Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



- Về cấu trúc mô học, người ta phân chia thành hai loại: Mơ giáp bình

thường với các nang chứa đầy chất keo (nang giáp) và mô giáp với các tế bào

cạnh nang (tế bào C). Các nang phân cách với nhau bởi mơ liên kết. Mỗi nang

có một hàng tế bào biểu mơ trụ, hình dạng phụ thuộc vào hoạt động của

tuyến. Chất keo trong nang tuyến giáp chính là thyroglobulin, do các tế bào

tuyến của thành nang tuyến tạo nên. Xen kẽ giữa tế bào nang và màng đáy là

tế bào cạnh nang (tế bào C). Tế bào nang giáp chính là nơi sản xuất ra hormon

tuyến giáp [8].



nang giáp

tế bào C



Chất keo

tế bào nang



Hình 1.2. Cấu tạo vi thể tuyến giáp

1.1.2. Sinh lý tuyến giáp

1.1.2.1. Tổng hợp hormon tuyến giáp

- Tuyến giáp bài tiết 2 hormon là thyroxin (T4) và triiodothyronin (T3).

Ngồi ra tuyến giáp còn bài tiết một lượng nhỏ các tiền chất của T3, T4 là

monoiodotyrosin (MIT), diiodotyrosin (DIT) và một dạng không hoạt động

rT3 (reverse T3: 3,3’,5’-L-triiodothyronin).

- Khoảng 40% T4 bài tiết được chuyển thành T3 và 45% thành rT3 bởi

quá trình khử iod ở các mô ngoại vi. T3 hoạt động mạnh hơn T4 bốn đến năm

lần và có khoảng 1/3 lượng T4 được chuyển thành T3 ở mô ngoại vi nên T4

được xem như tiền hormon [9][10].



5



- Tổng hợp hormon tuyến giáp bao gồm nhiều phản ứng được xúc tác

bởi các enzym đặc hiệu và được chia thành 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Hấp thu và cô đặc iod bởi các tế bào tuyến giáp.

Iod được hấp thu bởi ruột dưới dạng iodua (I -) và nhanh chóng được gắn

vào tuyến giáp. Tuyến giáp giữ khoảng 1/3 lượng iod toàn cơ thể. Sự bắt iod

cần năng lượng, nhờ vào bơm iod với sự hoạt động của Na-K-ATPase. Ở

tuyến giáp bình thường, bơm iod tập trung iod tại tuyến giáp gấp 30 lần trong

máu. Khi tuyến giáp tăng hoạt động, sự tập trung này có thể tăng đến gấp 250

lần. Giai đoạn này được kích thích chủ yếu bởi TSH và thioure, bị ức chế bởi

các anion: thiocyanat SCN, clorat ClO4

+ Giai đoạn 2: Oxy hóa iod nhờ q trình xúc tác của peroxidase màng.

Các chất thioure, thiouracil và cyanua CN ức chế hoạt động của Enzym này.

+ Giai đoạn 3: Gắn iod phân tử vào thyroglobulin.

Các phân tử iod được gắn vào các gốc tyrosin trong phân tử protein

thyroglobulin tạo nên MIT (Monoiodotyrosin) và DIT (Diiodotyrosin). Sau đó

là sự ngưng tụ 2 phân tử DIT với nhau tạo nên T4 (đây là quá trình chủ yếu)

hoặc ngưng tụ MIT với DIT tạo nên T3. T3 và T4 được tạo ra ngay trong phân

tử thyroglobulin. Các phản ứng này được kích thích bởi TSH. Các dạng suy

giáp bẩm sinh do thiếu hụt một trong các enzym liên quan.

+ Giai đoạn 4: Thủy phân thyroglobulin giải phóng T3, T4 vào máu.

Thyroglobulin do tế bào nang tuyến bài tiết ra được dự trữ trong dịch

nang của tuyến giáp. Dưới tác dụng của các protease, thyroglobulin được thủy

phân giải phóng T3, T4 vào máu và q trình này được kích thích bởi TSH.

Một lượng nhỏ thyroglobulin cũng đi vào tuần hoàn. Trong máu T3, T4 được

vận chuyển 70-75% bởi thyroxin binding globulin (TBG), 15-20% bởi

thyroxin binding prealbumin (TBPA), còn một phần nhỏ gắn với Albumin.



