Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Giá trị của thang điểm tại điểm cut – off ( ≥ 7 điểm - < 7) của hai giới nam và nữ. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.

Nhận xét: Giá trị của thang điểm tại điểm cut – off ( ≥ 7 điểm - < 7) của hai giới nam và nữ. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.

Tải bản đầy đủ - 0trang

49



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm dịch tễ lâm sàng ở đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm chung ở đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm về tuổi: Tỷ lệ các nhóm tuổi trên tổng số các trường hợp bao

gồm: Nhóm tuổi ≤ 1 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (30,0%), tiếp đến là nhóm > 25 tuổi (22,2%), thấp nhất là nhóm > 12 tuổi (11,1%) (kết quả tại biểu đồ 3.1).

Tuổi trung bình của trẻ trong nghiên cứu là 54,6 ± 54,5 tháng, tương đương

với 4,7 tuổi (kết quả tại bảng 3.1). Trong các nghiên cứu dịch tễ trước đó về

lao trẻ em, đối tượng nghiên cứu thường được chia thành 2 nhóm: Nhóm < 5

tuổi và nhóm ≥ 5 tuổi, và nhóm tuổi < 5 tuổi mắc lao chiếm từ (39-79%) tùy

theo khu vực, trung bình chiếm khoảng 50% tổng số lao trẻ em . Trong nghiên

cứu của chúng tôi, với ứng dụng dịch tễ lâm sàng, chúng tôi chia thành nhiều

nhóm, tổng hợp nhóm từ 0- 5 tuổi chiếm tỷ lệ cao (67,8%). Kết quả phù hợp

với đặc điểm sinh bệnh học lao trẻ em chỉ ra hệ thống miễn dịch của trẻ nhỏ,

trẻ < 5 tuổi biểu hiện sự non nớt là yếu tố nguy cơ hàng đầu chuyển từ nhiễm

lao sang bệnh lao thực sự ở nhóm tuổi này . Lao trẻ em là một đại diện cho sự

lây truyền bệnh, phản ánh mức độ mắc lao ở người lớn của các khu vực. Số

các trường hợp lao lớn nhất ở trẻ em được thấy là ở trẻ dưới 5 tuổi và trẻ trên

10 tuổi . Có 2 nghiên cứu mới đây tại Việt nam, nghiên cứu thứ nhất (2014)



50



với tổng số 103 trẻ bị lao tại miền bắc Việt nam với độ tuổi trung bình của trẻ

là 5 tuổi, tỷ lệ nhóm tuổi < 5 mắc lao là 47,0% . Trong nghiên cứu của chúng

tôi, tuổi trung bình của trẻ thấp hơn, và xu hướng tỷ lệ trẻ < 5 tuổi cao hơn so

với nghiên cứu của tác giả, theo chúng tôi là do nghiên cứu của chúng tôi chỉ

ghi nhận trẻ ở 2 bệnh viện tuyến Trung ương, có lẽ những trẻ dưới 5 tuổi nhập

viện nhiều hơn ở các bệnh viện tuyến Trung ương, trong khi nghiên cứu của

tác giả nghi nhận ở các bệnh viện thuộc miền bắc Việt nam. Nghiên cứu thứ

hai của tác giả Hoàng Thanh Vân , ghi nhận lứa tuổi mắc lao phổi phần lớn từ

0-5 tuổi, chiếm 64,6%, tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu ở khía cạnh lao phổi

ở trẻ em.

