Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
các trường hợp có kháng đa thuốc (MDR) và 40 nghìn trẻ có nhiễm HIV.

các trường hợp có kháng đa thuốc (MDR) và 40 nghìn trẻ có nhiễm HIV.

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



H, R); 348 trẻ kháng đa thuốc (kháng với H và R). Trong năm 2012, các tác

giả báo cáo từ WHO cho thấy từ năm 1994 - 2011 đã phát hiện thấy 456 trẻ

kháng đa thuốc (MDR) trong tổng số 6,070 trẻ được làm test (MDR). Năm

2014, WHO có ước tính đầu tiên cho lao (MDR) ở trẻ em với tỷ lệ là 3,2%

trong lao mới mắc. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chung cho lao (MDR) ở

trẻ em tồn cầu là 12,1%, tương đương với 121 nghìn trường hợp .

1.2.3. Lao và HIV ở trẻ em

Mặc dù biết là nhiễm HIV góp phần rất quan trọng trong nguy cơ mắc

lao nhưng chưa có ước tính tin cậy cho tỷ lệ mắc lao/HIV ở trẻ em. Dodd P.J

và cộng sự ước tính có 5% số lao mới mắc xảy ra trên trẻ em nhiễm HIV ở 22

nước có tỷ lệ bệnh lao cao, tương đương với 32,500 trẻ nhiễm HIV phát triển

thành lao hoạt động năm 2010 và từ 40 - 50 nghìn vào năm 2014 .

1.2.4. Tử vong ở lao trẻ em

Tồn cầu ước tính có 6,3 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do tất cả các

nguyên nhân vào năm 2013 . Ước tính của WHO cho thấy có 136 nghìn trẻ

dưới 15 tuổi tử vong do lao năm 2014; 140 nghìn năm 2015, trong đó có 50%

là trẻ < 5 tuổi. Bệnh lao được xếp vào một trong 9 nguyên nhân gây tử vong

cao nhất ở trẻ độ tuổi từ 1- 59 tháng, ở vị trí số 6 trước viêm màng não, AIDS

và sởi .

Nguyên nhân là do bệnh lao ở trẻ < 5 tuổi khơng được chẩn đốn, điều

trị và ngăn chặn tử vong . Lao trẻ em đang bị chẩn đoán nhầm với bệnh khác,

bệnh lao cũng là bệnh nền, nguyên nhân tử vong khơng được chẩn đốn, chẩn

đốn sang bệnh khác, điển hình là viêm phổi . Một ngun nhân chính gây tử

vong ở lao trẻ em là lao màng não , và ngày nay sự thành cơng của vacxin

phòng phế cầu, lao màng não ở trẻ em trở lên là nguyên nhân thịnh hành nhất

trong viêm màng não do vi khuẩn. Hiện nay các nghiên cứu phát hiện thấy



8



19,3% trẻ bị lao màng não sẽ tử vong và 53,9% trẻ sống sót sẽ bị di chứng

thần kinh .

1.2.5. Lao tiềm ẩn

Một biện pháp quan trọng để ngăn chặn tỷ lệ mắc và tử vong bởi lao là

qua phát hiện trường hợp lao hoạt động để xác định các trường hợp có thể

nhiễm trùng lao tiềm tàng ở trẻ em và từ đó có chỉ định điều trị dự phòng. Tuy

nhiên cần có một ước tính sát có bao nhiêu trẻ bị lao tiềm ẩn ở nơi mà trẻ

sống vì thế mà có thể tăng hiệu quả phát hiện các trường hợp lao hoạt động.

Houben và cộng sự ước tính có khoảng 67 triệu trẻ dưới 15 tuổi bị nhiễm

lao vào năm 2014, và năm 2016 là 97 triệu , ; trong đó chủ yếu là trẻ ở khu

vực Đơng Nam Á (27 triệu), Châu Phi (20,9 triệu). Yuen C.M và cộng sự ước

tính có khoảng 7,48 triệu trẻ sống cùng với người lớn được chẩn đốn lao

phổi, trong đó 2,41 triệu trẻ dưới 5 tuổi, 660 nghìn trẻ đã có bệnh lao và

239nghìn trẻ dưới 5 tuổi .

