoạn nghiên cứu tài liệu, khảo sát sơ bộ:

Nhiệm vụ của giai đoạn này là:



- Hệ thống hoá cơ sở lý luận của đề tài, xây dựng khái niệm công cụ.

- Lựa chọn và xây dựng phương pháp nghiên cứu.

- Khảo sát sơ bộ thực trạng công tác dạy nghề cho người lao động trong xây dựng

nông thôn mới ở huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương.

 Khảo sát thực trạng

Mục đích: Làm rõ thực trạng dạy nghề cho người lao động ở huyện Thanh

Miện - tỉnh Hải Dương và các yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy nghề.

Nội dung khảo sát:

Tập trung làm rõ về tình hình người lao động, chất lượng lao động, các trung

tâm dạy nghề cho người lao động, cơ sở vật chất- trang thiết bị dạy nghề qua các

năm từ năm 2012 - 2015.

2.1.3. Các phương pháp nghiên cứu:

2.1.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu



 Mục đích nghiên cứu: thu thập và xử lý thông tin nhằm xây dựng cơ sở lý luận và

phương pháp luận của vấn đề nghiên cứu.

 Nội dung nghiên cứu:

+ Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề về dạy nghề cho người lao

động trong xây dựng nơng thơn mới. Phân tích, đánh giá những cơng trình nghiên

cứu của các tác giả trong và ngồi nước về các vấn đề có liên quan đến việc dạy

nghề cho người lao động. Từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong các cơng trình

này để tiếp tục nghiên cứu.



51



+ Xác định các khái niệm công cụ và các khái niệm có liên quan và hệ thống

hố một sơ vấn đề lí luận cơ bản liên quan đến đề tài như: Khái niệm dạy nghề, khái

niệm dạy nghề cho người lao động, khái niệm dạy nghề cho người lao động trong

xây dựng nông thôn mới, những yếu tố ảnh hưởng dạy nghề cho người lao động

trong xây dựng nơng thơn mới.



 Cách thức tiến hành

+ Tìm các tài liệu có liên quan đến đề tài, xây dựng mục lục tài liệu tham

khảo cho đề tài, đọc và ghi chép, phân tích, tổng hợp vấn đề để làm rõ tổng quan và

cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

+ Tranh thủ ý kiến đóng góp của các nhà chun mơn có kinh nghiệm trong

lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học và những lĩnh vực có liên quan đến dạy nghề cho

người lao động để làm cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu.



 Phương tiện: Sách báo, tạp chí, từ điển, chương trình, intrernet….



2.1.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi



 Mục đích:

- Thu thập thông tin về bản thân người lao động tham gia vào quá trình học nghề.

- Điều tra nhận thức của họ về tầm quan trọng của dạy nghề đối với người lao động

-



đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.

Thu thập những thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến dạy nghề cho người lao



động trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

 Cách thức tiến hành

- Thiết kế bảng hỏi. Gồm 2 bước:

Bước 1: Thu thâp ý kiến để xây dựng bảng hỏi.

Bước 2: Điều tra thử: phát phiếu, thu và xử lý thông tin liên quan đến đề tài.

 Cơ sở xây dựng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cho phép thu thập thông tin trên một

phổ rộng với số lượng khách thể lớn, do vậy có thể rút ra được những kết luận với

độ tin cậy cao. Bảng hỏi được xây dựng dựa trên nghiên cứu lí luận về dạy nghề cho



52



người lao động, tiêu chí và nội dung xây dựng nơng thôn mới và các yếu tố ảnh

hưởng đến dạy nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.



 Nội dung của bảng hỏi:

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng mẫu phiếu điều tra cho người lao động

bao gồm các câu hỏi sau:

Phần I: Thông tin chung về người lao động

Phần II: Thực trạng công tác dạy nghề cho người lao động tại địa phương.

+ Câu 1- 2: Thực trạng về dạy nghề tại địa phương

+ Câu 3 - 6: Nhận thức của người lao động về công tác dạy nghề và mức độ

tham gia vào việc học nghề.

+ Câu 7 - 8: Mức độ quan trọng của dạy nghề cho người lao động tại địa phương.

+ Câu 9 - 10: Trình độ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất tại các trung tâm và

các lớp dạy nghề.

