Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa nồng độ TRAb trung bình sau điều trị và thời gian mắc bệnh

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa nồng độ TRAb trung bình sau điều trị và thời gian mắc bệnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Phân nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Bệnh Basedow có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên hay gặp ở lứa tuổi

lao động. Trong nghiên cứu của chúng tơi nhóm tuổi từ 30 – 40 tuổi và nhóm

50 – 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất: 22,7%; nhóm tuổi từ 15 – 20 và từ 40 – 50

tuổi chiếm tỷ lệ thấp hơn là: 13,6%; nhóm tuổi từ 20 – 30 chiếm tỷ lệ 15,9%

và trên 60 tuổi là11,5 %, Tuổi mắc bệnh trung bình của các đối tượng nghiên

cứu là: 39,45 ± 14,69 tuổi. Trong đó, tuổi nhỏ nhất là 17 tuổi và lớn nhất là 64

tuổi. Số người bệnh trong độ tuổi lao động (20 – 60 tuổi) chiếm tới 75%

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như các tác giả khác: nghiên

cứu của tác giả Ngơ Thị Phượng [4] có tuổi trung bình là: 37,1 ± 12,11 tuổi;

nghiên cứu của Đoàn Thị Anh Đào [35] cũng có tuổi trung bình tương tự là:

43,57 ± 14,3 tuổi; nghiên cứu của Y.S.Hussain và cộng sự năm 2017 trên 659

người bệnh Basedow cũng có tuổi trung bình là: 44 tuổi và người bệnh nhỏ

tuổi nhất là 16 tuổi [39]. Các nghiên cứu này cũng đều chỉ ra rằng bệnh

Basedow thường gặp nhất ở lứa tuổi lao động.

4.1.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới:

Từ kết quả ở biểu đồ 3.1 thấy rằng: tỷ lệ nữ giới mắc bệnh là 79,5% cao

hơn so với nam (tỷ lệ 20,5%), tỷ lệ nữ/nam: 3,8/1. Như vậy nữ giới có tỷ lệ

mắc bệnh cao hơn nhiều so với nam giới. Nguyên nhân của sự khác biệt về tỷ

lệ giới tính cơ bản là do sự khác biệt trong hệ thống miễn dịch. Phụ nữ có số

lượng tế bào lympho tương tự nam giới nhưng tế bảo B sản xuất kháng thể

nhiều hơn. Thêm vào đó, phụ nữ có đáp ứng miễn dịch mạnh hơn so với nam

giới. Một lý do cho sự khác biệt về tỷ lệ giới tính ở người bệnh Basdow có thể

là do các hiệu ứng điều hòa miễn dịch nổi bật của estrogen. Estrogen làm



62



giảm tỷ lệ tế bào CD4 + T / CD8 + T và độc tính TNF-α trong tế bào T và làm

tăng bài tiết globulin miễn dịch, kích hoạt các tế bào B sản xuất IgG và IgM

trong các tế bào đơn nhân máu ngoại vi. Nồng độ estrogen cao làm giảm các

con đường gây viêm nhiễm và làm tăng các con đường chống viêm nhiễm.

Như vậy Estrogen làm giảm sự ức chế tế bào lympho T hỗ trợ (Th) và khi có

mặt kháng ngun đặc hiệu sẽ kích thích tế bào lympho B đặc hiệu sản xuất ra

kháng thể kích thích tuyến giáp [40]. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho rằng

dường như nhiễm sắc thể X là nguồn gốc tăng tính nhạy cảm với bệnh hơn là

hormon sinh dục vì tính nhạy cảm này vẫn tồn tại sau khi mãn kinh [2].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả của các tác giả khác:

