Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+ Tiểu loại 2 (CLII/2): Các răng cửa giữa hàm trên ngả phía lưỡi, trong khi các răng cửa bên hàm trên ngả môi tách khỏi răng cửa giữa, độ cắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở vùng răng nanh thường rộng hơn bình thường. Sai khớp cắn loại II tiểu loại 2 thườn

+ Tiểu loại 2 (CLII/2): Các răng cửa giữa hàm trên ngả phía lưỡi, trong khi các răng cửa bên hàm trên ngả môi tách khỏi răng cửa giữa, độ cắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở vùng răng nanh thường rộng hơn bình thường. Sai khớp cắn loại II tiểu loại 2 thườn

Tải bản đầy đủ - 0trang

14

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phân loại khớp cắn theo tương

quan răng của Angle và chia thành các loại như sau:

KC loại I: tương quan răng hàm lớn thứ nhất hai bên loại I theo Angle.

KC loại II : tương quan răng hàm lớn thứ nhất hai bên loại II theo Angle.

KC loại III: tương quan răng hàm lớn thứ nhất hai bên loại III theo Angle.

KC HH: tương quan răng hàm lớn thứ nhất hai bên khơng giống nhau.

1.2. Phân tích, đánh giá phim sọ mặt thẳng từ xa kỹ thuật số

1.2.1. Phân tích trên phim sọ mặt thẳng từ xa kỹ thuật số.

1.2.1.1. Các mốc giải phẫu trên phim sọ mặt thẳng



Hình 1.9. Một số mốc giải phẫu thường được sử dụng trên phim



15

sọ mặt thẳng [13].



16

Bảng 1.1. Các mốc giải phẫu trên phim mặt thẳng

STT



Thuật ngữ

Tiếng Việt



1



Điểm đỉnh đầu



2



Điểm bên đầu



3



Điểm mào gà

Điểm gò mátrán

Điểm giữa ổ

mắt



4

5

6



Điểm cung tiếp



7



Điểm viền hố

mũi



Điểm gai mũi

trước

Điểm gò má 9

hàm trên

10 Điểm chẩm

8



11



Điểm răng cửa

trên



12



Điểm răng cửa

dưới



13



Điểm trước góc

hàm



14 Điểm giữa cằm



Thuật ngữ

Tiếng Anh



Định nghĩa



Điểm cao nhất xương sọ trên

đường giữa

Điểm nhô sang bên nhất của

Eurion

vùng xương thái dương- đỉnh

Crista galli

Điểm tâm mào gà xương sàng

Điểm trong nhất của khớp gò

Zygomaticofrontal

má- trán

Bregma



Orbital center





hiệu

Br

Eu

Cg

Z



Tâm ổ mắt



O



Điểm bên nhất cung tiếp xương

gò má



Zy



Nasal cavity



Điểm ngồi nhất viền hố mũi



Nc



Anterior Nasal

Spine



Điểm trước nhất của gai mũi

trước

Điểm ngồi nhất của khớp gò

má - hàm trên

Điểm thấp nhất mỏm chũm



Zygomatic arch



Jugale

Mastoidyle

Midpoint of

maxillary central

incisors

Midpoint of

mandibular central

incisors

Antegonion

Mention



ANS

J

Ma



Điểm đỉnh xương ổ giữa hai

răng cửa giữa hàm trên



A1



Điểm đỉnh xương ổ giữa hai

răng giữa hàm dưới



B1



Điểm nằm sâu nhất của khuyết

trước góc hàm dưới

Điểm thấp nhất bờ dưới cằm

trên đường giữa



Ag

Me



17



Hình 1.10. Một số mốc giải phẫu trên phim sọ mặt thẳng.

(Ulkur, Ozdemir et al. 2016) [14].

1.2.1.2. Các phân tích trên phim sọ mặt thẳng

* Phương pháp phân tích của Ricketts

Năm 1982, Ricketts RM đã phát triển hệ phân tích Rocky Mountain và đưa

ra các giá trị bình thường và giá trị chênh lệch giúp các nhà lâm sàng xác định

được mức độ khó khi điều trị cũng như giá trị lý tưởng đạt được ở từng bệnh



18

nhân. Phân tích Rocky Mountain, và theo đề nghị của Ricketts, bao gồm các chỉ

số sau đây:

a. Chiều rộng mũi hiệu quả

b. Mối quan hệ ngang hiệu quả giữa Hàm trên-hàm dưới

c. Chiều rộng Hàm dưới hiệu quả

d. Đối xứng của xương sọ

e. Chiều rộng cung răng tại vị trí răng hàm lớn thứ nhất

f. Chiều rộng cung răng ở vị trí răng nanh

g. Sự hài hòa giữa chiều rộng cung răng với xương hàm dưới

h. Sai lệch đường giữa của hàm dưới

i. Chỉ số của cắn chéo răng hàm

Trong đó:

Chiều rộng hàm dưới: được xác định bằng khoảng cách giữa điểm Ag

(Antegonion) bên trái và bên phải (Ag: điểm trước góc hàm- điểm nằm ở vị

trí lõm nhất phía trước ụ nhơ góc hàm).