Đặc điểm về giới tính: Kết quả nghiên cứu tại biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ

nam giới (63,3) cao hơn nữ giới (36,7%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

phù hợp với một số nghiên cứu về lao trẻ em ghi nhận phân bố giới tính, trong

đó tỷ lệ nam cao hơn nữ ,, tuy nhiên một số nghiên cứu khác lại cho thấy tỷ lệ

nữ cao hơn nam ,. Điều này được giải thích có thể một phần là do sự khác

nhau về địa điểm, đối tượng nghiên cứu (độ tuổi và thể bệnh). Kết quả giữa

các nghiên cứu khác nhau về phân bố giới tính cũng gợi ý giới tính khơng

phải là yếu tố nguy cơ của lao trẻ em, chính vì vậy cần phải có các nghiên cứu

dịch tễ vĩ mơ để xác định các yếu tố nguy cơ khác (dưới giới tính) dẫn đến tỷ

lệ trẻ nam hoặc nữ mắc cao hơn. Một nghiên cứu về lao trẻ em ở miền bắc

Việt nam năm 2014, số liệu được thu nhận tại các bệnh viện, trong đó có

(44%) là ở Bệnh viện nhi Trung ương, phát hiện thấy có (56%) các trường

hợp là nam giới .

Phân bố giới tính theo nhóm tuổi: Kết quả nghiên cứu tại (bảng 3.2)

cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ nam và nữ khơng có ý nghĩa thống kê theo các

nhóm tuổi. Một số nghiên cứu trước đó thấy tỷ lệ nam cao hơn nữ hoặc tương

đương ở các nhóm tuổi như nghiên cứu của Blount R.J và cộng sự (2014) ,



51



thấy nam giới chiếm (56%) tổng số trẻ nghiên cứu, nhóm tuổi từ 0-4 tuổi có

tỷ lệ nam, nữ như nhau 24/48 (50,0%), nhóm 5-15 tuổi có tỷ lệ nam giới cao

hơn nữ 34/55 (62,0 và 38,0%), nhưng sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê.

Mazta S.R (2010) , nghiên cứu phân bố nhóm tuổi theo giới tính ở 541 trẻ bị

lao thấy nhóm tuổi từ 0-4 tuổi có tỷ lệ nam, nữ tương đương, từ 5-9 tuổi, tỷ lệ

nam cao hơn nữ (13,5% và 7,7%), và nhóm từ 10-14 tương đương. Theo

Nhung V.N , ở Việt nam trong 6 năm (2007-2012), có 598,877 trường hợp lao

các thể được thông báo và 313,225 (52.3%) các trường hợp là AFB(+). Tỷ lệ

(+) giảm từ 65/100 nghìn dân (2007) xuống 57 / 100 nghìn dân (2012), số

giảm này ở tất cả nam và nữ ngoại trừ nam ở nhóm tuổi 0-14 và nữ ở nhóm

15-24 tuổi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu cho

thấy tỷ lệ nam và nữ theo nhóm tuổi trong đa số các nghiên cứu khơng có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê, trong đó nam giới có xu hướng cao hơn.

Tỷ lệ các thể lao: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại (biểu đồ 3.3) cho

thấy trẻ bị lao phổi chiếm tỷ lệ cao hơn các thể khác, (48,9%) trong tổng số 8

thể lao được phát hiện trong nghiên cứu. Sắp xếp bệnh theo vị trí bệnh, kết

quả từ biểu đồ này cho thấy lao trong lồng ngực chiếm (54,1%), ngoài lồng

ngực là (34,8%), trong lao ngoài lồng ngực hay gặp lao màng não chiếm

(20,0%) tổng số trẻ nghiên cứu, nhưng chiếm 18/30(60,0%) số trẻ có lao

ngồi lồng ngực), lao cả trong và ngồi lồng ngực là 11,1%. Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Nghiên

cứu của Blount R.J và cộng sự (2014) tại Việt nam trên 103 trẻ bị lao thấy:

Lao trong lồng ngực (62,0%), ngoài lồng ngực (52,0%), cả trong và ngoài

lồng ngực (19,0%) . Một số nghiên cứu ở nước ngoài cũng cho kết quả tương

tự như nghiên cứu của Shrestha S và cộng sự (2011), Sreeramareddy C.T và

cộng sự (2010) và Shrestha S và cộng sự ,,. Sự phân bố tỷ lệ bệnh phụ thuộc

vào độ tuổi nghiên cứu, trong nghiên cứu của chúng tơi nhóm tuổi từ 0-5 tuổi



52



chiếm một tỷ lệ lớn (67,8%) trong tổng số trẻ nghiên cứu, trong đó lao màng

não chiếm tỷ lệ cao (60,0% số trẻ bị lao ngoài lồng ngực). Nghiên cứu của

Verma J và cộng sự (2014) trên 77 trường hợp trẻ ≤ 5 tuổi được chẩn đốn

lao, có (70,3%) lao màng não . Một số nghiên cứu khác cho thấy lao hạch là

hay gặp trong các thể lao ngoài lồng ngực ở trẻ em ,, trong nghiên cứu của

chúng tôi chỉ phát hiện được một tỷ lệ rất nhỏ lao hạch nằm trong (7,8%) thể

lao khác, có thể là do trẻ bị lao hạch đơn thuần thường được chẩn đoán và

điều trị ở tuyến dưới, hoặc điều trị tư nhân. Hơn nữa lao hạch đơn thuần được

các nghiên cứu cho thấy hay gặp ở nhóm tuổi từ 11-14 tuổi, nhóm tuổi này

chiếm tỷ lệ thấp trong nghiên cứu của chúng tôi. Sharma S và cộng sự (2010)

nghiên cứu ở 669 trẻ bị lao hạch thấy hầu hết (48,0%) là ở nhóm tuổi 11-14

tuổi, tiếp đến là nhóm tuổi 6-10 tuổi (34,5%), nhóm 0-5 tuổi chỉ có (17,5%) .

Phân bố nhóm tuổi và giới tính theo vị trí bệnh: Nghiên cứu thấy

khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo vị trí bệnh giữa 2 nhóm tuổi,

nhóm từ 0-5 tuổi và nhóm trên 5 tuổi, ngoại trừ lao toàn thể 100% ở nhóm

tuổi 0-5 tuổi (kết quả tại bảng 3.3). Về giới tính cho thấy tỷ lệ nam, nữ khác

biệt khơng có ý nghĩa thống kê theo tất cả các vị trí bệnh, ngoại trừ tỷ lệ nam

ở nhóm lao phổi màng phổi cao hơn nữ (p<0,05) (kết quả tại bảng 3.4). Trong

nghiên cứu của Blount R.J và cộng sự (2014) , thấy nhóm tuổi 0-4 tuổi có tỷ

lệ lao trong lồng ngực cao hơn nhóm nhóm tuổi từ 5-15 tuổi (69,0% so với

48,0%) nhưng khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,20), lao cả

trong và ngoài lồng ngực ở nhóm tuổi từ 0-4 tuổi chiếm tỷ cao hơn nhóm từ

5-15 tuổi (33,0% so với 7,0%; P=0,001). Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa 2 nhóm tuổi trong lao màng não (13,0% và 11,0%; P=1,0), ở

lao ngồi lồng ngực, tác giả khơng thấy có sự khác biệt giữa 2 nhóm (54,0%

so với 51,0%). Nghiên cứu của Mazta S.R (2010) , thấy khơng có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nam và nữ giữa các thể lao ở 514 trẻ bị lao ngoại



53



trừ thể khơng xác định vị trí tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới (22,9% so với

9,4%), trong nghiên cứu của tác giả tuổi trung bình của trẻ cao hơn tuổi trung

bình của trẻ trong nghiên cứu của chúng tơi (12 tuổi), nghiên cứu của chúng

tơi khơng có thể này. Phân bố nhóm tuổi ở 50 trẻ lao màng não theo Israni

A.V và cộng sự (2016): Nhóm 0-3 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (59,6%), từ 3-5

tuổi (17,0%), trên 5 tuổi (23,4%) . Amir S và cộng sự (2017), thấy trong 44

trẻ lao màng não có (38,6%) là trẻ dưới 2 tuổi, (22,7%) từ 2-5 tuổi, trẻ nam

(56.8%), nữ (43.2%) . Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các

nghiên cứu trước.