Nghiên cứu của Đào Thị Dừa năm 2016 có tỷ lệ nữ/nam là: 3,84/1 [41], Phạm

Thị Ngọc Quyên năm 2012 có tỷ lệ 3,7/1 [42] và nghiên cứu của Y.S.Hussain

năm 2017 có tỷ lệ nữ/nam là 4/1. Tuy nhiên kết quả của chúng tôi tỷ lệ

nữ/nam thấp hơn kết quả của tác giả Ngô Thị Phượng (2008): tỷ lệ nữ/ nam

của tác giả này là: 4,75/1[4]; nghiên cứu của Trần Hoài Nam và cộng sự

(2017) có tỷ lệ nữ/ nam là 6,36/1 [22]. Sự khác biệt này có thể là do đối tượng

nghiên cứu của chúng tơi là người bệnh Basedow mới mắc còn đối tượng

nghiên cứu của Ngơ Thị Phượng và Trần Hồi Nam bao gồm cả người bệnh

mới mắc bệnh, người bệnh tái phát và người bệnh đang điều trị.

Bảng 4.1. Tỷ lệ nữ bị bệnh Basedow của một số tác giả

Năm



n



Tỷ lệ nữ bị bệnh

Basedow



Mihail Boyanov



2010



98



77,55%



Aleksandar



2009



52



86,54%



Earn H Gan



2017



370



85%



Lê Nhân Tuấn



2012



543



77,2%



Kết quả nghiên cứu



2018



44



79,5%



Tác giả



63



4.1.3. Đặc điểm lâm sàng của người bệnh Basedow khi vào viện:

Các triệu chứng lâm sàng của người bệnh Basedow rất đa dạng, phong

phú và thể hiện ở rất nhiều cơ quan tổ chức vì hormon tuyến giáp có tác dụng

trên rất nhiều hoạt động của cơ thể. Biểu hiện đặc trưng trên lâm sàng là hội

chứng nhiễm độc giáp. Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả ở bảng 3.2

cho thấy: các triệu chứng lâm sàng kinh điển đều xuất hiện với tần số cao

như: hồi hộp đánh trống ngực chiếm 75%, nhịp tim nhanh là 68,2%, tiếp theo

là triệu chứng run tay chiếm 65,9%; bướu mạch chiếm 63,6%. Gầy sút là lý

do chính khiến người bệnh đi khám bệnh chiếm: 56,8%. Các triệu chứng ít

gặp như nóng bức, ra nhiều mồ hơi chiếm 35,7% và triệu chứng lồi mắt chỉ

chiếm tỷ lệ 25%.

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác cho thấy các triệu chứng lâm

sàng đều gặp với tỷ lệ khá cao. Nghiên cứu của Đoàn Thị Anh Đào: triệu

chứng nhịp tim nhanh thường xuyên gặp với tỷ lệ cao nhất là 90%; hồi hộp,

đánh trống ngực có tỷ lệ 70%; bướu mạch chiếm tỷ lệ 71,4%; gầy sút chiếm

60%. Nghiên cứu của Ngô Thị Phượng các triệu chứng thường gặp nhất là run

tay: 95,9%; ra nhiều mồ hôi: 95,6%; sút cân: 94,2%; nhịp tim nhanh: 87,6%.

Đào Thị Dừa nghiên cứu trên 63 người bệnh cũng thấy rằng triệu chứng

nhịp tim nhanh chiếm tỷ lệ cao nhất: 84,13%; hồi hộp đánh trống ngực:

63,49%; run tay: 58,73%.

Như vậy ở người bệnh Basedow, nhịp tim nhanh là triệu chứng sớm nhất

và hầu như bao giờ cũng có, mạch nhanh đơi khi kèm ngoại tâm thu.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi có triệu chứng lâm sàng cũng đa dạng

và phong phú như các nghiên cứu nêu trên nhưng gặp với tỷ lệ thấp hơn. Đặc

biệt dấu hiệu lồi mắt trong nghiên cứu này là 25% thấp hơn tỷ lệ người bệnh

lồi mắt ở nghiên cứu của Đồn Thị Anh Đào (68,6%) và Ngơ Thị Phượng

(42,3%). Tỷ lệ người bệnh có triệu chứng nóng bức ra nhiều mồ hôi của



64



chúng tôi cũng thấp hơn so với Đào Thị Dừa (35,7% so với 66,67%) và triệu

chứng gầy sút cân của chúng tôi cũng thấp hơn so với Đào Thị Dừa (56,8% so

với 84,13%). Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do khác biệt về đối