1.3. Ước tính gánh nặng bệnh tật lao trẻ em ở Việt Nam

Việt Nam, một trong 14 nước có gánh nặng bệnh tật do lao cao, ước tính

tỷ lệ lao mới mắc hàng năm ở Việt nam khoảng 130 nghìn trường hợp . Trẻ

em Việt Nam chiếm khoảng 36% dân số, trong đó độ tuổi dưới 5 tuổi chiếm

khoảng 21%. . Một ước tính tỷ lệ hiện nhiễm lao ở trẻ em (6-14 tuổi) năm

2013 được ghi nhận ở 23,160 trẻ em, có 21,487 (92,8%) được làm test và đọc,

phân tích. Sử dụng điểm cut-off 10mm, ước tính tỷ lệ dương tính là (16,7%)

và nhiễm lao chung cho mọi lứa tuổi ở trẻ em Việt Nam được ước tính hàng

năm là (1,7%), tương đương với 351 nghìn trẻ. Tỷ lệ nhiễm ở thành thị cao

hơn ở nông thôn và các vùng hẻo lánh, tỷ lệ nhiễm tăng lên theo độ tuổi. Có

sự tương quan giữa tỷ lệ mới mắc và nhiễm lao rõ. Trẻ có người trong gia

đình bị lao có test dương tính cao hơn 1,6 lần so với nhóm còn lại .



9



Số trường hợp lao mới mắc ở trẻ em Việt nam chiếm khoảng 10% tổng

số lao mới mắc ở mọi lứa tuổi, tương đương với 13 nghìn trẻ. Hàng năm trên

tồn quốc theo báo cáo của CTCLQG số phát hiện được còn rất thấp so với

số dự báo mới mắc ở trẻ em (khoảng 3% của tổng số dự báo).

Mặc dù đã có gợi ý gánh nặng bệnh tật của bệnh lao trẻ em ở Việt Nam

là cao, đã có một vài nghiên cứu ở nước ta về lao trẻ em, nhưng khía cạnh lâm

sàng và hiệu quả điều trị lao trẻ em vẫn chưa rõ ràng. Xác nhận vi khuẩn học

của lao trẻ em ở Việt Nam là thấp, dựa vào lâm sàng để trực tiếp chẩn đoán,

điều trị trong đại đa số các trường hợp mắc lao ở trẻ em .

1.4. Sự khác biệt trong đáp ứng miễn dịch bệnh lao ở trẻ em

Sau khi nhiễm lao, trẻ em khơng chỉ có nguy cơ cao tiến triển thành bệnh

lao tại phổi mà còn có nguy cơ mắc bệnh lao ngồi phổi và tử vong. Những

trẻ dưới 1 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Bên cạnh các yếu tố nguy cơ

bao gồm di truyền, độc tính vi khuẩn và các bệnh nền làm suy yếu khả năng

miễn dịch (như suy dinh dưỡng và nhiễm HIV), tỷ lệ tiến triển thành bệnh lao

ở trẻ nhỏ là rất lớn, phản ánh sự non kém của đáp ứng miễn dịch .

Đại thực bào phế nang là hàng rào đầu tiên trong đáp ứng miễn dịch tự

nhiên với lao và đóng vai trò quyết định trong sự khuyếch đại đáp ứng miễn

dịch với nhiễm lao. Các nghiên cứu cho thấy có sự giảm mức độ diệt vi khuẩn

lao và giảm sự huy động các Monocyte tại vị trí nhiễm lao ở trẻ nhỏ so với

người lớn. Bởi sự non ớt của hàng rào bảo vệ tự nhiên ở phổi của trẻ nhỏ nên

vi khuẩn lao áp đảo hệ thống miễn dịch ở đây trước khi cơ thể có đáp ứng

miễn dịch đặc hiệu .

