Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
S. aureus có tỷ lệ kháng thuốc cao với nhiều loại kháng sinh như OXA (87,5%), AZI (81,2%), CLI (75%).

S. aureus có tỷ lệ kháng thuốc cao với nhiều loại kháng sinh như OXA (87,5%), AZI (81,2%), CLI (75%).

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



4



FEP



20



95,2



1



4,8



0



-



5



CIP



14



66,7



4



19



3



14,3



6



LEV



16



76,2



3



14,3



2



9,5



7



AMC



0



-



1



4,8



20



95.2



21 chủng TKMX trong nhóm nghiên cứu khơng còn nhạy với AMC

(Amo+A.clavulanic) , thậm trí đã kháng tới 95,2%.

Tuy vậy 21 chủng TKMX trong nghiên cứu này còn nhạy cảm với

nhóm fluoroquinolon (CIP và LEV), nhạy cảm cao với CAZ (Ceftadizime) là

90,5% và FEP là cephalosporin thế hệ 4 (95,2%).

Đối với nhóm Aminoglycosid, VK TKMX nhạy cảm với AMI hơn GEN.



3.2.5.3. K. Pneumoniae với KS

Bảng 3.19: Độ nhạy cảm với KS của K. pneumoniae (n=4)

Độ nhạy cảm

ST



Nhạy cảm (S)

SL



T



Tỷ lệ



Trung gian (I)

SL



%



Kháng sinh



Tỷ lệ



Kháng (R)

SL



%



Tỷ lệ

%



1



AMI



3



75



0



-



1



25



2



CXM



0



-



1



25



3



75



3



CTX



1



25



0



-



3



75



4



AMC



0



-



0



-



4



100



5



MEM



3



75



1



25



0



-



54



6



CIP



3



75



0



-



1



25



7



COT



1



25



0



-



3



75



4 chủng K.pneumoniae kháng hầu hết KS dòng betalactam và COT

(Co-trimoxazol). Đề kháng 100% với Amo + A.clavulanic.

K.pneumoniae trong nhóm nghiên cứu này còn nhạy cảm cao với

amikacin, meropenem và ciprofloxacin.

3.2.5.4. E. cloacae với KS (n=1)

Chủng E. cloacae trong nghiên cứu đề kháng với AMC, còn nhạy cảm

với tất cả các kháng sinh đã thử nghiệm thuộc nhóm betalactam, các

aminoglycosid, meropenem và fluroquinolones.

3.2.5.5. P. mirabilis với KS (n=1)

Chủng P.mirabilis trong nghiên cứa còn nhạy cảm 100% với tất cả các

KS đã thử nghiệm từ KS thơng dụng đến KS cephalosporin thế hệ 1,2,3, các

KS nhóm aminoglycosid và nhóm fluoroquinolon và cả co-trimoxazol.



55



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 09/2016 đến tháng 09/2017 tại

Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương với 80 bệnh nhân người lớn bị viêm tai

giữa mạn tính đơn thuần có thủng màng nhĩ, với các kết quả thu được trong

chương 3, chúng tôi đưa ra một số bàn luận như sau:

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CHUNG



4.1.1. Đặc điểm phân bố tuổi và giới

Theo bảng 3.1 tuổi mắc bệnh trung bình là 40,6 ± 1,4 tuổi.Tuổi mắc

bệnh thấp nhất là 19 tuổi, cao nhất là 68 tuổi. Kết quả này tương đồng với

nghiên cứu của Nguyễn Văn Luận (39 tuổi) [52] và Christian (42 tuổi) [53],



56



nhưng có sự khác biệt với báo cáo của Nguyễn Quỳnh Anh (34 tuổi) [32], Cao

Minh Thành (31,8 tuổi) [54]. Nhóm tuổi hay gặp nhất là 19 – 55 tuổi, chiếm

tỷ lệ 80% tương đương với kết quả của Cao Minh Thành (80%) [22], Trần Thị

Thu Hằng (81,25%) [55]. Như vậy bệnh hay gặp ở nhóm bệnh đang trong độ

tuổi học tập và lao động chính nên có thể ảnh hưởng đến q trình học tập,

cơng việc và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Từ biểu đồ 3.1 nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nữ chiếm đa số

là 62,5%, còn nam chiếm 37,5%, với p < 0.05 thì kết quả này có ý nghĩa

thống kê, nhưng cao hơn nghiên cứu của Cao Minh Thành (58,3%) [22],

Phạm Văn Sinh (59,4%) [56], Nguyễn Thị Hoa (51,3%) [13]. Theo chúng tơi

những khác biệt kể trên có thể là do khác nhau về cỡ mẫu và các bệnh nhân

nghiên cứu được lấy tại bệnh viện nên không đại diện cho cộng đồng.