tượng nghiên cứu: phần lớn đối tượng nghiên cứu của các tác giả này đều có

thời gian mắc bệnh dài hơn và đã được điều trị nội khoa còn đối tượng nghiên

cứu của chúng tôi đều là người bệnh mới mắc và thời gian phát hiện bệnh

ngắn hơn. Sự phát triển kinh tế xã hội kết hợp với công tác tuyên truyền,

phòng chống bệnh bướu cổ được triển khai sâu rộng ở tất cả các địa bàn dân

cư giúp cho người dân hiểu biết nhiều hơn về căn bệnh bướu cổ nói chung và

basedow nói riêng.

4.1.4. Đặc điểm một số chỉ số hóa sinh máu của người bệnh Basedow khi

vào viện

Trong nghiên cứu của chúng tôi ở thời điểm khi người bệnh được chẩn

đốn bệnh, hầu hết các chỉ số hóa sinh máu trong giới hạn bình thường (bảng

3.3). Có 8/44 người bệnh có Gluco máu tăng (chiếm 18,2%), 6/44 người bệnh

có tăng AST (chiếm 13,6%), 9/44 người bệnh (chiếm 20,5%) tăng ALT. Có

23/44 người bệnh (chiếm 52,3%) có giảm cholesterol máu, 2/44 người bệnh

giảm triglycerid (chiếm 4,5%) và 8/44 người bệnh có giảm HDL (chiếm

18,2%). Tuy nhiên mức tăng, giảm nồng độ các xét nghiệm hóa sinh máu

khơng nhiều vì chúng tôi đã loại trừ những người bệnh mắc các bệnh lý kèm

theo như đái tháo đường, suy thận, bệnh gan nặng....Do vậy nồng độ trung

bình của tất cả các xét nghiệm hóa sinh máu đều trong giới hạn bình thường.

4.2. Xác định nồng độ TRAb, TSH, hormon tuyến giáp ở đối tượng

nghiên cứu trước và sau điều trị nội khoa bằng Thiamazole

4.2.1. Nồng độ TRAb, TSH và các hormon tuyến giáp trước điều trị

Tất cả 44 người bệnh trong nghiên cứu của chúng tơi đã được chẩn đốn

xác định Basedow và 100% người bệnh có TRAb tăng so với giá trị tham



65



chiếu. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu lại có 9/44 trường hợp (chiếm 20,5%)

nồng độ T3 khơng tăng, 20/44 trường hợp (chiếm 45,5%) không tăng nồng độ

T4, 7/44 trường hợp (chiếm 15,9%) không tăng nồng độ FT3, 4/44 trường

hợp (chiếm 9,1%) không tăng nồng độ FT4 và 4/44 trường hợp (chiếm 4,5%)

khơng có giảm nồng độ TSH. Điều này cho thấy các xét nghiệm hormon

tuyến giáp (T3, T4, FT3, FT4) và xét nghiệm TSH ở người bệnh Basedow

không phải lúc nào cũng phù hợp với triệu chứng và chẩn đoán cường giáp

trên lâm sàng (T3, T4, FT3, FT4 tăng và TSH giảm). Do đó việc sử dụng xét

nghiệm TRAb trong việc chẩn đoán bệnh Basedow là rất cần thiết tránh bỏ sót

người bệnh.



 Nồng độ hormon tuyến giáp và TSH:

Từ kết quả của bảng 3.4 cho thấy: nồng độ trung bình của tất cả hormon

tuyến giáp trước điều trị đều tăng. Cụ thể T3 là 6,6 ± 3,1 nmol/ L; T4 là 189,8

± 66,35 nmol/ L; FT3 là 26,81 ± 15,86 pmol/L và FT4 là 62,6 ± 31,37

pmol/L. Chúng tơi nhận thấy mức tăng trung bình của FT3 là cao nhất (4 lần),

sau đó là FT4 (gần 3 lần), T3 tăng khoảng 2 lần và T4 có mức tăng thấp nhất.