Phần III: Thực trạng về công tác học nghề của học viên

Phần IV: Hiểu biết về công tác dạy nghề cho người lao động trong xây dựng

nông thôn mới

Phần V: Thực trạng yếu tố ảnh hưởng và đề xuất ý kiến

2.1.3.3. Phương pháp chuyên gia



 Mục đích: Tham khảo ý kiến của các giáo viên dạy nghề, các ban ngành lãnh đạo,

các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu để làm sáng tỏ các khái niệm công cụ để

định hướng nghiên cứu đề tài.

 Cách thức tiến hành

- Xin ý kiến tư vấn của các nhà tâm lý học về những vấn đề lý luận có liên

quan đến đề tài nghiên cứu như hoạt động dạy nghề.

- Tham khảo ý kiến về việc thiết kế phiếu điều tra, phiếu quan sát.

- Xin ý kiến tư vấn đề những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề

cho người lao động trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

2.1.3.4. Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các cơng thức tốn học với phần mềm SPSS ( Statistic Package for

Social Science) phiên bản 23.0 để mô tả giá trị trung bình và phân tích những số

liệu thu thập được từ khảo sát thực trạng công tác dạy nghề cho người lao động.

2.2. Đặc điểm huyện Thanh Miện



53



Huyện Thanh Miện gồm có 18 xã và 01 thị trấn, lao động nơng thơn chiếm

92,27% tổng lao động tồn huyện. Lực lượng lao động trong nông thôn dồi dào,

hiện nay mới chỉ có khoảng 40,52% lao động có việc làm thường xuyên tại địa

phương do làm thêm ngành nghề phụ như: xây dựng, mây tre đan,...và một số hộ

làm thêm dịch vụ, còn phần lớn lượng lao động nhàn rỗi do làm nơng nghiệp chỉ

mang tính chất thời vụ. Đặc biệt, lực lượng lao động ở độ tuổi thanh niên, ngồi một

số ít đi học tại các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp thì chủ yếu

đi làm cơng nhân ở ngồi huyện.

Người dân Thanh Miện chủ yếu vẫn làm nông nghiệp, tỉ lệ lao động nông thôn

qua đào tạo nghề thấp và thiếu thông tin thị trường. Do đó, phần nào làm hạn chế việc

tiếp thu kỹ thuật mới, ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả sản xuất kinh doanh.

Mặc dù kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng diễn

ra còn chậm, sản xuất nơng nghiệp có vị trí quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn trong

cơ cấu kinh tế của huyện. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện về cơ bản

thuận lợi cho kinh tế nông hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển

công nghiệp, dịch vụ thương mại, đây là tiềm năng, cơ hội cho Thanh Miện trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nhanh, bền vững trong tương lai.

2.2.1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Thanh Miện là huyện đồng bằng nằm phía Tây Nam của tỉnh

Hải Dương, cách trung tâm thành phố Hải Dương 25 km

Phía Bắc giáp với huyện Bình Giang

Phía Đơng giáp với huyện Gia Lộc và huyện Ninh Giang

Phía Nam giáp với tỉnh Thái Bình

Phía Tây giáp với tỉnh Hưng n

Huyện Thanh Miện là nơi tiếp giáp ba tỉnh, giao thông thuận lợi cho việc

giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùng trong và ngồi tỉnh. Tồn huyện có 18 xã và

01 thị trấn, thị trấn Thanh Miện là trung tâm của huyện. Thanh Miện là huyện có đất

đai màu mỡ, phù hợp với nhiều loại cây trồng phát triển, ngoài lúa gạo thì các sản

phẩm khác cũng rất phong phú như rau, củ, quả, thuỷ sản nước ngọt,...Thanh Miện

nằm trọn trong hệ thống đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải nên có điều kiện thuận lợi



54



về thuỷ lợi cho phát triển nơng nghiệp.

Điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu

Về đất đai: Đất đai của huyện được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ

thống sông Hồng và sơng Thái Bình. Địa hình bằng phẳng và có chiều nghiêng dần

từ Tây Bắc xuống Đông Nam thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nơng nghiệp.

Diện tích đất nơng nghiệp chiếm phần lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên nên kinh

tế của huyện vẫn dựa vào phát triển kinh tế nông nghiệp là chủ yếu.

Theo số liệu báo cáo của Chi cục Thống kê huyện Thanh Miện năm 2011,

Thanh Miện có tổng diện tích đất tự nhiên là 12.237, 30 ha. Trong đó diện tích đất

nơng nghiệp chiếm trên 70,99%, diện tích đất này có xu hướng giảm chậm do cấp

đất giãn dân, xây dựng khu dân cư tập trung, kết cấu hạ tầng, quy hoạch các cụm

công nghiệp, điểm dịch vụ thương mại và hiện một số diện tích đã đi vào sử dụng.