Tiền sử của đối tượng nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu cho thấy có 02

tiền sử của trẻ đáng lưu ý hơn là tiền sử tiếp xúc với nguồn lây lao có (47,8%)

tổng số trẻ được nghiên cứu, trong đó có (81,4%) trong số trẻ có tiếp xúc với

nguồn lây lao trong vòng 01 năm, (100%) trẻ tiếp xúc với nguồn lây trong

nhà, và tiền sử không được tiêm phòng vacxin BCG có (14,4%) số trẻ (kết

quả tại bảng 3.7). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhiều nghiên

cứu trước đó đã đề cập tới các tiền sử này ở trẻ mắc lao. Gencer H và cộng sự

(2015) thấy có (40%) trẻ có tiếp xúc với nguồn lây, và chỉ có (22,9%) trẻ có

sẹo BCG . Shah I và cộng sự thấy có (31,2%) trẻ lao ổ bụng có tiếp xúc với

nguồn lây, tiêm BCG (87,5%) . Nghiên cứu của Blount R.J và cộng sự (2014)

tại Việt nam thấy (12,0%) trẻ bị lao chưa được tiêm phòng BCG, (73,0%) trẻ

có tiếp xúc với nguồn lây lao , và còn nhiều nghiên cứu khác. Tiền sử tiếp xúc

với nguồn lây rất có giá trị trong chẩn đoán lao trẻ em. Trong hướng dẫn của

Bộ Y tế- CTCLQG, tiền sử tiếp xúc với nguồn lây lao trong vòng 1 năm trở

lại là một trong 3 yếu tố cần tìm để chẩn đốn lao trẻ em, hai yếu tố còn lại

là: Triệu chứng lâm sàng nghi lao (khơng đáp ứng với điều trị thơng

thường), và hình ảnh tổn thương trên X.quang nghi lao, quyết định chẩn

đoán khi có 2 trong 3 yếu tố . Đối với tiêm phòng vacxin BCG, ngày nay



54



các nghiên cứu cũng đã chỉ ra vacxin BCG có vai trò giảm tỷ lệ chuyển từ

nhiễm lao sang bệnh lao thực sự, giảm tỷ lệ mắc các thể lao nặng ở trẻ em .

Đặc điểm nguồn lây của đối tượng nghiên cứu: Kết quả tại (bảng 3.8)

cho thấy có (31,1%) trong tổng số trẻ nghiên cứu có bố/mẹ, ơng/bà mắc lao

và sống cùng trẻ, chiếm 28/43(65,1%) tổng số trẻ có tiếp xúc với nguồn lây.

Nghiên cứu phát hiện thấy có (47,8%) nguồn lây là lao phổi, trong đó có

(35,6%) là lao phổi AFB(+) trên tổng số trẻ nghiên cứu và chiếm 32/43(74,4%)

trong số nguồn lây là lao phổi. Như ở người lớn, trẻ em nhiễm trực khuẩn

lao thường xảy ra bởi hít phải trực khuẩn lao trong các giọt hơ hấp nhỏ có

nguồn gốc từ các trường hợp lao phổi đặc biệt là lao phổi AFB(+). Nguy cơ

nhiễm lao phụ thuộc vào xác suất, thời gian và không gian của phơi nhiễm với

nguồn lây bệnh và tính dễ lây của nguồn bệnh, điển hình là người lớn bị lao

phổi AFB (+), mặc dù trẻ em lớn cũng có thể là nguồn lây bệnh . Bố/mẹ và

ông/bà, là những thành viên sống cùng trẻ theo phong tục với tần xuất tiếp

xúc trực tiếp với trẻ nhiều nhất, làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh. Một

nghiên cứu cắt ngang phân tích và theo dõi dọc nhằm xác định tỷ lệ nhiễm lao

tiềm ẩn dựa vào kết quả của xét nghiệm IGRAs (Interferon - Gamma Release

Assays) và nguy cơ phát sinh lao phổi hoạt động ở người nhà tiếp xúc với

bệnh nhân lao phổi có AFB (+) tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Bình

