Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Michael P.Todaro với tác phẩm “Kinh tế học cho thế giới thứ ba” năm 1998

đã giới thiệu kết quả nghiên cứu về những nguyên tắc, vấn đề và chính sách phát

triển…đã dành thời lượng đáng kể cho vấn đề nông nghiệp nơng thơn, về lao động

và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế xã hội, những vấn đề về dân số, nghèo

đói và tấn cơng vào nghèo đói; vấn đề thất nghiệp những khía cạnh của một số vấn

đề tồn cầu; di cư từ nơng thơn ra thành thị: lý thuyết và chính sách; nơng nghiệp trì

trệ và các cơ cấu ruộng đất. Những vấn đề trên có thể tạo lập những cơ sở lý thuyết

cơ bản cho những vấn đề về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề đào tạo nghề

cho lao động nông thôn của nhiều nước, trong đó có nước ta [18; 223-243].

E. Wayne Nafziger, trong tác phẩm “Kinh tế học cho thế giới thứ ba” năm 1998

đã có những phần nghiên cứu rất quan trọng liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động

và giải quyết việc làm trong chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn như:

tài nguyên thiên nhiên, đất đai và khí hậu; sự nghèo đói ở nông thôn và chuyển đổi

nông nghiệp; việc làm, di cư và đơ thị hóa; dân số phát triển [11; 125 - 143].

Như vậy, những cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi khơng những chỉ ra các

vấn đề mang tính quy luật của các vấn đề liên quan đến lao động và người lao động,

mà có một số nội dung gợi mở những giải pháp giải quyết những vấn đề liên quan

đến lao động nơng thơn, trong đó có đào tạo nghề cho người lao động. Chính những

yếu tố ấy sẽ đóng góp rất nhiều cho cơng trình nghiên cứu về dạy nghề cho trong

xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.

1.1.2. Ở Việt Nam

Vấn đề đào tạo nghề và đào tạo nghề cho người lao động nông thôn đã được

đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các cơng trình nghiên cứu

khoa học dưới nhiều góc độ khác nhau.

Trần Thanh Đức trong tạp chí nghiên cứu và lý luận 10/2000 đã có bài viết

về “Nhân tố con người trong lực lượng lao động sản xuất hiện đại”, trong bài viết

tác giả đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố con người trong lực lượng lao động sản xuất

hiện đại và nhấn mạnh yêu cầu của con người đáp ứng sự đòi hỏi của lực lượng sản



13



xuất hiện đại, trong đó có nhấn mạnh vai trò đào tạo của các tri thức, trình độ nghề

cho con người để đáp ứng các yếu tố đó [6; 34].

Nguyễn Quang Huề, Nguyễn Tuấn Doanh có bài viết về “Đào tạo nguồn

nhân lực cho cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong Tạp chí Thơng tin thị

trường lao động, số 2 – 1999. Các tác giả đã nêu bật xu thế của cơng ngiệp hóa, hiện

đại hóa và những vấn đề đặt ra cho vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

của CNH – HĐH [7; 35-39].

Năm 2000, Trương Văn Phúc có bài viết đăng trên Tạp chí Lao động – Xã

hội số 11/2000, với tiêu đề “Thực trạng lực lượng lao động 1996 – 2000 và một số

vấn đề cần quan tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực 2001 – 2005”. Bài

viết đã tập trung phân tích thực trạng lực lượng lao động trên các mặt và biến động

của nó trong giai đoạn 1996 – 2000; nêu lên những thành tựu và những vấn đề đặt

ra cho phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001 – 2005, trong đó vấn đề đào tạo

nghề được nhấn mạng như là một trong các giải pháp trọng yếu của hệ thống các

giải pháp [13; 32-36].