Khí hậu thời tiết: Thanh Miện mang đầy đủ tính chất khí hậu nhiệt đới gió

mùa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mùa hè nóng, mưa nhiều và có gió bão; mùa

đơng lạnh, khơ hanh, cuối mùa có mưa phùn, ẩm độ khơng khí lên cao. Nhiệt độ

trung bình trong năm là 23 0C, lượng mưa hàng năm từ 1600 - 1700 mm nhưng

phân bố khơng đều. Độ ẩm khơng khí trung bình là 80-85%.



55



2.2.2. Tình hình kinh tế-xã hội

(1) Tình hình dân số, lao động

Năm 2015, tồn huyện có 124.482 người, trong đó số người ở độ tuổi lao

động là 78.212 người, chiếm 62,83%. Số lao động thường xuyên đi làm kinh tế

ngoài huyện là 18.502 người, chiếm 25,64 % lao động nông thôn, số lao động này

chủ yếu làm nghề nông nghiệp, khơng qua đào tạo, trình độ văn hố thấp, dễ bị tổn

thương do tác động của kinh tế thị trường. Số người trong độ tuổi lao động cao có

lợi thế trong việc cung cấp nguồn nhân lực, tuy nhiên điều này cũng gây ra một áp

lực lớn cho việc giải quyết việc làm, và công tác đào tạo nguồn nhân lực. Chất

lượng lao động của huyện còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào

tạo, lao động nơng thơn đã qua đào tạo kể cả có và khơng có bằng, chứng chỉ nghề

năm 2014 chỉ đạt 40,93% trong khi trên địa bàn toàn tỉnh tỉ lệ lao động đã qua đào



56



tạo là 41%, phấn đấu đến năm 2016 tỉ lệ này đạt 55% (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ

tỉnh Hải Dương lần thứ XV).

Trong tổng số 34.323 hộ có tới 25.662 hộ có thu nhập chính từ nông nghiệp,

thuỷ sản chiếm 75,20%. Tuy nhiên, những năm gần đây do sự phát triển của các

cụm công nghiệp, các điểm tiểu thủ cơng nghiệp, dịch vụ nên diện tích đất nơng

nghiệp có xu hướng giảm đồng thời cũng tạo ra việc làm đáng kể trên địa bàn huyện

và các khu vực lân cận nên số lao động, số hộ nông nghiệp giảm dần, số hộ chuyển

sang hoạt động kinh doanh, dịch vụ hoặc đi làm tại các khu, cụm công nghiệp ngày

càng tăng, đây là sự chuyển dịch mang tính tất yếu hiện nay.

(2) Điều kiện y tế, giáo dục và đào tạo

Về y tế: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng khám - điều trị bệnh cho

nhân dân được nâng lên. Số bác sỹ/vạn dân tăng từ 3,4 năm 2010 lên 4,3 năm 2015;

tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ tăng từ 78,9% năm 2010 lên 100% vào năm 2015; 19/19

trạm y tế có nhân viên hộ sinh hoặc y sỹ sản - nhi. Củng cố, giữ vững 100% số xã,

thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001 - 2010, đạt mục tiêu đại hội; đồng

thời tích cực triển khai xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020.

Về giáo dục: Tập trung lãnh đạo thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ

Huyện ủy về “Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 - 2015”. Chú

trọng xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng

trường đạt chuẩn quốc gia. Giai đoạn 2011 - 2015, có 15 trường được công nhận

trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia trong toàn huyện

lên 41/59 trường, tăng 05 trường so với nhiệm kỳ 2005 – 2010.

Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được duy trì, phát triển. Đã chuyển đổi 20

trường mầm non bán công sang loại hình trường cơng lập. Cơng tác quản lý giáo

dục, kiểm tra đánh giá chất lượng quản lý, giảng dạy... tiếp tục có sự đổi mới. Duy

trì tốt cơng tác phổ cập - xóa mù chữ ở các cấp học, bậc học.

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT bình quân hằng năm ước đạt

86,0%. Chất lượng học sinh tốt nghiệp THCS và thi vào THPT luôn đứng tốp đầu;

chất lượng thi vào đại học, cao đẳng xếp trong tốp khá trong tỉnh. Cơng tác xã hội



57



hố và xây dựng xã hội học tập, hoạt động khuyến học, khuyến tài được đẩy mạnh

và phát triển.