6



Hình 1.3. Sinh tổng hợp Hormon tuyến giáp

1.1.2.2. Hormon tuyến giáp trong máu

Nồng độ T3 và T4 trong huyết thanh lần lượt là 1 – 2,9 nmol/L và 60 –

150 nmol/L. Cả 2 hormon đều gắn phần lớn với protein vận chuyển trong

máu, chỉ có 0,04% T4 và 0,4% T3 ở dạng tự do và đây cũng chính là dạng có

hoạt tính hormon. Mặc dù nồng độ T4 bình thường cao gấp 50 lần T3 nhưng

FT4 chỉ gấp 2 – 3 lần FT3. Ở mô, phần lớn tác động của T4 là do chuyển

thành T3, vì vậy T4 có thể xem như là tiền hormon.



7



Protein gắn hormon tuyến giáp chính là TBG, TBG bão hòa khoảng 1/3

ở nồng độ hormon tuyến giáp bình thường. Chỉ dạng hormon tự do khơng gắn

protein là dạng hoạt động. Lượng hormon T3 và T4 trong máu thay đổi có ý

nghĩa bởi sự thay đổi hàm lượng các protein gắn hormon này.

1.1.2.3. Điều hòa bài tiết hormon tuyến giáp



Hình 1.4. Sơ đồ cơ chế điều hòa ngược



8



Điều hòa bài tiết hormon tuyến giáp được thực hiện thông qua trục: vùng

dưới đồi – tuyến yên – tuyến giáp. TRH được tổng hợp và dự trữ ở vùng dưới

đồi, khi bài tiết sẽ có tác dụng kích thích tuyến yên sản xuất và bài tiết TSH,

TSH kích thích tuyến giáp tổng hợp và bài tiết hormon tuyến giáp. Khi

hormon tuyến giáp tăng sẽ ức chế bài tiết TRH và TSH. Cơ chế điều hòa

feedback này đòi hỏi vùng dưới đồi, tuyến yên, tuyến giáp hoạt động bình

thường cũng như khơng có tác nhân ảnh hưởng nào hay các yếu tố tác động

giống TSH nào trong máu.

1.1.2.4. Tác dụng của hormon tuyến giáp

Hormon tuyến giáp đóng vai trò cơ bản trong sự tăng trưởng và phát

triển bình thường của cơ thể, có nhiều tác dụng trên chuyển hóa. Chúng tác

dụng bằng cách đi vào trong tế bào, gắn với recetor đặc hiệu ở trong nhân, tại

đây chúng kích thích sinh tổng hợp nhiều loại mRNA khác nhau, do vậy kích

thích tổng hợp nhiều hormon và enzym

- Tác dụng lên chuyển hóa tế bào

+ T3, T4 làm tăng tiêu thụ O2 ở hầu hết các mô trong cơ thể nên làm

tăng chuyển hóa cơ bản (CHCB), ngoại trừ não, tinh hồn, tử cung, lách, bạch

huyết, tiền n.

+ Tăng kích thước và số lượng ty thể do đó tăng tổng hợp ATP để cung

cấp năng lượng cho các hoạt động chức năng của cơ thể. Khi cường giáp, các

ty lạp thể càng tăng hoạt động, năng lượng khơng tích lũy hết dưới dạng ATP

mà thải ra dưới dạng nhiệt.

+ Hormon tuyến giáp hoạt hố men Na-K-ATPase do đó làm tăng vận

chuyển ion Na, K qua màng tế bào một số mô, quá trình này cần sử dụng

năng lượng và tăng sinh nhiệt nên được coi là cơ chế làm tăng chuyển hoá

của cơ thể.



9



- Tác dụng trên sự tăng trưởng: Tác dụng này thể hiện rõ ở thời kỳ đang

lớn của trẻ, cùng với GH làm cơ thể phát triển.

- Tác dụng trên chuyển hóa: Bao gồm:

+ Chuyển hóa Glucid: Hormon tuyến giáp tác dụng đến hầu hết các giai

đoạn của q trình chuyển hố glucid, bao gồm tăng thu nhận glucose ở ruột,

tăng tạo đường mới, tăng phân hủy glycogen thành glucose ở gan, do đó gây

tăng glucose máu nhưng chỉ tăng nhẹ.

+ Chuyển hóa Lipid: tăng thối hóa lipid ở mơ mỡ dự trữ do đó gây tăng

nồng độ acid béo tự do huyết thanh và tăng oxy hóa acid béo tự do ở mô sinh

năng lượng. Giảm lượng cholesterol, phospholipid, triglycerid huyết thanh, do

đó người nhược năng tuyến giáp có thể có tình trạng xơ vữa động mạch.