Định từ năm 2011 - 2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiễm lao tiềm ẩn của

nhóm người nhà tiếp xúc bệnh nhân lao phổi là (36,5%), phát sinh bệnh lao

của 2 nhóm tiếp xúc có IGRAs (+) và (-) sau 12 tháng và 18 tháng lần lượt là

(8% và 12%). Nguy cơ tương đối phát sinh bệnh lao ở nhóm có IGRAs (+)

sau 12 tháng, 18 tháng lần lượt với RR = 5,0 (95% CI: 0,6 - 41,3) và 6,0 (95%

CI: 0,7 - 48,0). Ở nhóm người nhà tiếp xúc với bệnh nhân lao phổi, tỷ lệ

IGRAs (+) là (36,5%); tỷ lệ phát sinh bệnh lao phổi sau 12 tháng và 18 tháng

là (8% và 12%) .



55



4.1.2. Đặc điểm lâm sàng ở đối tượng nghiên cứu:

Thời gian, tính chất khởi phát bệnh: Nghiên cứu phát hiện thấy số trẻ

có khởi phát bệnh trên 4 tuần chiếm tỷ lệ cao hơn (40,0%) so với khởi phát từ

2-4 tuần (36,7%) và khởi phát dưới 2 tuần (23,3%) (kết quả tại biểu đồ 3.4).

Thời gian khởi phát theo các thể lao, kết quả tại (bảng 3.9) cho thấy khởi phát

bệnh > 4 tuần ở lao xương khớp chiếm tỷ lệ cao nhất (100%), khởi phát từ 2-4

tuần ở lao màng não chiếm tỷ lệ cao nhất (66,7%), lao sơ nhiễm có khởi phát

bệnh < 2 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (50,0%). Chúng tôi cũng phát hiện thấy trẻ

có khởi phát bệnh âm thầm chiếm tỷ lệ cao hơn khởi phát bán cấp và cấp tính

(40,0%, 36,7% và 23,3%) theo thứ tự (kết quả tại biểu đồ 3.5). Triệu chứng

của bệnh lao thường bắt đầu không rầm rộ, khởi phát từ từ, thời gian khởi

phát thay đổi từ nhiều tuần đến nhiều tháng, mặc dù khởi phát cấp tính hay

gặp ở trẻ em nhỏ hoặc những người suy giảm miễn dịch. Tam chứng điển hình

là sốt, ra mồ hôi trộm và sút cân biểu hiện ở khoảng (75,0%, 45,0% và 55,0%)

số bệnh nhân theo thứ tự, trong khi ho dai dẳng, kéo dài, không thuyên giảm

là hay gặp nhất trong lao phổi (95,0%) . Triệu chứng kinh điển của bệnh lao

trẻ em được WHO mô tả trong hướng dẫn quản lý lao trẻ em cho CTCLQG

các nước là ho mạn tính ≥ 2 tuần, khơng cải thiện, đặc biệt là khi trẻ không

đáp ứng với kháng sinh thông thường, sốt kéo dài ≥ 2 tuần sau khi đã loại trừ

các nguyên nhân gây sốt khác, chậm chạp, ít đùa nghịch, ít vận động ≥ 2 tuần,

sút cân, chậm phát triển, mệt mỏi thất thường, một số trẻ có khởi phát cấp tính

như viêm phổi nặng . Sarkar S và cộng sự (2009) cho thấy trẻ bị lao có khởi

phát bệnh với ốm yếu dưới 2 tuần (9.43%) từ 2–4 tuần (41,51%), trên 4 tuần

(49,06%) . Một nghiên cứu ở bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2016 trên 100

trẻ bị lao màng não nhập viện cho thấy thời gian khởi phát bệnh trung bình

của các triệu chứng 18,5 ngày . Một nghiên cứu tại Braxin (2013) thấy có

(63%) trẻ bị lao có biểu hiện các triệu chứng khởi phát ≥ 2 tuần . Miftode E.G



56



và cộng sự (2015), thấy ở 77 trẻ lao màng não: Khởi phát âm thầm chiếm

(64,0%), đột ngột (38%). Trong lao xương khớp, các triệu chứng mơ hồ và

thường không được chẩn đốn đến khi có biểu hiện rõ . Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi phù hợp với tài liệu và các nghiên cứu về thời gian và tính chất

khởi phát trong lao trẻ em.