Điều này là phù hợp với các quan điểm khoa học là FT3 và FT4 có giá trị hơn

trên lâm sàng đặc biệt FT3 nhạy hơn trong chẩn đốn cường giáp. Kết quả

nghiên cứu của chúng tơi tương tự các tác giả khác đã nghiên cứu trước đó.

Nghiên cứu của Đồn Thị Anh Đào có nồng độ trung bình của FT4 là 55,11 ±

27,64 pmol/L. Tác giả Ngơ Thị Phượng thấy FT4 tăng 4,5 lần, T3 tăng 4,4 lần.

Tác giả Peter Laurberg thấy: nồng độ T3, T4 trung bình ở người bệnh

Basedow tăng lần lượt là: 5,4 nmol/L (4,2 nmol/L – 7,1 nmol/L) và 201

nmol/L (175 nmol/L –255 nmol/L) [44].

Nồng độ TSH trung bình trong nghiên cứu của chúng tơi là: 0,046 ± 0,18

µU/mL, giảm thấp hơn so với bình thường. Kết quả này phù hợp với nghiên

cứu của tác giả Đào Thị Dừa có nồng độ TSH trung bình: 0,1 ± 0,02 µU/mL,



66



nghiên cứu của Đồn Thị Anh Đào có nồng độ TSH trung bình: 0,036 ± 0,18

µU/mL; tác giả Nguyễn Phụng cũng nhận thấy nồng độ TSH giảm 21 lần [45].

Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tơi có nồng độ trung bình của hormon

tuyến giáp cao hơn và TSH thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Hoài Nam.

Trong nghiên cứu của Trần Hoài Nam và cộng sự FT3, FT4 và TSH lần lượt

là 16,7 ± 15,3 pmol/L; 36,6 ± 30,2 pmol/L và 0,9 ± 1,9 µU/mL; nghiên cứu

của Đỗ Gia Nam: FT3 là 15,03 ±9,92 pmol/L; FT4 là 32,45 ± 19,69 pmol/L.

Điều này có thể do nghiên cứu của Trần Hoài Nam và Đỗ Gia Nam bao gồm

cả những người bệnh đang điều trị.

Y.S.Hussain nghiên cứu trên 341 người bệnh Basedow có TRAb dương

tính nhận thấy người bệnh có TSH bị ức chế trước khi bắt đầu điều trị ngoại

trừ 1 người bệnh có nồng độ TSH bình thường nhưng FT3, FT4 tăng. Nồng

độ FT4 và FT3 trung bình của người bệnh trước khi điều trị lần lượt là 33,0

(24,6–47,0) pmol/L và 12,9 (8,8–20,4) pmol/L [39].

Như vậy, các nghiên cứu đều ghi nhận nồng độ hormon tuyến giáp ở

người bệnh Basedow đều tăng cao và nồng độ TSH giảm thấp hơn so với giá

trị bình thường. Mức độ tăng nồng độ hormon tuyến giáp và giảm nồng độ

TSH tùy thuộc vào thời điểm phát hiện bệnh và sự điều trị trước đó.



 Nồng độ TRAb:

Trong nghiên cứu của chúng tôi nồng độ TRAb ở người bệnh Basedow

trước điều trị cao gấp nhiều lần so với giá trị bình thường, 100% ĐTNC có

TRAb tăng, nồng độ trung bình là 18,18 ± 12,28 U/L. Kết quả này tương tự

với các tác giả khác.