Năm 2000, Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản cuốn “Thực trạng và các giải

pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kì CNH, HĐH ở Việt Nam”, nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia. Tuy cuốn sách này tập trung vào các vấn đề của trang trại,

nhưng thực trạng về trình độ chun mơn của các chủ trang trại, của các lao động

trong trang trại cũng được làm rõ; từ đó những vấn đề đặt ra cho việc nâng cao trình

độ cho chủ trang trại được nêu ra, đặc biệt các giải pháp liên quan đến đào tạo cho

chủ trang trại đã được đề xuất [8; 42-48]. Tuy nhiên, các vấn đề được trình bày trên

phạm vi cả nước và vấn đề đào tạo chủ trang trại chỉ thể hiện một bộ phận nhỏ của

nguồn lao động nông thôn. Vì vậy xét trên phương diện dạy nghề cho người lao

động trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải

Dương sẽ có những khía cạnh và những vấn đề khác nhau so với cơng trình trên.

Năm 2000, GS. TS Phạm Đức Thành và TS Lê Dỗn Khải đã xuất bản cuốn

“Q trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở vùng Bắc Bộ nước ta” [17; 55-62]. Cơng trình khoa học trên đã hệ thống hóa cơ



14



sở khoa học của quá trình cơ cấu lao động theo hướng CNH – HĐH trong nông

nghiệp, nông thôn Việt Nam; đã đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động

theo hướng CNH – HĐH trong nông nghiệp, nông thôn ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ;

đã đưa ra các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch

cơ cấu lao động theo hướng CNH – HĐH trong nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng

bằng Bắc Bộ đến 2010. Cơng trình nghiên cứu của tập thể tác giả đã tập trung vào

các vấn đề của chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện tác động của CNH –

HĐH. Nó chỉ đề cập đến nội dung nhỏ của đề tài luận văn. Hơn nữa đề tài lấy đối

tượng chính là cơ cấu lao động và sự tác động của CNH – HĐH. Vì vậy, tuy cơng

trình có những điểm liên quan với nội dung đề tài luận văn, nhưng không đề cập

đến vấn đề dạy nghề cho người lao động với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính.

Năm 2003, Lê Thị Ái Lâm có cơng trình nghiên cứu xuất bản với tiêu đề

“Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á”.

Công trình nghiên cứu khá tồn diện về kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực

thông qua giáo dục và đào tạo của các nước Đơng Á, trong đó kinh nghiệm của

Nhật Bản được nghiên cứu và tổng kết rất công phu. Những kết quả nghiên cứu có

thể tham khảo và vận dụng cho đào tạo nghề ở Việt Nam, nhất là kinh nghiệm đào

tạo nghề của các doanh nghiệp Nhật Bản [9; 25-42].

Năm 2004, PGS. TS Đỗ Minh Cương và TS Mạc Văn Tiến đã xuất bản cuốn

“Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”. Cuốn sách đã tập

trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về phát triển lao động kỹ thuật gắn với chuyển

dịch cơ cấu lao động phục vụ CNH – HĐH đất nước. Phân tích, đánh giá thực trạng

phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam và đề xuất định hướng và các giải pháp phát

triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010 [3; 11-40]. Đây là cuốn sách có

nhiều điểm bổ ích tham khảo cho nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Việt Nam nói chung, và các vùng, tỉnh nói riêng. Tuy nhiên, cơng trình nghiên cứu

này khơng đi sâu vào các vấn đề trực diện của dạy nghề cho lao động nơng thơn.

Năm 2004 – 2005 Chương trình khoa học cấp Nhà nước mã số KX02 triển

khai đề tài “Con đường, bước đi và các giải pháp chiến lược để thực hiện cơng



15



nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp và nơng thôn” do GS.TS Nguyễn Kế Tuấn làm

chủ nhiệm [20; 12-36]. Đề tài tập trung vào các vấn đề như: những vấn đề lý luận về

CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn; hội nhập kinh tế quốc tế của nông nghiệp

nông thôn và tác động đến việc thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn;

con đường, bước đi và các giải pháp chiến lược đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH

nông nghiệp và nông thôn. Đề tài đã hoàn thành vào năm 2005 và kết quả nghiên cứu

đã biên tập, xuất bản thành sách. Đây là cơng trình nghiên cứu mới nhất về CNH –

HĐH nông nghiệp và nông thôn. Tuy nhiên trong nghiên cứu, những vấn đề về dạy

nghề chỉ được đề cập như là những chịu sự ảnh hưởng của CNH – HĐH nông nghiệp

và nông thơn. Vì vậy, việc trình bày các vấn đề dạy nghề cho lao động nông thôn chỉ

là một bộ phận của giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông thôn.