Đặc điểm sốt: Kết quả nghiên cứu cũng phát hiện thấy trong số (74,4%)

trẻ có sốt, có (30,0%) sốt nhẹ, (24,4%) sốt vừa và (20,0%) sốt cao, sốt kéo dài

trên 14 ngày là (51,1%) (kết quả tại bảng 3.10). Bệnh lao có thể ở bất cứ vị trí

nào trong cơ thể, nhưng thường gây ra các triệu chứng toàn thân. Sốt là ảnh

hưởng toàn thân dễ dàng nhất ở trẻ em . Kết quả nghiên của chúng tôi phù

hợp với nhiều nghiên cứu cũng như tài liệu mô tả đặc điểm của sốt trong bệnh

lao ở trẻ em là sốt kéo dài (≥ 2 tuần ), thường sốt ở mức độ thấp, không rõ

nguyên nhân, sau khi đã loại trừ các nguyên nhân khác, không đáp ứng với

kháng sinh thông thường ,,,. Lin Y.S và cộng sự nghiên cứu 112 trẻ bị lao tại

miền bắc Đài loan thấy đặc điểm sốt ở trẻ như sau: Không sốt có (30,4%), sốt

mức độ thấp <38,50C (23,2%), sốt cao ≥ 38,50C là (46,4%). Thời gian sốt

trung bình là 13,9 ngày . Tuy nhiên ở đây tác giả phân các mức độ sốt làm 2

mức, nghiên cứu của chúng tôi phân làm 3 mức trên. Shah I và cộng sự , thấy

thời gian sốt ở trẻ dưới 5 tuổi dài hơn (127 ± 66 ngày), trẻ từ 5 -10 tuổi (37 ±

30 ngày ) và trẻ trên 10 tuổi (73 ± 66 ngày) (p = 0.0228). Hoàng Thanh Vân

(2012) , nghiên cứu ở 192 trẻ bị lao phổi thấy sốt biểu hiện ở (92,2%) số trẻ,

trong đó sốt < 380C (45,8%), từ 380C -390C (33,3%), số trẻ sốt ≥ 390C

(13,1%).

Triệu chứng hô hấp ở đối tương nghiên cứu: Chúng tôi phát hiện thấy

có (55,6%) trẻ có ho, trong đó (42,2%) ho có đờm, ho kéo dài trên 14 ngày có

(37,8%), khó thở: (21,1%), hay thấy có ran ẩm (42,2%), ran nổ ít gặp (20,0%)

(kết quả tại bảng 3.11). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhiều



57



nghiên cứu trước. Theo nghiên cứu của Blount R.J và cộng sự (2014), một

nghiên cứu tại Việt nam phát hiện thấy sốt và chậm phát triển là triệu chứng

hay gặp nhất ở tất cả các trẻ (65% và 56%) theo thứ tự, (66%) số lao trong

lồng ngực có ho . Nghiên cứu của Shrestha S và cộng sự (2010) hầu hết trẻ

có sốt (65%), ho (46,67%) . Ho dai dẳng, không thuyên giảm > 2 tuần, chậm

lớn (trong vòng 3 tháng), và mệt mỏi dai dẳng có độ nhạy và độ đặc hiệu, giá

trị dự báo dương tính cho chẩn đốn lao ở trẻ không nhiễm HIV lần lượt là

(62,6%; 89,8%; 83,6%); và giá trị tốt hơn ở nhóm có nguy cơ thấp ≥ 3 tuổi so

với nhóm có nguy cơ cao dưới 3 tuổi . Một báo cáo khác cũng cho kết quả

tương tự với triệu chứng hay gặp nhất là sốt (75,6%), ho (63,4%) và sút cân

(41,5%) . Hoàng Thanh Vân , thấy trẻ có ho là (83,9%), ho có đờm (40,1%),

ho ra máu (8,3%), khó thở /khò khè (35,9%), tỷ lệ các triệu chứng hô hấp

trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của tác giả là do tác giả chỉ nghiên

cứu trẻ bị lao phổi.