+ Chuyển hóa Protid: Ở liều sinh lý T3,T4 làm tăng tổng hợp protein

giúp cho sự phát triển và tăng trưởng cơ thể, nhưng ở liều cao, tác dụng dị hóa

nổi bật, gây mất protein ở mơ, vì vậy người bệnh cường giáp thường gầy.

+ Chuyển hóa vitamin và chất khống: T3,T4 cần cho sự hấp thu vitamin

B12 ở ruột và chuyển caroten thành vitamin A. Tăng chuyển hóa calci và

phospho.

- Tác dụng trên hệ thần kinh cơ: Hormon tuyến giáp thúc đẩy phát triển

trí tuệ; liều cao gây hoạt bát, bồn chồn, kích thích; nhược năng ở trẻ gây chậm

phát triển về trí tuệ. Tăng hoạt động các synap thần kinh ở vùng tủy chi phối

trương lực cơ gây dấu hiệu run cơ.

- Tác dụng lên tim mạch: Làm tăng số lượng các receptor ở tim do đó

tim nhạy cảm với catecholamin nhiều hơn, làm nhịp tim nhanh. Trên mạch

máu: tăng chuyển hóa và tăng các sản phẩm chuyển hóa ở mơ gây giãn mạch,

làm tăng lưu lượng tim, có khi tăng trên 60% trong cường giáp và giảm chỉ

còn 50% so với bình thường trong nhược năng giáp.



10



- Tác dụng lên cơ quan sinh dục: Sự hoạt động bình thường của tuyến

giáp cần thiết cho sự phát triển bình thường của bộ máy sinh dục.

1.2. Tổng quan về bệnh Basedow

1.2.1. Định nghĩa

Basedow là một bệnh tự miễn, được đặc trưng bởi cường chức năng

tuyến giáp kết hợp với tăng sản bướu lan tỏa do các kháng thể kháng thụ thể

kích thích tuyến giáp (TSH) xuất hiện và lưu hành trong máu. Các kháng thể

này gắn với các thụ thể của TSH (TSH Receptor) trên màng tế bào tuyến giáp,

kích thích sản xuất và bài tiết hormon tuyến giáp vào máu. Cường giáp là hội

chứng gây ra do tình trạng tăng quá mức hormon tuyến giáp.

1.2.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh Basedow

1.2.2.1 Nguyên nhân

Ngày nay nhờ những tiến bộ về miễn dịch học, các nhà khoa học đã hiểu

khá chi tiết về bệnh sinh của basedow là một bệnh tự miễn. Rối loạn miễn

dịch gây ra các tổn thương tế bào tuyến giáp.

+ Rối loạn miễn dịch tế bào có vai trò quan trọng của sự khởi phát bệnh .

+ Rối loạn miễn dịch dịch thể: Bao gồm hai loại tự kháng thể chiếm 8090% các trường hợp: Kháng thể kháng Globulin tuyến giáp và kháng thể

kháng Microsom. Khoảng 20% các trường hợp còn lại khơng có mặt của các

kháng thể trên được giải thích bởi sự xuất hiện các phức hợp miễn dịch lưu hành.

- Một số yếu tố nguy cơ [2]:

+ Giới tính: Phụ nữ chiếm ưu thế.

+ Chủng tộc: Người da trắng, châu Á có tỷ lệ mắc cao hơn người da đen.

+ Thai nghén, đặc biệt giai đoạn chu sinh.

+ Dùng nhiều Iode, thuốc chứa Iode.

+ Muối Lithium có thể làm thay đổi đáp ứng miễn dịch.

+ Nhiễm vi khuẩn, virus.



11



+ Ngừng Corticoid đột ngột.

+ Stress tâm lý, giai đoạn đặc biệt của cuộc sống: dậy thì, mãn kinh.

+ Di truyền: Người có HLA-B8 DRW3 (dân Caucase), HLA - BW36

(Nhật), HLABW46, B5 (Trung quốc) dễ bị bệnh hơn.

1.2.2.2. Cơ chế bệnh sinh

Dưới tác động của các yếu tố môi trường (stress, nhiễm khuẩn, sang

chấn ...) có thể gây ra giảm số lượng và chức năng tế bào lympho dạng ức chế

(T suppressor - Ts), đồng thời kết hợp với sự giảm các tế bào Ts đặc hiệu tại

tổ chức sẽ làm giảm đi khả năng ức chế đối với lympho T hỗ trợ (T helper Th) là loại tế bào chống lại tuyến giáp và vì thế các tế bào Th này sẽ gia tăng.