Năm 2005, đề tài về “Nghiên cứu thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống

của người dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đơ thị và cho

nhu cầu cơng cộng, lợi ích quốc gia” do Chính phủ giao cho Đại học Kinh tế Quốc

dân được triển khai [12; 25 - 90]. Kết quả của đề tài đã được các nhà khoa học biên

tập và xuất bản thành sách. Trong hàng loạt các vấn đề được đề cập, vấn đề đào tạo

cho những người thu hồi đất đã được phân tích về thực trạng và đề xuất về phương

hướng và giải pháp hoàn thiện.

Trong “Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn đến năm 2010” của Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng năm 2000, vấn đề đào tạo nghề cho lao

động nông thôn cũng đã được đề cập với các nội dung như: Sự cần thiết, nhu cầu đào

tạo, một số giải pháp chủ yếu cần triển khai để thực thi chiến lược [2; 1-25].

Th.S Nguyễn Xuân Bảo, viện Khoa học giáo dục Việt Nam, có những nghiên

cứu về đào tạo nghề và đưa ra những kết quả, những hạn chế của đào tào nghề. Đặc

biệt trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân với sự nhấn mạnh về: hệ

thống đào tạo giáo viên nghề chưa đạt yêu cầu, với sự hạn chế về chất lượng đào tạo

của giáo viên dạy nghề là năng lực chuyên môn, kỹ năng giảng dạy thực hành còn

yếu, kiến thức và kỹ năng sư phạm còn hành chế, cùng với chương trình đào tạo còn

lạc hậu. Tác giả đã chỉ ra những bất hợp lý về cấu trúc chương trình khung và tác



16



động của nó đến đội ngũ sinh viên được đào tạo và đội ngũ này sau trở thành các

cán bộ đào tạo của các cơ sở dạy nghề: cấu trúc chương trình khung của các trường

đại học sư phạm kỹ thuật thường gồm 40% đào tạo đại cương, 60% dành cho giáo

dục nghề nghiệp (trong đó chỉ có 27,4% là kiến thức ngành). Từ chương trình

khung này, mỗi trường lại có những quy định khác nhau. Có trường thời gian sinh

viên thực tập sư phạm chỉ chiếm 1%, cơ sở ngành chiếm 15%, chuyên ngành 40%

nhưng đại cương chiếm 35% [1; 1-2].

Đặc biệt năm 2011, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã xuất bản cuốn

“Mơ hình dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục

đích sử dụng đất” Đây là cuốn sách được biên soạn dựa trên các tài liệu nghiên

cứu, các tài liệu thực tế thông qua các đề tài, đề án của viện và các tác giả, các cơ

quan trong và ngồi nước [21; 25-42]. Nội dung của cơng trình đề cập đến các vấn

đề chủ yếu của đơ thi hóa và những hệ lụy với nơng thơn Việt Nam; nhu cầu học

nghề của người lao động và những mơ hình dạy nghề giải quyết việc làm cho các

nhóm lao động nơng thơn khác nhau. Cuốn sách có nội dung gần nhất với nội

dung của luận văn. Tuy nhiên, trong cơng trình việc giới thiệu mơ hình mới ở mức

khái quát, chưa có đánh giá tổng kết kỹ nên chưa có những khẳng định về hiệu quả

và mức độ áp dụng.

Cũng có rất nhiều những bài đọc đăng trên các báo và các tạp chí khác. Nội

dung cơ bản của các cơng trình trên có thể tổng qt ở một số vấn đề sau: (1)Vấn đề

đào tạo nghề cho người lao động nhằm giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp.