Aleksandar Aleksic và cộng sự nghiên cứu trên 52 người bệnh Basedow

mới được chẩn đoán cho thấy: 100% người bệnh có nồng độ TRAb trước điều

trị tăng cao. Xét nghiệm định lượng TRAb có độ nhạy là 100%, độ đặc hiệu là

97%; giá trị dương tính, giá trị âm tính lần lượt là 98% và 100%. Điều này



67



chứng tỏ vai trò quan trọng của xét nghiệm TRAb trong chẩn đốn bệnh

Basedow. Ngồi ra, tác giả cũng đã khẳng định nồng độ TRAb tăng cao giúp

chẩn đoán phân biệt bệnh Basedow với các nguyên nhân gây cường giáp khác

Đào Thị Dừa nghiên cứu trên 63 người bệnh Basedow cho thấy nồng độ

TRAb ở người bệnh Basedow cao gấp nhiều lần so với giá trị bình thường,

hầu hết các người bệnh Basedow đều có TRAb dương tính (95,23%) với nồng

độ trung bình là: 19,61±19,48 U/l, trung vị là 6,5 U/l.

Bảng 4.2. Tỷ lệ người bệnh có nồng độ TRAb trước điều trị tăng cao của

một số tác giả:

Tác giả



Năm



Tỷ lệ người bệnh có TRAb tăng trước

điều trị



Dr. Ghada A.Elfadil



2014



90%



Matthias S.



2009



97%



Jia Liu



2017



95%



Aleksandar Aleksic



2009



100%



Lê Nhân Tuấn



2012



85,5%



Đào Thị Dừa



2016



95,23%



Phan Sỹ An



2008



90%



Đồn Thị Anh Đào



2009



100%



Tỷ lệ người bệnh có nồng độ TRAb tăng cao trước điều trị của chúng tôi

tương tự với kết quả của các tác giả: Matthias S. và cộng sự [46], Jia Liu [47],

Aleksandar Aleksic, Đào Thị Dừa, Đoàn Thị Anh Đào. Như vậy, tất cả các

nghiên cứu đều nhận thấy rằng: nồng độ TRAb trước điều trị ở người bệnh

Basedow tăng cao, tỷ lệ TRAb dương tính đạt 90 – 100%



68



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt với một số tác giả khác

về nồng độ hormon tuyến giáp, TSH và TRAb. Cụ thể: nồng độ TRAb, FT4

cao hơn và nồng độ TSH thấp hơn so với tác giả Mihail Boyanov (2010),

Ghada Ab.Elfadil (2014) [32]. Sở dĩ có sự khác biệt này là do sử dụng phương

pháp xét nghiệm khác nhau. Các tác giả này định lượng hormon tuyến giáp,

TSH theo phương pháp hóa phát quang và định lượng TRAb theo phương

pháp ELSA cả 2 phương pháp này đều có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp hơn so

với phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang được sử dụng trong nghiên

cứu của chúng tơi.

4.2.2. Liên quan giữa nồng độ TRAb trung bình trước điều trị với giới tính

của đối tượng nghiên cứu:

Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy nồng độ TRAb trước điều trị của người

bệnh Basdow ở cả hai giới đều tăng cao (Nam: 18,38 ± 14,78 U/L; Nữ: 18,13

± 11,79 U/L) và nồng độ TRAb trung bình ở nam cao hơn so với nữ. Tuy

nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như tác giả Peter Laurberg và

cộng sự nghiên cứu trên 208 người bệnh trong đó có 176 nữ và 32 nam cũng

nhận thấy rằng khơng có mối tương quan giữa nồng độ TRAb trước điều trị

với giới tính của người bệnh[44].

Tuy nhiên kết quả của chúng tơi lại có sự khác biệt với nghiên cứu của

Ngô Thị Phượng. Theo Ngô Thị Phượng nồng độ TRAb trung bình trước điều

trị của nam giới là: 10,5 ± 4,8 U/L cao hơn so với nữ giới: 8,9 ± 4,7 U/L và sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05. Nguyên nhân của sự khác biệt

này có thể là do số lượng mẫu nghiên cứu của Ngô Thị Phượng (n = 362)

nhiều hơn so với chúng tôi (n = 44) và tác giả này so sánh nồng độ TRAb

trung bình của tất cả người bệnh trước và sau điều trị ở cả hai giới.