Một số nghiên cứu cho thấy các tế bào trình diện kháng nguyên ở trẻ

dưới 1 tháng tuổi thiếu khả năng cung cấp các tín hiệu phân cực của Th1 tới các

tế bào T. Khả năng tạo ra Interleukin -12, một mấu chốt tạo cytokine, cũng chậm

trưởng thành ở trẻ em. IL-12 là mấu chốt cho các giai đoạn phân cực của Th1.



10



Các tế bào CD 4 ở trẻ dưới 1 tháng tuổi thiếu khả năng kích thích Th1, giảm hoạt

hóa gene IFN-γ. Những hiện tượng đó nhìn chung làm suy yếu đáp ứng miễn

dịch trung gian tế bào ở trẻ dưới 1 tháng và trẻ nhỏ .

1.5. Lâm sàng lao trẻ em

Ở trẻ dưới 1 tuổi và trẻ nhỏ mắc lao thường dẫn đến sự đe dọa tính mạng

hơn là ở trẻ lớn và người lớn, điển hình khi trực khuẩn lao lan tràn gây bệnh

nhiều cơ quan (lao toàn thể) và lao màng não. Tỷ lệ mắc lao trẻ em cao nhất là

ở trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ trên 10 tuổi .

Trực khuẩn lao lây truyền qua các giọt hô hấp nhỏ từ những bệnh nhân

bị lao phổi bài xuất ra như ho, hắt hơi, nói chuyện, ca hát... Thời kỳ ủ bệnh

thường từ 2-12 tuần, là thời gian giữa nhiễm lao và phát hiện thấy một tổn

thương ban đầu hoặc test Mantoux dương tính. Trong 4 năm đầu sau nhiễm

lao, HIV và các bệnh gây suy giảm hệ thống miễn dịch là những yếu tố nguy

cơ làm nhiễm lao trở thành bệnh lao. Suy dinh dưỡng là một yếu tố nguy cơ

và liên quan đến hiệu quả điều trị kém .

Đầu tiên, quan trọng là xác định xem trẻ bị nhiễm lao tiềm ẩn hay bệnh

lao thực sự . Trẻ em bị nhiễm lao tiềm ẩn thường khơng có triệu chứng

của bệnh, không truyền bệnh và vi khuẩn lao không phát triển (trạng

thái ngủ). Nếu vi khuẩn lao hoạt hóa, nhân lên và vượt qua đáp ứng miễn

dịch, trẻ em có thể chuyển từ lao tiềm ẩn sang bệnh lao. Sự chuyển sang

bệnh lao thường xuyên, nhanh hơn (trong vài tuần) rất hay gặp ở trẻ em .

Lao có thể gây bệnh ở bất cứ vị trí nào trong cơ thể, nhưng sốt là triệu

chứng toàn thân hay gặp nhất. Các triệu chứng khác của bệnh lao là hậu quả

của việc vi khuẩn lao hoạt động, nhân lên, phá hủy các mô cơ thể. Theo WHO

các triệu chứng hay gặp nhất ở lao trẻ em là ho mạn tính (được xác định khi

ho thường xun, khơng cải thiện trên 14 ngày có hoặc khơng có khò khè);

sốt kéo dài (khi nhiệt độ cơ thể >38°C liên tiếp >14 ngày); kèm theo sút cân

hoặc chậm lớn, ốm yếu, chậm chạp, giảm hoạt động, ra mồ hơi trộm... và có



11



thể có các dấu hiệu màng não (nôn, đau đầu, gáy cứng...), rối loạn tri giác, liệt

khu trú... nếu có lao thần kinh trung ương .

Các xét nghiệm huyết học thường thấy tăng số lượng bạch cầu lympho

máu ngoại vi và thiếu máu; một số thể lao thần kinh có biến loạn dịch não tuỷ và

hình ảnh tổn thương não - màng não qua phim CT/ MRI, có thể rối loạn về điện

giải, đặc biệt là giảm Ion Na, gây nên do hội chứng rối loạn bài tiết hóc mơn lợi

niệu (SIADH) hoặc hội chứng mất muối não (CSWS) cũng có thể gặp .