(2)Đào tạo nghề cho người lao động nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế. (3)Đào tạo lao động công nhân kỹ thuật cao phục vụ

cho nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu lao động ra nước ngồi.

Khái qt những cơng trình nghiên cứu trên cho thấy: Tuy đã có nhiều

nghiên cứu về đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho người lao động nơng thơn

vùng nói riêng và các vấn đề liên quan, song các cơng trình nghiên cứu trên chỉ

nghiên cứu về đào tạo, đào tạo nghề nói chung, hoặc nghiên cứu một vài lĩnh vực

của đào tạo nghề của từng vùng. Hiện chưa có cơng trình nào ở trong và ngoài nước



17



nghiên cứu một cách tổng thể và chi tiết về “Dạy nghề cho người lao động đáp ứng

yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Miện – tỉnh Hải Dương”.

1.2. Một số vấn đề lý luận chung về dạy nghề cho người lao động trong

xây dựng nông thôn mới

1.2.1. Nghề và dạy nghề

1.2.1.1. Quan niệm về nghề

Theo quan niệm về “Nghề” ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định,

cho đến nay thuật ngữ “Nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.

Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: “Nghề là một loại hoạt động được

đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”. Ở Pháp:

“Nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người có thể từ

đó tìm được phương tiện sống”. Ở Anh, nghề được định nghĩa: “Nghề là một công

việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học, nghệ thuật”. Còn ở Đức,

khái niệm nghề là: “Nghề là một loại hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực

lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó” [4; 9]. Như vậy,

nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử phổ biến, gắn chặt với sự phân công

lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại.

Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất,

tập hợp lại “Nghề” được quan niệm: “Nghề là một tập hợp lao động do sự phân

công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính

tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do

nhu cầu của xã hội” [3; 15]. Những cũng có quan niệm cho rằng, những chun

mơn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chun

mơn và được gọi là “Nghề”. Nghề là tập hợp của một nhóm chun mơn cùng loại,

gần giống nhau.

Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng

ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định: (1) Nghề là hoạt động, là công việc

lao động của con người được lặp đi lặp lại. (2) Nghề được hình thành do sự phân

công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của xã hội và là phương tiện để sinh



18



sống. (3) Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã

hội, đòi hỏi phải có q trình đào tạo nhất định. Vì vậy, đào tạo nghề, dạy nghề là

yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó.

1.2.1.2. Quan niệm về “Dạy nghề”

Đào tạo nghề là thuật ngữ trong nhóm các vấn đề nâng cao chất lượng nguồn

lao động. Nói tới nâng cao chất lượng nguồn lao động có thuật ngữ đào tạo nghề.

Thuật ngữ này được hiểu theo các phạm vi khác nhau. Theo từ điển Bách khoa toàn

thư: “Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến

thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những

tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích

nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một cơng việc nhất định” [19; 2].

Có nhiều dạng đào tạo, tùy theo tiêu chí xem xét có thể phân thành: đào tạo

cơ bản và đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề; đào tạo ban đầu

và đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức, đào tạo từ xa; đào tạo qua

trường lớp và tự đào tạo,…Như vậy, đào tạo nghề là một trong các dạng đào tạo

nâng cao chất lượng nguồn lao động.

Đào tạo nghề bao gồm hai q trình có quan hệ hữu cơ với nhau khơng thể

tách rời, đó là: Dạy nghề và học nghề. Vì vậy, trong nhiều trường hợp dạy nghề và

đào tạo nghề được đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn bản. Dạy nghề

hiểu theo nghĩa chung nhất là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người hoc

nghề. Hiểu theo nghĩa đầy đủ, đó là q trình giảng viên truyền bá những kiến thức

về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự

khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những

kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ

nghề nghiệp nhất định.