69



4.2.3. Thay đổi nồng độ TRAb sau điều trị 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng

Các thuốc kháng giáp trạng tổng hợp hiện nay được sử dụng có 2 nhóm:

mercaptoimidazole và propylthiouracil. Đối tượng nghiên cứu trong nghiên

cứu của chúng tôi được sử dụng thuốc Thiamazol thuộc nhóm mercaptoimidazole.

Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế sự hợp nhất iod với tyrosine và vì vậy ức

chế tổng hợp các hormon tuyến giáp. Thiamazole khơng tác động vào q

trình giải phóng các hormon tuyến giáp đã được tổng hợp trước từ tuyến giáp,

không ức chế việc chuyển T4 thành T3 ở mô ngoại vi. Tác dụng ức chế miễn

dịch của thuốc có thể là gián tiếp, gây ra bởi sự suy giảm nồng độ hormon

tuyến giáp [49], hoặc trực tiếp bằng cách tác động vào quá trình tổng hợp

TRAb trên các tế bào lympho và hệ miễn dịch [50] [51]. Chính vì vậy hầu hết

các người bệnh đều có nồng độ TRAb giảm dần sau điều trị.

Kết quả trong bảng 3.7 và biểu đồ 3.2 cho thấy: nồng độ TRAb giảm dần

sau điều trị 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng. Sau 1 tháng điều trị có 37/44 người

bệnh chiếm tỷ lệ 84,1% có nồng độ TRAb giảm, 95,45% người bệnh có nồng

độ TRAb giảm sau 3 tháng điều trị và 100% người bệnh sau 6 tháng điều trị

bằng Thiamazol có nồng độ TRAb giảm xuống thấp hơn so với trước điều trị.

Tuy nhiên vẫn còn có 5/44 người bệnh sau 1 tháng điều trị và 2/44 người bệnh

sau 3 tháng điều trị có nồng độ TRAb tăng lên so với thời điểm trước điều trị.

Điều này có thể do thuốc khơng ức chế được q trình giải phóng các hormon

tuyến giáp đã được tổng hợp trước đó và gắn với Thyroglobulin.

Kết quả nghiên cứu của chúng tương tự như nghiên cứu của một vài tác

giả khác:

Tác giả Lê Nhân Tuấn nghiên cứu trên 124 người bệnh basedow cho

thấy tại các thời điểm sau điều trị 3 – 6 tháng, 12 – 24 tháng: 100% người

bệnh có nồng độ TRAb giảm so với trước điều trị và tại thời điểm 12 – 24 tháng

có 60 người bệnh có TRAb dương tính chuyển thành TRAb âm tính [34].



70



Peter Laurberg và cộng sự nghiên cứu sự thay đổi nồng độ TRAb trên

179 người bệnh được chẩn đoán là Basedow và được điều trị theo 3 phương

pháp khác nhau: Điều trị nội khoa, phẫu thuật và điều trị phóng xạ cũng nhận

thấy rằng: người bệnh ở nhóm điều trị nội khoa có nồng độ TRAb giảm dần

sau điều trị và nồng độ TRAb trở về âm tính ở 70 – 80% người bệnh sau 18

tháng điều trị [37]. Trong nghiên cứu của chúng tôi mới chỉ có 2/44 người

bệnh có nồng độ TRAb trở về giá trị bình thường (âm tính) sau 6 tháng điều

trị mặc dù đa số người bệnh đã đạt trạng thái bình giáp

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tơi khác với kết quả nghiên

cứu của tác giả Đồn Thị Anh Đào. Theo tác giả này có 73,5% người bệnh có

nồng độ TRAb sau 2 tháng điều trị tăng lên và sự khác biệt về nồng độ TRAb

của người bệnh trước và sau điều trị khơng có ý nghĩa thống kê. Sự khác biệt

này có thể do khác biệt về thời gian theo dõi sau điều trị. Trong nghiên cứu

của chúng tôi người bệnh được theo dõi điều trị trong thời gian 6 tháng và

ĐTNC là những người mới mắc bệnh trong đó có 6 người bệnh có nồng độ

TRAb trước điều trị tăng dưới 2 lần so với giá trị tham chiếu, còn nghiên cứu

của Đồn Thị Anh Đào người bệnh chỉ được theo dõi điều trị trong 2 tháng

(khoảng thời gian quá ngắn để thấy được sự thay đổi nồng độ TRAb trong máu).