4.1.2. Triệu chứng cơ năng

4.1.2.1 Chảy mủ tai

Chảy mủ tai là triệu chứng hay gặp nhất (100%), tỷ lệ này tương đương

với nghiên cứu của Cao Minh Thành (100%) [22], Phạm Văn Sinh (100%) [56].

Trong nghiên cứu này kết quả của chúng tôi là đa số bệnh nhân có thời

gian chảy mủ tai hơn 1 năm trở lên 60 BN chiếm tỷ lệ 75% tương đương

nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa (74,3%) [13], của Cung Đình Hoàn (74,5%)

[34], Nguyễn Trung Hùng [55], Đinh Thị Thu Hương [57]. Đa số các BN

đến khám đều có triệu chứng chảy mủ tai từ rất lâu, có thể từ nhỏ nhưng điều

trị không triệt để, nay sức nghe giảm nhiều, chảy mủ tai nhiều gây khó chụi

bệnh nhân mới đi khám.



57



Số BN chảy mủ tai từng đợt chiếm (91,2%). Kết quả của chúng tôi

cũng phù hợp với một số nghiên cứu của Cao Minh Thành [22], Đinh Thị Thu

Hương [57], Patrick J [36]. Thời gian bị bệnh càng dài thì chảy mủ tai có xu

hướng chảy từng đợt càng cao. Nghiên cứu cho thấy tình trạng chảy mủ tai tái

phát phụ thuộc vào 2 yếu tố: sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh vào tai giữa

từ ống tai ngoài qua lỗ thủng màng nhĩ và các viêm nhiễm từ vòm mũi họng

lên qua vòi tai. Tình trạng viêm tái diễn trong tai giữa thể hiện bằng các đợt

chảy mủ tai sẽ đưa đến tổn thương khó hồi phục của tai giữa như: Xơ hóa

niêm mạc, tiêu mòn chuỗi xương con,…và còn có thể ảnh hưởng đến tai trong

(do các độc tố vi khuẩn, các chất trung gian hóa học của q trình viêm …

ngấm vào) [24].

Tính chất chảy mủ tai hay gặp nhất là mủ nhày đục và trắng lỗng

khơng mùi ít gặp mủ đặc trắng hay đặc vàng. Số lượng mủ có thể ít hoặc

nhiều, ít thì tạo thành vảy khơ cạnh lỗ thủng, nhiều thì chảy ra cả ống tai

ngồi. Thường mủ trong VTGmt đơn thuần khơng có mùi thối, chỉ trường hợp

mủ ứ đọng lâu ngày trong hòm tai có mùi thối hoặc mủ do VK yếm khí tạo

nên. Kết quả nghiên cứu của chúng tơi có kết quả là chảy mủ tai thối chiếm

5%, mủ tai chủ yếu là không mùi (53,7%) và mùi hôi (41,3%), kết quả này

cũng tương tự với kết quả của Cao Minh Thành [22], Cung Đình Hồn [34]

và cũng phù hợp với y văn [58]. Tính chất mủ khác nhau phản ánh sự dị sản

biểu mô hô hấp thành biểu mô chế nhầy của niêm mạc tai giữa và mức độ

nhiễm trùng ở các mức độ khác nhau [37]. Khi mủ có màu đặc trắng hay vàng

thường do các loại vi khuẩn như S. aureus, P. aeruginosa ... [59].



58



Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy rằng, nếu mủ tai trong khơng màu

thì khơng mùi hoặc mùi hơi, khơng gặp trường hợp nào mủ tai màu trắng mà

có mùi thối, mủ thối có 4 trường hợp thì đều là mủ đặc vàng.