Khi bệnh lao đã được chẩn đốn xác định, phải tìm xem lao tổn thương

cơ quan nào, một hay hơn một cơ quan, lao tại phổi hay lao ngoài phổi. Lao

phổi bắt nguồn từ ngoại sinh hay tái hoạt động từ lao tiềm ẩn nội sinh. Bệnh ở

nhu mô phổi và lao hạch trong lồng ngực là hay gặp nhất của lao trẻ em, chiếm từ

60-80% tổng các trường hợp. Phần lớn trẻ em nhiễm trực khuẩn lao tại phổi

khơng có triệu chứng trong vài tuần đầu, không thấy bất thường trên hình ảnh

X.quang thường quy; đơi khi có thể thấy viêm định khu ban đầu với thâm nhiễm

không đặc hiệu - chỉ có thể phát hiện trên phim CT- scanner phổi. Sau nhiều ngày,

trực khuẩn lao lan tới tổ chức hạch, gây sưng hạch mà không tương xứng với ổ lao

ở nhu mơ. Lúc này ở trẻ lớn vẫn có tới 80-90% các trường hợp là khơng có triệu

chứng, trong khi ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi lại thường có triệu chứng và bất thường tới

40 - 50% ở phim X.quang phổi quy ước hoặc CT- scanner ngực .

Các triệu chứng ban đầu thường nhẹ, gồm sốt ở mức độ thấp và ho. Ho

thường khơng có đờm, và đơi khi có khó thở nhẹ - khò khè và suy hơ hấp ở trẻ

dưới 1 tuổi. Các dấu hiệu xác định chẩn đốn bằng X.quang và CT thường

khơng rõ. Sưng hạch rốn phổi và trung thất chiếm ưu thế mặc dù không thường

xuyên quan sát thấy ở phim thường quy. Bất cứ thùy phổi nào đều có thể gặp tổn

thương do lao, và 25% các trường hợp là ở nhiều thùy. Trong lao sơ nhiễm,

thường thấy thâm nhiễm ở thùy giữa hoặc thùy dưới kèm theo sưng hạch rốn

phổi cùng bên, có thể gây xẹp phổi do đè ép khi hạch lympho to quá mức .



12



Lao nội sinh phát triển từ lao tiềm ẩn thường tái hoạt động gây các bất

thường ở các thùy cao của một hoặc hai bên phổi; tổn thương dạng hang, xẹp

phổi do hạch phế quản chèn ép hoặc hình ảnh đơng đặc thùy/ phân thùy phổi.

Phản ứng màng phổi cục bộ, hoặc tràn dịch màng phổi thường gặp và khi có

các dấu hiệu tắc nghẽn là biểu hiện của lao nội phế quản. Hình ảnh

X.quang/CT ngực phát hiện từ bình thường đến các bất thường khác nhau

gồm: sưng hạch rốn phổi, trung thất, hạch dưới carina, xẹp phổi hoặc thâm

nhiễm thùy, tràn dịch màng phổi, tổn thương hang, hoặc các nốt kê .

Lao ngồi phổi chẩn đốn phức tạp hơn lao phổi vì ít gặp và các biểu

hiện ban đầu kín đáo hơn. Lao ngồi phổi ít lan tràn tới vị trí khác, tuy nhiên

vi khuẩn lao có thể hủy hoại tổ chức tại vị trí bị lao lớn hơn và các thủ thuật

xâm nhập đòi hỏi thường xun để chẩn đốn. Mặc dù khơng hay gặp nhưng

khi có một số triệu chứng gợi ý nhiều cho lao ngồi phổi, đòi hỏi phải phát

hiện hơn nữa ở những trẻ có sưng đau xương khớp, sưng hạch cổ với dò hạch,

viêm màng não, tràn dịch màng phổi khơng đáp ứng với kháng sinh thông

thường, tràn dịch màng tim, khối u ở bụng, cổ chướng và các dấu hiệu tăng

mẫn cảm với Tuberculin (như nốt ban đỏ, viêm kết mạc). Lao hạch cũng hay

gặp ở trẻ em, thường là hạch trên xương đòn, hạch cổ, biểu hiện sưng, ít đau

và chắc; thường thứ phát sau sự lan tràn từ ổ lao ở phổi ,.