Chiều rộng hàm trên: Chiều rộng hàm trên là khoảng cách giữa hai điểm

J (Jugale) phải và trái .

Sự chênh lệch thước ngang giữa xương hàm trên và xương hàm dưới

được tính bằng chiều rộng phù hợp với lứa tuổi của hàm dưới (Ag-Ag) trừ đi

chiều rộng phù hợp với lứa tuổi của hàm trên (J-J).

Chỉ số khác biệt kích thước ngang giữa hàm trên với hàm dưới (J-J/ AgAg) được đo bằng chênh lệch mong đợi (giá trị bình thường) trừ đi chênh lệch

thực tế đo trên bệnh nhân.

Ricketts đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra các tiêu chuẩn lâm sàng theo

lứa tuổi như sau [15]:



19

Giá trị chiều rộng của xương hàm dưới (Độ rộng xương hàm dưới là

khoảng cách Ag_Ag).

Giá trị: ở trẻ 3 tuổi: 68,25 ± 3mm.

Thay đổi: Tăng thêm 1,25mm mỗi năm.

Như vậy ở trẻ 12 tuổi thì giá trị chiều rộng của xương hàm dưới: khoảng

cách Ag-Ag là: 68,25 + 9*1,25 3mm hay bằng: 79,5 3mm.

Sự khác biệt kích thước ngang giữa xương hàm trên và xương hàm dưới

dưới đây là của người Caucasian. Bởi vì người Việt Nam chưa có những chỉ

số cho riêng mình nên vẫn lấy những chỉ số của người Caucasian để áp dụng

trong nghiên cứu cũng như trong thực hành lâm sàng.

Sự khác biệt kích thước ngang giữa XHT và XHD

Chiều rộng của XHD (Ag-Ag): 76 ± 3 mm, ở trẻ 9 tuổi, tăng thêm 1,4

mm mỗi năm cho đến năm 16 tuổi.

Chiều rộng của XHT (J-J): 62 ± 3 mm, ở trẻ 9 tuổi, tăng thêm 0,8 mm

mỗi năm cho đến năm 16 tuổi.

Sự khác biệt kích thước ngang giữa XHT và XHD được tính bằng hiệu số

kích thước của chiều rộng xương hàm dưới trừ đi chiều rộng xương hàm trên.

Các chỉ số về kích thước ngang của xương hàm trên và hàm dưới sẽ rất

khác biệt giữa các dân tộc, thậm chí trong hai giới của cùng một dân tộc đã có

sự khác biệt. Nhưng giá trị chênh lệch về kích thước ngang giữa hai xương

hàm thì ổn định hơn.



20

Bảng 1.2. Giá trị kích thước ngang xương hàm bình thường của

người da trắng [16]

Tuổi

9

10

11

12

13

14

15

16

(Người trưởng thành)



J-J



Ag-Ag



Chênh lệch giữa



(mm)

62

62,6

63,2

63,8

64,4

65,0

65,6



(mm)

76,0

77,4

78,8

80,2

81,6

83,0

84,4



hai hàm (mm)



66,2



85,8



19,6



14

14,8

15,6

16,4

17,2

18

18,8



Tác giả chọn đường Z - Z qua hai điểm trong nhất của đường khớp trán

gò má hai bên để nghiên cứu sự cân xứng của sọ mặt và cung răng. Đường tham

chiếu đi qua tâm của mào xương sàng hay điểm cao nhất của vách mũi và vng

góc với đường nối hai tâm gò má để đánh giá sự mất cân xứng sọ mặt.

Trong đó: Ag-Ag là chiều rộng xương hàm dưới

J-J là chiều rộng xương hàm trên

Nc-Nc là chiều rộng mũi

Zy-Zy là chiều rộng mặt



21



Hình 1.11. Các tham số sử dụng trong phân tích của Ricketts (1982) [17].

* Phương pháp phân tích của Svanholt và Solow

Phương pháp phân tích này nhằm đánh giá sự phát triển theo chiều

ngang của xương sọ mặt. Cụ thể là đánh giá tương quan của xương hàm và

vòm miệng với đường giữa.



Hình 1.12. Các điểm chuẩn, đường và góc thường dùng trong phân tích

của Svanholt và Solow (1977)[18].

* Phương pháp phân tích của Grummons



22

Tác giả đưa ra phương pháp phân tích so sánh và định lượng trên phim

sọ mặt thẳng kỹ thuật số. Các phân tích này được trình bày thành 2 vấn đề:

phân tích tính bất đối xứng tồn diện và phân tích tính bất đối xứng tổng quát

trên phim sọ mặt thẳng. Các phương pháp phân tích bao gồm: đánh giá trên

mặt phẳng nằm ngang, hình thái xương hàm dưới, tính bất đối xứng của

xương hàm, tương quan giữa xương hàm trên và xương hàm dưới và tỷ lệ các

tầng mặt khi nhìn thẳng.

Ơng lựa chọn đường tham chiếu dọc giữa đi qua tâm của mào xương

sàng và điểm gai mũi trước để đánh giá sự cân xứng sọ mặt.