Trong những trường hợp mủ trắng chủ yếu chúng tôi gặp mủ lỗng, còn

mủ đục và mủ vàng gặp cả mủ nhày và mủ đặc khơng có sự khác biệt.

4.1.2.2. Nghe kém

Nghe kém là triệu chứng gặp khá phổ biến chiếm tới 86,3% và ở nhóm

tuổi càng cao thì tỷ lệ nghe kém càng nhiều. Phần lớn các bệnh nhân nghe

kém ở một bên tai với đặc điểm tiến triển từ từ tăng dần. Tỷ lệ nghe kém của

các bệnh nhân trong nghiên cứu thấp hơn so với báo cáo của Cao Minh

Thành là 100% [22], Nguyễn Quỳnh Anh là 98,1% [32]. Các nghiên cứu cho

thấy nghe kém trong VTGmt có thể do sự kết hợp của nhiều yếu tố như diện

tích lỗ thủng màng nhĩ; vị trí của lỗ thủng; khả năng rung động của phần

màng nhĩ còn lại; sự toàn vẹn, liên tục và rung động của chuỗi xương con …

[32],[37]. Tỷ lệ bệnh nhân nghe kém trong nghiên cứu của chúng tơi thấp hơn

có thể do số bệnh nhân có các tổn thương nặng của hệ thống màng nhĩ, chuỗi

xương con thấp hơn những nghiên cứu nói trên. Theo cơng thức tính sức nghe

còn lại của cơ thể là:

F = (Tai lành x 7) + ( Tai bệnh x 1)

8

Nên khi một tai nghe bình thường, một tai nghe kém thậm chí điếc đặc

thì thiếu hụt sức nghe chung cho cả hai tai chỉ là 12,5% [18]. Tuy nhiên theo



59



quan điểm y học hiện đại, điều này lại ảnh hưởng đến chất lượng nghe. Đó là

khả năng định hướng âm thanh trong không gian và hiểu ngôn ngữ trong môi

trường ồn ào. Những yếu tố này đặc biệt quan trọng đối với quá trình học tập

và làm việc (sử dụng ngoại ngữ, lái xe …).

4.1.2.3. Ù tai

Ù tai cũng là triệu chứng thường gặp chiếm tỷ lệ 75%, tương đương với

nghiên cứu của Nguyễn Văn Luận (75,9%) [52], cao hơn nghiên cứu của

Phạm Văn Sinh (7,8%) [56]. Đặc điểm ù tai chủ yếu là ù tiếng trầm, biểu hiện

từng lúc, chiếm 56,2%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Luận

(75%) [52], cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Anh (35,9%) [32]. Cơ

chế gây ù tai trong VTGmt cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Nhiều giả thuyết đã

được nêu lên, cho rằng trong VTG mạn quá trình viêm gấy rối loạn thăng

bằng hệ thống thần kinh giao cảm – phó giao cảm, kích thích đám rối thừng

nhĩ, tăng trương lực cơ búa và cơ bàn đạp làm tăng áp lực tai trong hoặc do

các chất trung gian hóa học của q trình viêm, đọc tố vi khuẩn ngấm vào tai

trong qua mạch máu, cửa sổ tròn hoặc dây chằng vòng của cửa sổ bầu dục …

[24],[36],[60].

4.1.2.4. Đau đầu

Triệu chứng đau đầu ít gặp hơn và thường đi kèm trong đợt chảy mủ

tai. Triệu chứng này thường nhẹ, thống qua, ít gây khó chịu cho bệnh nhân.

Nhóm 56 tuổi trở lên khơng gặp bệnh nhân nào bị đau đầu.

4.1.3. Triệu chứng thực thể



60



4.1.3.1. Vị trí lỗ thủng màng nhĩ

Lỗ thủng gặp ở mọi vị trí của màng căng, trong đó hay gặp nhất là lỗ

thủng ở trung tâm chiếm (52,5%). Kết quả này tương đương với nghiên cứu

của Phạm Văn Sinh (53,1%) [56]. Các đặc điểm của lỗ thủng là bờ gọn,

không sát xương. Các đặc điểm trên phù hợp với tính chất lỗ thủng màng nhĩ

trong bệnh VTGmt khơng nguy hiểm.