Dạy nghề: là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về

lý thuyết và kĩ năng thực hành một số nghề nào đó để sau một thời gian nhất định

người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục

học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới. Dạy nghề có 3 giai đoạn cơ



19



bản: (1) Dạy nghề cho người chưa biết gì về nghề trở thành người bán lành nghề.

(2) Dạy nghề cho người bán lành nghề trở thành người lành nghề. (3) Dạy nghề cho

người lành nghề trở thành những người lành nghề ở trình độ cao.

Ở Việt Nam có tồn tại các quan niệm: Đào tạo được hiểu là q trình hoạt

động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri

thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền

đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và hiệu quả. Đào tạo

được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và

thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả

của công việc chun mơn.

Đào tạo nghề là q trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chun

mơn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một cơng việc nhất định.

Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng

cần thiết để người lao động có thể thực hiện một cơng việc nào đó trong tương lai.

Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức

về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định

người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục

học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới.

Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội xuất bản năm 2002 thì

đào tạo nghề được hiểu: "Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao

động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau

khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội".

Như vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kĩ

năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này, thể hiện tính

nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trong quan

niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn "Vốn nhân lực", coi

công nhân như cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh

thần và kỉ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất

với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay.



20



Luật dạy nghề năm 2006: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị

kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể

tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hồn thành khóa học”[10; 2]. Trong

nghiên cứu tơi sẽ sử dụng khái niệm “Dạy nghề” trong Luật dạy nghề để phục vụ

cho quá trình làm luận văn.

1.2.1.3. Mạng lưới dạy nghề

Năm 1975, có 185 cơ sy nghềvăn.ạy nghề” trong Luật dạy nghề để phụcvà

thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm

hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học nghĩa, đề cao người lao động

ngay trong quan niệm về lao đ khắp ở tất cả các Bộ, ngành, địa phương và cơ sở

dạy nghề bên cạnh xí nghiệp, công- nông -lâm trường đáp ứng nhu cầu học

nghề trong cả nước.

Thời kì từ năm 1987 đến 1992 cơng tác quản lí dạy nghề do vụ dạy nghề

đảm nhiệm. Từ năm 1992 đến tháng 6/1998 công việc này chỉ còn một phần trong

vụ trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đảm nhiệm. Thời kì này cơng tác dạy nghề

ít được quan tâm, đầu tư và phát triển, hệ thống dạy nghề ngày càng thu hẹp lại cả

về số lượng lẫn quy mô đào tạo, năm 1998 số trường dạy nghề chỉ còn 129

trường (giảm 56% so với năm 1986).

Trước nhu cầu cấp bách phát triển nguồn nhân lực của công cuộc đổi

mới và bước vào giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, tổng

cục dạy nghề được thành lập theo Nghị quyết số 33/1998 ngày 23/5/1998 nhằm

giúp Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và xã hội quản lí nhà nước về cơng tác

đào tạo nghề trên phạm vi cả nước. Sau một số năm thực hiện, tính đến cuối năm

2001 mạng lưới trường dạy nghề đã được mở rộng và đa dạng hoá với nhiều hình

thức, trong đó:

+ 137 trưu cầu cấp bách phát triển nguồn nhân lực của công cuộc đổi mới

+ 149 trung tâm dạy nghề trong đó có 78 trung tâm dạy nghề quận, huyện.

+ 150 trung tâm dịch vụ việc làm có dạy nghề.

+ Trên 300 trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp thường xuyên

tham gia đào tạo nghề ngắn hạn.



21



+ Hàng nghìn lng tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp thường

xuyên tham gia

Tuy nhiên, sự phân bổ các trường theo ngành cũng chưa hợp lí, các ngành

chủ yếu ở ngành cơng nghiệp, xây dựng. Năm 1998, số lượng trường thuộc ngành

công nghiệp chiếm 38,5%, ngành xây dựng là 18,5%, ngành giao thông là 16,4%,

trong khi đó ngành nơng nghiệp là ngành chiếm trên 62% lực lượng lao động xã hội

nhưng chỉ có 13,7% số lượng dạy nghề. (Nguồn: Bộ LĐTB & XH: "Định hướng

phát triển đào tạo nghề đến năm 2010", Hà Nội 2002).