Lao hệ thần kinh trung ương khá thường gặp ở trẻ em và thứ phát sau sự

lan tràn bệnh theo đường máu; hầu hết là lao màng não, đầu tiên là vùng nền

não. Biểu hiện lâm sàng phong phú, có thể từ một đau đầu khơng rõ ràng với

khơng có các dấu hiệu điển hình của viêm màng não như cổ cứng đến các dấu

hiệu điển hình, thậm chí hơn mê, liệt nửa người, và các dấu hiệu tăng áp lực

nội sọ. Xét nghiệm dịch não tủy là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán lao

màng não, với các thay đổi điển hình gồm nồng độ protein cao, tăng số lượng

lymphocyte và đường giảm. Nuôi cấy vi khuẩn lao từ dịch não tủy có thể



13



dương tính nhưng ở tỷ lệ thấp; xét nghiệm PCR cho độ nhạy cao hơn đáng kể.

Chụp CT sọ não nên chỉ định trước khi hút dịch não tủy nếu khám có dấu hiệu

thần kinh cục bộ hoặc có các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ não .

Lao kê: Thường là lao toàn thể, xảy ra bởi hàng rào bảo vệ cơ thể không

thể ngăn cản nhiễm trùng lao lan tràn. Ở trẻ em bệnh cảnh lâm sàng thường

thay đổi, trẻ có thể biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, chán ăn, sút cân và suy nhược

cơ thể, suy hô hấp, các nốt thay đổi trên X.quang ngực; gan, lách to. Đây là

thể bệnh hay gặp nhất ở trẻ em sau nhiễm lao, bởi hàng rào bảo vệ của trẻ

không thể ngăn cản trực khuẩn lao .

Lao màng phổi: Biểu hiện đầu tiên như mủ màng phổi, hậu quả của lọt một

số lượng lớn khí, tổ chức sinh vật vào trong khoang màng phổi. Thường bởi vỡ

một hang hoặc ổ bệnh ở nhu mơ phổi liền kề theo đường dò phế quản-màng phổi.

Lao màng tim cũng biểu hiện như nhiễm trùng lao bình thường hoặc như viêm

màng tim mà gây đau, tràn dịch và cuối cùng ảnh hưởng đến huyết động .

Lao xương khớp: Xấp xỉ 1% trẻ em nhỏ bị lao biểu hiện với đau từ các

xương khớp. Các triệu chứng mơ hồ và thường khơng được chẩn đốn đến

khi có biểu hiện rõ. Lao cột sống dẫn đến phá hủy xương và xẹp các đốt sống

gây dị tật nếu chẩn đốn chậm trễ .

Lao ổ bụng có thể liên quan đến bất cứ tổ chức nào trong ổ bụng cũng như

màng bụng. Các vùng liên quan quyết định biểu hiện lâm sàng. Trẻ thường có

biểu hiện sốt, biếng ăn, sút cân, sưng hạch lympho và cổ chướng .

Lao kháng thuốc: Triệu chứng lâm sàng của lao kháng thuốc ở trẻ em

không khác biệt so với những trẻ bị lao nhạy cảm thuốc .

1.6. Chẩn đoán lao và các thang điểm áp dụng cho việc chẩn đoán lao trẻ em

Chẩn đoán lao trẻ em cho đến hiện nay vẫn là một thách thức vì các triệu

chứng lâm sàng, hình ảnh X.quang, CT-scanner thường thay đổi và khơng

điển hình, đặc biệt là trẻ em dưới 4 tuổi và trẻ nhiễm HIV. Chẩn đốn xác



14



định khi tìm thấy bằng chứng vi khuẩn lao ở đờm, dịch dạ dày, và tại vị trí tổn

thương bằng các phương pháp như soi trực tiếp tìm AFB, nuôi cấy trên môi

trường đặc, lỏng, các kỹ thuật sinh học phân tử như PCR, Gene-Xpert

MTB/RIF. Tuy nhiên việc lấy đờm và các bệnh phẩm khác ở trẻ để thực hiện

các xét nghiệm cũng hết sức khó khăn đặc biệt là trẻ nhỏ. Nhuộm soi đờm

trực tiếp tìm AFB và ni cấy có tỷ lệ dương tính thấp, các kỹ thuật sinh học

phân tử cũng có những giới hạn như độ nhạy, độ đặc hiệu và khả năng thực

hiện của các cơ sở y tế .