Trong bệnh Basedow người ta thấy xuất hiện tự kháng nguyên HLA-DR tại

bề mặt màng tế bào tuyến giáp, kết hợp với sự gia tăng các tế bào Th và có sự

hiện diện các tế bào đơn nhân (monocyte); Kháng nguyên đặc hiệu làm cho

các tế bào Th đặc hiệu này sẽ kích thích tế bào lympho B đặc hiệu sản xuất ra

kháng thể kích thích tuyến giáp (TRSAb). TRSAb gắn cạnh tranh với TSH

vào thụ thể của TSH ở màng tế bào tuyến giáp kích thích làm tăng trình diện

tự kháng nguyên HLA-DR lên bề mặt tế bào tuyến giáp, làm gia tăng sản xuất

hormon giáp cũng như tăng sản xuất ra các interferon gamma (IFN- γ). Chất

IFN- γ tiếp tục kích thích tế bào tuyến giáp làm bộc lộ tự kháng nguyên HLADR lên bề mặt tế bào tuyến giáp, tác dụng này càng tăng lên nhờ sự hiện diện

của TRSAb. Hậu quả là các tế bào tuyến giáp trở thành tế bào trình diện

kháng ngun, kích thích Th đặc hiệu và tiếp tục duy trì tình trạng bệnh lý.

Bài tiết quá mức hormon giáp sẽ tác dụng trở lại trên các Ts gây ra giảm

số lượng và chức năng các tế bào Ts và tạo điều kiện cho sự gia tăng kích

thích các tế bào Th (T helper). Tuy vậy nếu khơng có bất thường về các tế bào

Ts đặc hiệu thì vòng xoắn bệnh lý sẽ khơng xảy ra và lúc đó q trình bệnh lý

tự miễn này sẽ kết thúc.



12



Nhiều nghiên cứu chỉ ra Basedow là bệnh lý tự miễn qua trung gian

lympho B và lympho T. Có sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế (Ts,

T8), cho phép tế bào lympho T hỗ trợ (Th) kích thích tế bào lympho B tổng

hợp các kháng thể chống lại tuyến giáp với ít nhất là 4 kháng nguyên của

tuyến giáp liên quan, đó là thyroglobulin (Tg), enzym peroxidase giáp (TPO thyroid peroxidase), chất đồng vận chuyển Na+/I- (sodium – iodide symporter)

và thụ thể TSH (Thyrotropin receptor). Trong đó globulin miễn dịch kích

thích tuyến giáp (TSI: Thyroid stimulating immunoglobulin hoặc TRAb kháng thể kích thích thụ thể TSH) gây tình trạng cường giáp.

Tuyến giáp bị kích thích liên tục bởi TRAb và TSH tuyến yên bị ức chế

do sự gia tăng nồng độ hormon giáp. TRAb làm phóng thích hormon giáp và

thyroglobulin và cũng kích thích thu nhận iod, tăng tổng hợp protein và phát

triển tuyến giáp. Dưới kích thích của TRAb, tế bào tuyến giáp tăng sinh về

số lượng, tăng cường hoạt động chức năng, nhu cầu oxy và chất dinh dưỡng

tăng dẫn tới phản ứng tăng sinh mạch máu, mở các shunt động - động mạch,

động mạch - tĩnh mạch để đáp ứng với nhu cầu gia tăng hoạt động của tế bào

tuyến. T3, T4 tăng trong máu làm cho người bệnh ở trạng thái cường giao

cảm, nhịp tim nhanh, cung lượng tim tăng, tốc độ dòng máu chảy qua tuyến

giáp tăng cao. Máu từ chỗ rộng đi qua chỗ hẹp, tốc độ dòng chảy tăng, gây

nên biểu hiện bướu mạch (rung mưu, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi liên tục).

Bình thường



Bệnh lý



Cơ chế bệnh sinh bệnh BASEDOW



13



Nang tuyến giáp không bị hủy hoại nhưng tế bào tuyến giáp có sự thâm

nhiễm các tế bào lympho là bất thường ban đầu về tổ chức ở người bệnh

Basedow và mức độ thâm nhiễm tương quan với nồng độ kháng thể.