Các biểu hiện lâm sàng ở trẻ lao màng não: Trong số 18 trẻ bị lao

màng não, biểu hiện lơ mơ, li bì là hay gặp nhất (66,7%), tiếp đến là co giật

(55,5%), đau đầu/kích thích quấy khóc (44,4%) và một số biểu hiện khác như

liệt khu trú, tăng trương lực cơ, hôn mê chiếm khoảng 1/3 số trẻ (kết quả tại

bảng 3.12). Các triệu chứng về màng não: Hầu hết trong số 18 trẻ bị lao màng

não có biểu hiện cổ cứng (94,4%), nơn (88,9%), vạch màng não (+) ở

(50,0%), thóp phồng (38,9%), Kernig (+): (44,4%), ít gặp tăng cảm giác đau

(5,6%) (kết quả tại bảng 3.13). Theo Garg R.K và cộng sự (2016) , các triệu

chứng hay gặp trong lao màng não gồm: Đau đầu, nôn, các dấu hiệu màng

não, liệt thần kinh khu trú, mất thị lực, liệt thần kinh sọ và tăng áp lực nội sọ.

Tổn thương dây thần kinh số 6 là hay gặp nhất trong số bệnh nhân có tổn

thương thần kinh sọ, mất thị lực thứ phát sau tổn thương dây thần kinh thị lực

dẫn đến biến chứng nặng. Blount R.J và cộng sự (2014) thấy có (92,0%) số



58



trẻ lao màng não có biểu hiện tổn thương thần kinh nặng, (58,0%) trẻ có biểu

hiện hơn mê, co giật (42,0%), liệt tay/chân (33,0%), liệt dây thần kinh sọ

(8,0%), cổ cứng (50,0%), đau đầu (42,0%). Miftode E.G và cộng sự (2015),

nghiên cứu ở 204 bệnh nhân lao màng não trong đó có 77 là trẻ em thấy khởi

phát âm thầm chiếm (64,0%), đột ngột (38%), đau đầu (60,0%), nôn (51,0%),

rối loạn ý thức (27,0%), hôn mê (23,0%), co giật (14,0%), liệt dây thần kinh

sọ (24,0%), di chứng thần kinh (36,0%). Israni A.V và cộng sự (2016): Thấy

ở 50 trẻ lao màng não; sốt (72,3%), cử động bất thường hoặc co giật (48,9%),

tính khí bất thường (27,7%), đau đầu (25,5%), kích thích (19,2%), nơn

(17,0%), bỏ ăn (8,5%), vạch màng não (+); (66,0%), liệt nửa người (14,9%),

liệt dây thần kinh sọ (12,8%), liệt tứ chi (8,5%), mức độ ý thức dưới 7 điểm

(36,6%), 7-10 điểm (22,0%), trên 10 điểm (41,4%), tăng áp lực nội sọ

(66,0%), bệnh ở giai đoạn I, II và III lần lượt là (14,9%, 23,4% và 61,7%) .

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đó.

Tình trạng dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng là một yếu tố nguy cơ được

xác định liên quan đến tăng nguy cơ trẻ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao

thực sự. Kết quả nghiên cứu tại (bảng 3.14) cho thấy trẻ bị suy dinh dưỡng là

(35,6%), trong đó suy dinh dưỡng mức độ trung bình là (31,2%). Một nghiên

cứu ở Congo xác định tỷ lệ mắc lao ở trẻ suy dinh dưỡng và để xác định các

yếu tố nguy cơ cho thấy: 717 trẻ bị lao dưới 15 tuổi. Tỷ lệ mắc lao là (8,2%),

cân nặng dưới bình thường (20,8%), trong đó có (8,4%) suy dinh dưỡng nặng.