2.3. Thuận lợi và khó khăn trong dạy nghề cho người lao động ở huyện

Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

2.3.1. Thuận lợi

2.3.1.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nơng thơn mới của huyện Thanh Miện

đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cơng tác tun truyền, triển khai thực hiện chương

trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Cấp ủy huyện và chính quyền

đã ban hành nghị quyết chuyên đề về thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về

xây dựng nông thôn mới; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống chính trị vào cuộc

mạnh mẽ; coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, phát huy nội lực và vai trò

chủ thể của người dân đi đơi với việc thu hút các nguồn lực khác trong xã hội;

thường xun kiểm tra, đơn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ

chức thực hiện.

Đến cuối năm 2015, tồn huyện đã đạt được 219 tiêu chí trên tổng số 342

tiêu chí nơng thơn mới, bằng 64,03% và tăng 77 tiêu chí so với năm 2011. Trung

bình số tiêu chí đạt được của các xã là 12,2 tiêu chí. Tổng nguồn vốn các xã đầu tư

cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ước thực hiện

1.379,75 tỷ đồng. Trong đó: Vốn hỗ trợ từ ngân sách 289,51 tỷ đồng; vốn huy động

nhân dân đóng góp 141 tỷ đồng; vốn doanh nghiệp đầu tư 86,32 tỷ đồng; vốn lồng

ghép 53 tỷ đồng, vốn tín dụng 800 tỷ đồng và vốn huy động khác 9,92 tỷ đồng. Dự

kiến cuối năm 2016, có 05 xã hồn thành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

nơng thơn mới (Đồn Tùng, Phạm Kha, Hùng Sơn, Ngũ Hùng và Chi Lăng Nam).

Tồn huyện đã có 19/19 xã, thị trấn thực hiện dồn điền đổi thửa gắn với

chỉnh trang đồng ruộng, với tổng diện tích là 7.335,2 ha. Trong đó diện tích thực

hiện xong dồn điền đổi thửa gắn vối chỉnh trang đồng ruộng là 5.677,87 ha, chiếm

77,4% so với diện tích đất sản xuất nơng nghiệp; diện tích đã chỉnh trang đồng

ruộng nhưng chưa dồn điền đổi thửa là 1.289,56 ha. Số thửa bình quân/hộ sau khi



58



dồn điền, đổi thửa giảm còn 1,8 thửa/hộ (Nguồn: Phòng nơng nghiệp và phát triển

nơng thôn huyện)

2.3.1.2. Việc triển khai, thực hiện Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết lần thứ bảy (Khóa X) của Trung ương Đảng về nơng

nghiệp, nơng dân và nông thôn, ngày 27 tháng 11 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ

ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động

nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) với mục tiêu tổng quát: “Bình

quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nơng thơn, trong đó đào

tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã. Nâng cao chất lượng và hiệu quả

đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thơn; góp phần

chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hố,

hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn…”.

Quan điểm cơ bản của Đề án 1956 là “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao

chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

nơng nghiệp, nơng thơn. Nhà nước tăng cường đầu tư và có chính sách bảo đảm

thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, ưu

tiên đào tạo nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu

đãi người có cơng với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số,

người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác…; khuyến khích, huy động và tạo điều

kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn”.

Năm 2010 là năm đầu tiên Đề án 1956 được triển khai trong bối cảnh Ban Bí

thư Trung ương Đảng đang chỉ đạo thí điểm mơ hình xây dựng nơng thơn mới ở 11

xã điểm và bắt đầu triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2010- 2020 theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6

năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ với yêu cầu đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao

động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và

chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong

năm 2010 là phổ biến, quán triệt và hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án; hình



59



thành tổ chức bộ máy quản lý và triển khai thực hiện Đề án ở các cấp; tuyên truyền

Đề án ở các cấp và đến người lao động; điều tra, khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề;

phê duyệt Đề án cấp tỉnh; nâng cao năng lực đào tạo nghề; thí điểm các mơ hình

dạy nghề và đặt hàng dạy nghề; thí điểm hình thức cấp thẻ học nghề nơng nghiệp và

xây dựng kế hoạch, kinh phí thực hiện Đề án giai đoạn 2011-2015.