Tại mắt: Tiến trình viêm nhiễm cơ hốc mắt có thể liên quan đến tế bào

lympho T gây độc (cytotoxic lymphocyte) hay còn gọi là các tế bào giết

(killer cell). Các kháng thể gây độc rất nhạy cảm với kháng nguyên TSH-R

(cũng có mặt ở tế bào sợi và tế bào cơ hốc mắt) gây viêm nguyên bào sợi ở

hốc mắt và viêm cơ hốc mắt. Kết quả gây sưng hốc mắt, lồi nhãn cầu [28].

Tóm lại: Trong bệnh Basedow người ta thấy xuất hiện tự kháng nguyên

HLA-DR tại bề mặt tế bào tuyến giáp kích thích hệ thống miễn dịch của cơ

thể sản xuất ra tự kháng thể chống lại tự kháng nguyên này. Tự kháng nguyên

xuất hiện chủ yếu tại thụ thể của TSH (TSHR) nên tự kháng thể cũng gắn

cạnh tranh với TSH tại TSH-R và tạo ra các tác dụng tương tự TSH nhưng lại

không bị ảnh hưởng bởi cơ chế feedback Đây là điểm mấu chốt trong bệnh

sinh và diễn biến của bệnh Basedow.

1.2.3. Triệu chứng bệnh Basedow

Bệnh hay gặp ở phụ nữ trẻ, khởi phát bệnh có thể đột ngột sau rối loạn

tâm lý, tình cảm bất kỳ nào đó hoặc sau nhiễm trùng. Cũng có trường hợp

bệnh diễn biến từ từ gầy sút mệt mỏi dần dần khó nhận biết ngay được[1].

1.2.3.1. Triệu chứng lâm sàng

Có thể biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến giáp [2].

a)- Bướu giáp:

Bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm, đàn hồi hoặc hơi

cứng, có thể có rung miu tâm thu, thổi tâm thu tại bướu, nếu bướu lớn có thể

chèn ép các cơ quan lân cận.

b)- Hội chứng nhiễm độc giáp

Các triệu chứng này thường tỉ lệ với mức tăng nồng độ hormon tuyến

giáp trong máu với nhiều cơ quan bị ảnh hưởng.



14



- Tim mạch: Là triệu chứng xuất hiện sớm nhất và hầu như bao giờ cũng

có. Nhịp tim nhanh > 100 l/ph thường xuyên ngay cả khi nghỉ, lúc gắng sức

hoặc khi xúc động tim đập nhanh hơn thường gây khó thở.

+ Huyết áp bình thường hoặc tăng nhẹ, chủ yếu tăng huyết áp tâm thu.

+ Các mạch máu đập mạnh. Có thể nhìn thấy các mạch máu lớn (ĐM

cảnh, ĐM dưới đòn, ĐM chủ bụng..) đập, có dấu hiệu mạch kích động: ĐM

chủ bụng đập mạnh, có thể nhìn thấy và sờ thấy đập rất mạnh dưới tay.

- Triệu chứng vận mạch: Thường gặp là triệu chứng sợ nóng, có thể 90%

các trường hợp. Các cơn giãn mạch làm người bệnh bừng nóng, đỏ mặt, có

khi xuất hiện ban đỏ trên cổ và ngực. Ra mồ hôi thường xuyên hoặc từng lúc

làm bàn tay dâm dấp mồ hơi (bàn tay Basedow).

- Dấu hiệu tăng chuyển hóa cơ bản: tăng thân nhiệt, ln có cảm giác

nóng và sợ nóng, lạnh thì dễ chịu.

- Biểu hiện thần kinh cơ

+ Dấu hiệu cường giao cảm: Run đầu chi, biên độ nhỏ, tần số nhanh, run

tăng lên khi xúc động hoặc cố gắng tập trung làm việc.

+ Phản xạ gân xương thường tăng, nhạy với pha phục hồi nhanh.

+ Yếu cơ tứ chi, đi lại chóng mỏi, có thể bị chuột rút.

- Rối loạn về hành vi: Người bệnh thường lo lắng, mất ngủ, bồn chồn, dễ

xúc động, cáu gắt, dễ bị kích động.

- Triệu chứng tồn thân: Gầy sút nhanh, 5 - 6 kg hoặc hơn sau một vài

tháng. Người bệnh thường bị teo cơ, rõ ở đai vai.

c) Biểu hiện đặc trưng ngoài tuyến giáp:

- Thương tổn mắt: Thường hay gặp là lồi mắt. Có 2 loại lồi mắt:

+ Lồi mắt giả: Tổn thương không thâm nhiễm liên quan đến bất thường

về chức năng do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, tăng thyroxin gây

tăng co kéo cơ nâng mi làm khoé mắt rộng ra.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×