4.1.3.2. Kích thước lỗ thủng màng nhĩ

Lỗ thủng vừa (kích thước vừa 25 – 75%) hay gặp nhất chiếm 65%. Lỗ

thủng rộng (kích thước > 75%) chiếm 7,5% thấp hơn nghiên cứu của Cao

Minh Thành là 57% [54], Phạm Văn Sinh là 50% [56]. Chúng tơi cho rằng

kích thước của lỗ thủng phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: độc tố của vi khuẩn

gây viêm tai, tình trạng viêm tắc mạch ni dưỡng màng nhĩ xảy ra trong q

trình viêm … nên có sự khác biệt về kết quả giữa các nghiên cứu với nhau.

4.1.3.3. Phần còn lại của màng nhĩ

Đa số trường hợp phần còn lại của màng nhĩ dày đục chiếm (76,2%),

bình thường là (7,5%), tình trạng có đám vơi hóa là (16,3%). Kết quả này

tương đương với kết quả của Nguyễn Quỳnh Anh (17,5%) [32]. Hình thái của

đám vơi hóa trên phần còn lại của màng nhĩ rất đa dạng, có thể là những đám

nhỏ rải rác đến những mảng vơi hóa lớn. những mảng vơi hóa đi từ cán xương

búa đến khung nhĩ thường gây cố định xương búa [61]. Mặc khác sự vơi hóa



61



ở màng nhĩ có thể đi kèm với vơi hóa trong tai giữa, gây ra cố định các xương

con khác. Đây là những yếu tố cần quan tâm khi phẫu thuật cần lấy bỏ nhằm

đạt được hiệu quả phục hồi chức năng nghe tối đa.

4.1.3.4. Niêm mạc hòm tai

Tình trạng niêm mạc hòm tai trong nghiên cứu của chúng tôi dày ướt

chiếm đa số (49 BN; 61,2%). Kết quả này phù hợp với tính chất của VTGmt

khơng nguy hiểm, bệnh nhân đang trong tình trạng viêm nhiễm sự tăng tiết

của niêm mạc hòm tai. Khi màng nhĩ thủng niêm mạc hòm tai tiếp xúc trực

tiếp với khơng khí và các tác nhân gây viêm, theo cơ chế tự bảo vệ để thích

nghi với điều kiện mới niêm mạc hòm tai sẽ dầy lên và tăng tiết dịch. Sự tăng

độ dầy của niêm mạc hòm tai sẽ làm hẹp thể tích hòm tai và đóng kín eo

thượng nhĩ, vòi nhĩ bị hẹp một phần hoặc tắc hồn tồn, kết quả là dịch nhày

bị ứ đọng ở hòm tai do niêm mạc hòm tai tăng tiết dịch, do vòi bị tắc nên

khơng dẫn lưu được dịch vì vậy dịch ngày càng ứ đọng ở trong hòm tai nhiều

do đó sẽ chảy ra theo ống tai ngoài. Về tế bào học thì đó là phản ứng bình

thường để thay đổi cấu trúc bề mặt cho phù hợp với điều kiện sinh thái mới.

Nhưng phản ứng này lại có thể trở thành yếu tố duy trì quá trình viêm, hình

ảnh đại thể là phì đại, hình ảnh vi thể là tăng sản và dị sản tế bào. Hiện tượng

tăng sản không chỉ sảy ra ở lớp niêm mạc mà còn xảy ra ở cả lớp dưới niêm

mạc và lớp đệm. Hiện tượng dị sản tế bào biểu mô dẹt trở thành biểu mô trụ

lát tầng của đường hô hấp với các tế bào long chuyển và tế bào chế nhầy. Tuy

nhiên q trình viêm khơng phải xảy ra ở tồn bộ niêm mạc mà có thể xảy ra

ở một vài vùng trong niêm mạc hòm tai [39].



62



4.1.4. Tình trạng viêm nhiễm kèm theo của cơ quan lân cận

Theo Bảng 3.10, ta thấy số bệnh nhân bị viêm tai có kèm theo viêm

nhiễm cơ quan lân cận như: Viêm mũi xoang, viêm Amidan chiếm 30%.