Theo báo cáo của Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao động – TB&XH), qua 5 năm

triển khai Luật dạy nghề và các văn bản hướng dẫn thi hành, hoạt động dạy nghề đã

có những bước chuyển biến và đem lại hiệu quả cho toàn xã hội. Kết quả sau 5 năm

thi hành Luật dạy nghề, mạng lưới cơ sở dạy nghề được phát triển rộng khắp ở 63

tỉnh, thành phố và trên 600 huyện, quận, thị xã, các khu vực công nghiệp, khu chế

xuất, làng nghề. Mạng lưới cơ sở dạy nghề mở rộng, phân bố tương đối hợp lý ở các

ngành kinh tế, địa phương, vùng miền. Tính đến cuối năm 2011, cả nước có 136

trường cao đẳng nghề, 307 trường Trung cấp nghề, 849 trung tâm dạy nghề và hơn

1.000 cơ sở khác tham gia dạy nghề, tăng 1,5 lần so với năm 2006.

1.2.1.4. Dạy nghề cho người lao động nông thôn

Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn, trong đó hoạt động nơng nghiệp đóng

vai trò chủ yếu và quan trọng, nông dân là bộ phận dân cư chủ yếu của nguồn lao

động nông thôn. Sự khác nhau giữa khái niệm đào tạo nghề nói chung và đào tạo

nghề cho lao động nông thôn là ở đối tượng của đào tạo nghề - những người lao

động nông thôn và những điều kiện gắn với quá trình đào tạo nghề đó.

Lao động nơng thơn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động

trong hệ thống kinh tế nông thôn. Lao động nông thôn là những người dân khơng

phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nơng thơn, có độ tuổi từ 15

trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn (Điều 3 – Luật Lao động). Trong đó bao

gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo

quy định của Luật lao động và những người ngồi độ tuổi lao động có khả năng



22



tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hồn thành cơng việc với kết

quả đạt được một cách tốt nhất.

Kết hợp từ khái niệm về dạy nghề và khái niệm lao động nơng thơn như đã

trình bày ở trên, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm: “Đào tạo nghề

cho lao động nông thôn là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá

trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người

lao động nông thơn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục

nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nơng thơn”.

Dạy nghề cho người lao động nơng thơn có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có

tính nhân văn vừa có tính xã hội rất cao, có vai trò quan trọng đối với phát triển vốn

con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho con

người lao động, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, góp phần phát triển kinh

tế - xã hội bền vững. Dạy nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ

lao động kỹ thuật trực tiếp, phục vụ CNH - HĐH đất nước; góp phần bảo đảm an

sinh xã hội. Thực tiễn quá trình phát triển kinh tế tại Việt Nam, khi lao động nông

thôn được sử dụng tốt thì kinh tế phát triển nhanh và bền vững, tránh rơi vào “cái

bẫy” đẩy nhanh CNH, không chú trọng đến phát triển nơng nghiệp, nơng thơn đã có

những thời điểm rơi vào tình trạng khó khăn, gấy lãng phí sức lao động nông thôn

và kéo theo hệ quả thu nhập lao động nông thôn thấp, mất ổn định xã hội. Vì vậy,

dạy nghề và nâng cao chất lượng dạy nghề cho lao động nói chung và lao động

nơng thơn nói riêng là yêu cầu cấp bách của nên kinh tế, dạy nghề được coi là quốc

sách hàng đầu.

1.2.2 Xây dựng nông thôn mới và yêu cầu đối với lao động

1.2.2.1 Nơng thơn mới và tiêu chí xác định nơng thơn mới

Từ các quan điểm về phân công lao động xã hội của C.Mác và Ăngghen, về

nông thôn của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO)...cho thấy, nông thôn là

nơi sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân, tham gia vào các

hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, mơi trường trong một thể chế chính trị nhất định,



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×