Hình 1.13. Các điểm chuẩn và mặt phẳng sử dụng trong phân tích của

Grummons (1987) [19].

* Phương pháp phân tích của Grayson

Phương pháp này phân tích tính bất đối xứng và đánh giá sự phát triển

sọ mặt trên nhiều phim sọ mặt thẳng. Các điểm mốc giải phẫu được xác định

trên các mặt phẳng có độ sâu khác nhau trong phức hợp sọ mặt.

Trong thực hành, phương pháp phân tích này được thực hiện trên 3 mặt

phẳng với độ sâu khác nhau theo chiều trước sau đưa ra hình ảnh dưới dạng

phim sọ mặt thẳng. Trên từng mặt phẳng, xác định điểm giữa của các cặp mốc

giải phẫu hai bên phải và trái. Kết quả cho thấy ở những người có mất cân

xứng nghiêm trọng thì sự mất cân xứng giảm dần từ trước ra sau.



23



Hình 1.14. Các mặt phẳng sử dụng trong phân tích của Grayson (1983) [20].

* Phương pháp phân tích của Hewitt

Theo phương pháp phân tích của Hewitt, phân tích tính bất đối xứng sọ

mặt được thực hiện bằng cách định khu phức hợp sọ mặt trong các tam giác

của vùng mặt. Sự khác biệt về các góc, các tam giác và thành phần có thể so

sánh ở cả bên phải và bên trái.

A. Phần nền sọ

B. Phần bên xương hàm trên

C. Phần trên xương hàm trên

D. Phần giữa xương hàm trên

E. Phần dưới xương hàm trên

F. Vùng răng

G. Vùng xương hàm dưới

Hình 1.15. Các tam giác ở vùng mặt trong phân tích của Hewitt (1975) [21].

* Phương pháp phân tích của Chierici

Phương pháp này định khu khám và đánh giá sự bất cân xứng của tầng

mặt trên. Tác giá chọn đường tham chiếu là đường thẳng nối điểm khớp trán

gò má ở hai bên và kẻ trục X qua tâm mào gà xương sàng vng góc với

đường nối điểm khớp trán gò má để so sánh sự mất cân đối của các cấu trúc

giải phẫu ở hai bên mặt.



24

1.2.2. Tình hình nghiên cứu các kích thước sọ mặt trên phim sọ mặt thẳng

ở thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều những cơng trình nghiên cứu liên quan đến

các chỉ số bình thường của cấu trúc sọ mặt trên phim sọ nghiêng chụp theo kỹ

thuật từ xa và hình thành nên những phương pháp phân tích phổ biến: phân

tích của Ricketts (1961), Steiner (1960), Tweed (1954), Sassouni …. Trong

khi đó, các giá trị của phim sọ mặt thẳng lại không được sự quan tâm chú ý

nhiều của các nhà chỉnh nha lâm sàng. Nhiều đặc điểm theo chiều ngang của

răng, xương và sự mất cân xứng của xương không thể xác định trên phim sọ

nghiêng nhưng lại có thể định lượng được trên phim sọ thẳng. Những năm

1990, chỉ có 13,3% các bác sĩ sử dụng phim mặt thẳng một cách thường

xuyên trong điều trị [22]. Điều này có thể do một thực tế là các cơ sở đào tạo

chỉnh nha không nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá phim mặt

thẳng, hoặc do một số nhược điểm của phim như: khó xác lập tư thế đầu, khó

xác định các điểm mốc giải phẫu do sự chồng hình ảnh…

Ngày nay, với yêu cầu điều trị cao hơn, mục tiêu điều trị nghiêm ngặt

hơn, nhu cầu sử dụng phim mặt thẳng trong chẩn đoán và điều trị các bất

thường sọ mặt ngày càng cao. Một số nghiên cứu kích thước ngang XHT,

XHD trên phim sọ mặt thẳng:

- Nghiên cứu của Ricketts và cộng sự (1982), đã xác định chiều rộng

bình thường của XHT là 61,9 ± 3 mm ở trẻ 9 tuổi, và tăng thêm 0,6mm mỗi

năm. Chiều rộng XHD là 76,1 ± 3 mm ở trẻ 9 tuổi, và tăng thêm 1,4mm

mỗi năm) [17].

- Nghiên cứu của Cortella và cộng sự (1997) trên nhóm nghiên cứu Bolton

đã đưa ra các chỉ số bình thường của trẻ 12 tuổi như sau: Khoảng cách J-J là

57,9 ± 2,4mm, Ag-Ag là 74,7 ± 3,7 mm, [Ag-Ag] – [J-J] = 16,8 ± 3,3mm, JJ/Ag-Ag = 77,6 ± 3,5% [23].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+ Tiểu loại 2 (CLII/2): Các răng cửa giữa hàm trên ngả phía lưỡi, trong khi các răng cửa bên hàm trên ngả môi tách khỏi răng cửa giữa, độ cắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở vùng răng nanh thường rộng hơn bình thường. Sai khớp cắn loại II tiểu loại 2 thườn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×