Cũng do sự khác biệt về thời gian nghiên cứu của chúng tôi so với nghiên cứu

của tác giả Lê Nhân Tuấn và Peter Laurberg (6 tháng so với 24 và 18 tháng)

nên hai nghiên cứu trên có số người bệnh có nồng độ TRAb trở về âm tính lần

lượt là 48,4% và 70-80%.

4.2.4. Thay đổi nồng độ hormon tuyến giáp và TSH của đối tượng nghiên

cứu sau điều trị

Các thuốc KGTTH nói chung và Thiamazol nói riêng có tác dụng làm

giảm nồng độ hormon tuyến giáp. Tác dụng chính của chúng là ức chế tổng

hợp hormon tuyến giáp bằng cách can thiệp vào q trình iod hóa các gốc

tyrosine trong phân tử thyroglobulin, một bước quan trọng trong tổng hợp



71



thyroxine và triiodothyronine. Như vậy các hormon tuyến giáp dưới sự tác

động của thuốc Thiamazol đã bị ức chế tổng hợp do đó tỷ lệ người bệnh tăng

nồng độ hormon tuyến giáp và giảm nồng độ TSH sau điều trị 1 tháng, 3

tháng và 6 tháng đều giảm.

Từ kết quả ở bảng 3.8 và biểu đồ 3.3 thấy rằng: nồng độ T3 trung bình

của người bệnh giảm dần sau điều trị. Nồng độ trung bình của T3 sau điều tri

1 tháng, 3 tháng và 6 tháng lần lượt là: 3,94 ± 2,58 nmol/L; 2,65 ± 1,4 nmol/L

và 1,96 ± 0,69 nmol/L.

Tỷ lệ người bệnh có nồng độ T3 sau điều trị trở về bình thường ngày

càng nhiều (sau điều trị 1 tháng: 45,5%, sau 3 tháng: 70,5% và sau 6 tháng:

88,6%), đồng thời tỷ lệ người bệnh có nồng độ T3 cao ngày càng giảm (Trước

điều trị: 79,5%; sau điều trị 1 tháng: 52,3%; sau 3 tháng: 25% và sau 6 tháng

chỉ còn 2/44 người bệnh có nồng độ T3 cao).

Kết quả ở bảng 3.9 và biểu đồ 3.4 trong nghiên cứu của chúng tôi cũng

cho thấy: nồng độ FT4 của người bệnh Basedow sau điều trị đều giảm dần.

Nồng độ FT4 trung bình sau điều trị 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng lần lượt là:

26,85 ± 18,49 pmol/L; 16,27 ± 6,47 pmol/L và 14,98 ± 3,25 pmol/L.

Tỷ lệ người bệnh có nồng độ FT4 trở về bình thường ngày càng tăng

nhiều (sau điều trị 1 tháng: 54,5%, sau 3 tháng: 68,2% và sau 6 tháng: 93,2%)

và số lượng người bệnh có nồng độ FT4 cao ngày càng ít (Trước điều trị:

90,9%; sau điều trị 1 tháng: 29,6%; sau 3 tháng: 11,3% và khơng có người

bệnh nào có nồng độ FT4 cao hơn giá trị tham chiếu sau 6 tháng điều trị

Ngược lại với nồng độ T3 và FT4, nồng độ TSH của người bệnh lại tăng

dần sau điều trị. Từ kết quả ở bảng 3.10 và biểu đồ 3.5 nhận thấy: nồng độ

hormon TSH trung bình của người bệnh tăng dần sau điều trị. Nồng độ TSH

trung bình sau điều trị 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng lần lượt là: 0,13 ± 0,29

µU/mL; 0,96 ± 1,75 µU/mL và 1,42 ± 1,59 µU/mL



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa nồng độ TRAb trung bình sau điều trị và thời gian mắc bệnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×