Niêm mạc hòm tai là niêm mạc đường hô hấp liên tục với niêm mạc mũi họng

qua lỗ vòi Eustache. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Cung Đình Hồn

(51%) [34]. Theo chúng tơi sự khác nhau có thể là do đối tượng nghiên cứu

của chúng tơi là người lớn kích thước vòi nhĩ dài, nằm chếch 45 0 với mặt

phẳng ngang và sự hoạt động của cơ thắt vòi nhĩ hồn thiện hơn so với trẻ em.

4.1.5. Tình hình sử dụng kháng sinh trước đó

Tất cả các đối tượng nghiên cứu (100%) đã từng dùng KS, theo khai

thác của chúng tôi nguyên nhân như sau: nguyên nhân chủ yếu là do BN đã đi

khám và điều trị tại các phòng khám tư hoặc tuyến cơ sở, nhưng đã không

khỏi mới đến khám tại Bệnh viện TMH Trung Ương. Một phần không nhỏ

khác là được BS phẫu thuật của Bệnh viện TMH Trung Ương khám, có chỉ

định phẫu thuật và kê đơn về điều trị ngoại trú trong khi chờ hẹn lịch được

vào mổ hay kê đơn điều trị để khô tai rồi mới tới phẫu thuật. Trong số BN đã

từng dùng thuốc KS thì số BN điều trị theo đơn của bác sĩ chiếm (81,2%), có

một số trường hợp lấy đơn cũ ra mua lại để điều trị, chỉ có (18,8%) trường

hợp là tự mua thuốc KS đường uống và KS nhỏ tai để điều trị. Kết quả này có

sự khác biệt với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa [13] số bệnh nhân tự

mua thuốc là 85,7%, điều này có thể là do sau 15 năm cùng với sự phát triển

kinh tế xã hội thì nhận thức của người dân về sức khỏe đã được nâng lên đáng

kể. Những KS đã sử dụng phần lớn là cephalosphorin thế hệ 2, 3 và Amoxicilin

kết hợp với acid clavulanic (Augmentin) trong thời gian 5 – 7 ngày.



63



4.2. CÁC VI KHUẨN PHÂN LẬP ĐƯỢC TRONG VTGmt KHÔNG NGUY

HIỂM Ở NGƯỜI LỚN VÀ KẾT QUẢ KHÁNG SINH ĐỒ



Qua bảng 3.11, ta thấy trong 80 BN gửi làm xét nghiệm VK có 44

trường hợp nhuộm soi trực tiếp thấy có VK, chiếm 55%, và trong số đó chúng

tơi ni cấy dương tính được 43 trường hợp tương ứng với 43 chủng VK

chiếm tỷ lệ 53,8%. Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của các

tác giả: Nguyễn Hữu Khôi là 73,4% [12], Nguyễn Thị Hoa là 88,6% [13].

- Một số trường hợp nhuộm soi trực tiếp thấy có VK thì ni cấy lại âm

tính. Và ngược lại nhuộm soi trực tiếp không thấy VK, nhưng vẫn ni cấy lại

dương tính. Điều này có thể giải thích rằng, một số VK kỵ khí khi nhuộm soi

trực tiếp thì phát hiện được hình thể nhưng khi ni cấy phân lập trong điều

kiện bình thường tức là khơng có điều kiện kỵ khí sẽ khơng cho kết quả

dương tính.

- Kết quả ni cấy VK: có 5 loại VK phân lập được gồm CK Gram

dương và TK Gram âm. CK Gram dương: S. aureus có 16/43 chủng chiếm

37,2%, S.aureus thuộc vi hệ bình thường ở trên da và niêm mạc (mũi, khoang

miệng, họng…)

- Trong số các VK phân lập được, tỷ lệ VK Gram âm 27/43 chiếm tỷ lệ

62,9% chiếm tỷ lệ lớn hơn hẳn so với VK Gram dương 37,2%. Tỷ lệ VK

Gram âm này tương đương với tỷ lệ của Lê Đăng Hà, Lê Huy Chính và cộng

sự là 69,24% [62].

- Trong các VK Gram âm phân lập được, phần lớn chiếm 77,8% là các

TK P. aeruginosa có nguồn gốc từ mơi trường (nước, đất); số ít còn lại là các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

S. aureus có tỷ lệ kháng thuốc cao với nhiều loại kháng sinh như OXA (87,5%), AZI (81,2%), CLI (75%).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×