Trẻ dưới 60 tháng liên quan có ý nghĩa với tình trạng suy dinh dưỡng. Lao

đồng nhiễm HIV có liên quan với tình trạng dinh dưỡng. Trẻ điều trị khỏi phù

hợp ở nhóm có tình trạng dinh dưỡng tốt . Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

phù hợp với nhiều nghiên cứu phát hiện thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ bị lao

khá cao. Nghiên cứu của Blount R.J và cộng sự , thấy có (38%) trẻ bị lao có

suy dinh dưỡng. Shrestha S và cộng sự (2010) thấy có (33,3%) trẻ bị lao có



59



suy dinh dưỡng (trẻ suy dinh dưỡng nặng hơn liên quan đến lao toàn thể

(p<0.001) . Israni A.V và cộng sự (2016) nghiên cứu ở 50 trẻ bị lao màng não

thấy có (66,0%) trẻ suy dinh dưỡng mức độ nhẹ và trung bình, (10,6%) trẻ có

suy dinh dưỡng nặng, (23,4%) trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường .

Theo Jaganath D và cộng sự , mặc dù gánh nặng bệnh tật là của cả suy dinh

dưỡng và bệnh lao ở trẻ em trên tồn cầu, có một vài nghiên cứu về cơ chế

mối quan hệ này. Suy dinh dưỡng là một yếu tố dự báo bệnh lao và hiệu quả

điều trị, được cho là qua nhiều cơ chế bao gồm: Vai trò của các gene nhận

cảm vitamin D, sự ảnh hưởng của suy dinh dưỡng lên sự phát triển miễn dịch,

nhiễm trùng hô hấp ở trẻ suy dinh dưỡng. Tuy nhiên mức độ suy dinh dưỡng

như thế nào ảnh hưởng đến nguy cơ và tiến triển của bệnh lao, bổ sung dinh

dưỡng để cải thiện hiệu quả điều trị và ngăn chặn bệnh lao cần phải được tiếp

tục nghiên cứu.

4.1.3. Một số đặc điểm cận lâm sàng

Hình ảnh tổn thương lồng ngực, xương khớp, não-màng não: Các

tổn thương cơ bản ở phổi thường kết hợp với nhau, hay gặp tổn thương thâm

nhiễm và nốt ở phổi (50,0% và 45,0%), nốt kê (6,7%), hạch trung thất

(15,0%), hình ảnh hang ở phổi (10,0%), tổn thương ≥ 2 thùy hay gặp hơn

(35,1%), tổn thương 1 thùy hay gặp ở thùy giữa và thùy trên (28,3% và

23,3%). Hay gặp tổn thương 2 phổi (46,6%), và tổn thương phổi phải

(41,7%). (kết quả tại bảng 3.15, 3.16). Giãn não thất gặp ở 17/18 (94,4%) trẻ

bị lao màng não, (100%) số trẻ lao xương khớp có hình ảnh phá hủy xương,

(80,0%) có tràn dịch ổ khớp, hẹp khe khớp có (60,0%) (bảng 3.17). Hồng

Thanh Vân (2012) , thấy trên X.quang của 192 trẻ bị lao có hình ảnh: Thâm

nhiễm (59,4%), nốt (49,5%), đơng đặc (52,1%), hang (7,8%), hạch trung thất

(20,3%), tràn dịch màng phổi (15,9%), vơi hóa (1,5%) và trên CT Scan hình

ảnh: Nốt (66,7%), đông đặc (71,1%), hang (21,0%). Các phát hiện về hình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Giá trị của thang điểm tại điểm cut – off ( ≥ 7 điểm - < 7) của hai giới nam và nữ. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×