Đến năm 2011, huyện Thanh Miện và các xã đã thành lập Ban Chỉ đạo; việc

ban hành văn bản hướng dẫn, đặt hàng dạy nghề, cũng như tăng cường các điều

kiện để nâng cao năng lực đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được triển khai

tích cực, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển kinh tế- xã

hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Một số mơ hình dạy nghề bước đầu được đánh giá có hiệu quả là:

(1) Mơ hình dạy nghề cho lao động ở các vùng trồng cây chuyên canh, nuôi

trồng thủy sản, nhằm đào tạo đội ngũ lao động nông thôn đáp ứng được yêu cầu của

sản xuất hàng hóa hiện đại, nâng cao năng suất lao động và chất lượng và khả năng

cạnh tranh của sản phẩm;

(2) Mơ hình dạy nghề cho lao động trong các làng nghề truyền thống, nhằm

đào tạo đội ngũ thợ trẻ để phục hồi, duy trì phát triển nghề truyền thống và để phát

triển làng nghề mới;

(3) Mơ hình đặt hàng dạy nghề, nhằm dạy nghề cho lao động nơng thơn diện

hộ nghèo, có hồn cảnh khó khăn về kinh tế và bố trí việc làm tại doanh nghiệp sau

đào tạo.

Từ những kết quả bước đầu này đã tạo động lực để thu hút nhiều lao động

nơng thơn tham gia các khố đào tạo nghề được tổ chức tại địa bàn. Người lao

động, bên cạnh học các kỹ năng nghề cơ bản để làm nghề, còn được trang bị các

kiến thức về khởi sự doanh nghiệp, các kỹ năng khác như bình đẳng giới, phòng

chống bạo lực gia đình; tạo dựng các quan mối quan hệ cộng đồng, làng xóm,… Ở

một số xã, đã hình thành mơ hình sản xuất mới, trong đó những nơng dân được qua

đào tạo nghề là lực lượng nòng cốt. Đặc biệt, đã tạo được sự chuyển biến tích cực

trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị- xã hội và người lao



60



động về vai trò quan trọng của dạy nghề đối với phát triển nguồn nhân lực nơng

thơn trong sản xuất nơng nghiệp hiện đại; góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao

mức sống, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn và xây dựng nơng thơn mới.

Bên cạnh đó, trong những năm qua, tỉnh Hải Dương đã quan tâm, đầu tư

công tác dạy nghề cho lao động nông thôn nhằm nâng cao kiến thức, áp dụng vào

sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả thiết thực để cải thiện đời sống. Năm 2015,

toàn tỉnh hiện 05 trường Cao đẳng nghề, 05 trường trung cấp nghề và 16 cơ sở dạy

nghề công lập trong đó: Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý 8 Trung tâm Kỹ thuật tổng

hợp hướng nghiệp dạy nghề tại các huyện Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Gia

Lộc, Kinh Môn, Nam Sách, Thanh Hà và TP Hải Dương. Hoạt động của các cơ sở

dạy nghề cũng có nhiều đổi mới, hình thức ngày càng đa dạng. Điển hình là mơ

hình dạy nghề theo địa chỉ, gắn người học nghề với nơi sản xuất và dạy nghề tại nơi

cư trú của người lao động. Hàng năm, đã đào tạo cho trên 3 vạn lao động các trình

độ dưới 3 tháng, sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề.

Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 được triển khai tại

tỉnh Hải Dương từ tháng 4/2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ban hành

Quyết định số 982/QĐ-UBND ngày 22 tháng 4 năm 2010 về việc thành lập Ban chỉ

đạo thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Ban

Thường vụ tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 42-CT/TU ngày 05 tháng 8 năm 2010 về

tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác đào tạo

nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

2.3.2. Khó khăn

(1) Cơng tác tun truyền, vận động các nguồn lực tham gia chương trình

mục tiêu quốc gia xây dựng nơng thơn mới có lúc, có nơi còn hạn chế; nhận thức

của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nông thôn mới chưa sâu sắc và sát

với điều kiện thực tiễn. Tiến độ thực hiện các tiêu chí nơng thơn mới còn chậm. Vai

trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành xây dựng nông thôn mới của cấp ủy, chính quyền

một số địa phương trong huyện chưa quyết liệt, thiếu cụ thể.

(2) Chất lượng giáo dục giữa các trường cùng cấp chưa đồng đều. Cơ sở vật

chất, trang thiết bị trường học ở một số xã (đặc biệt là Trung tâm hướng nghiệp, dạy



61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ở HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×