Chẩn đoán và điều trị lao tiềm ẩn ở trẻ em là rất quan trọng bởi giảm

nguy cơ tiến triển thành bệnh lao. Xác định lao tiềm ẩn hiện nay thay đổi

trong phạm vi riêng của mỗi trẻ, từ những trường hợp có biểu hiện rõ đến

những trường hợp đang trong giai đoạn ủ bệnh và khơng có triệu chứng lâm

sàng . Vì định nghĩa chính xác của lao tiềm ẩn hiện nay vẫn là một câu hỏi mở

cho y học . Điều này giải thích tại sao khơng có tiêu chuẩn vàng cho các test

chẩn đốn lao tiềm ẩn.

Trước năm 2001, test Mantoux có giá trị cho phát hiện nhiễm lao . Test

được sử dụng rộng rãi trên tồn cầu để chẩn đốn nhiễm lao và kể cả lao hoạt

động, nhưng test có giới hạn: Dương tính giả ở những trẻ tiêm BCG, nhiễm

trực khuẩn lao khơng điển hình . Bởi giới hạn đó, xét nghiệm sự giải phóng

Interferon -gamma (IFN-γ) ở máu được phát triển. Xét nghiệm có độ nhạy

tương đương thậm chí cao hơn test Mantoux (dương tính > 90% trẻ nhiễm

lao), nhưng có độ đặc hiệu cao hơn Mantoux vì phát hiện sự có mặt của các

peptit vi khuẩn lao như ESAT-6 and CFP-10, các peptit này khơng có ở

vacxin BCG và các trực khuẩn lao khơng điển hình .

Ni cấy phân lập trực khuẩn lao rất quan trọng cho chẩn đoán xác định

lao hoạt động và lao kháng thuốc. Ở trẻ em, chẩn đoán vi sinh được thực hiện



15



vào khoảng 20- 40% các trường hợp vì bản chất vi khuẩn lao trong tổn

thương ít. Lấy các mẫu bệnh phẩm ở trẻ em cũng rất khó khăn, đặc biệt là trẻ

nhỏ, không thể khạc đầy đủ đờm. Lấy dịch dạ dày xét nghiệm được thực hiện

qua 2-3 ngày liên tiếp sau khi trẻ thức, trước bữa ăn hoặc uống được hướng

dẫn cho chẩn đoán lao trẻ em. Jiménez R.M và cộng sự thực hiện một nghiên

cứu tiến cứu ở 22 trẻ em nghi ngờ bị lao phổi nằm viện để đánh giá sự an tồn

và hiệu quả chẩn đốn từ đờm và dịch dạ dày trên 3 ngày liên tiếp. Tất cả các

mẫu được soi trực tiếp tìm AFB, ni cấy và PCR. Phát hiện thấy vi khuẩn lao

từ dịch dạ dày và đờm là 47,1% và 41,2% các mẫu theo thứ tự. Nghiên cứu

gợi ý xét nghiệm đờm an toàn và phát hiện thấy vi khuẩn lao tương đương với

dịch dạ dày ở trẻ em .

Chính vì những khó khăn trong chẩn đoán xác định ở lao trẻ em, từ

nhiều thập kỷ trước các tác giả đã nghiên cứu xây dựng thang điểm để chẩn

đoán lao trẻ em dựa vào tiền sử tiếp xúc với người lớn bị lao phổi, đặc điểm

lâm sàng, test Mantoux và các phát hiện trên X.quang/CT- scanner cũng được

đánh giá.

Thang điểm Keith Edwards trong chẩn đoán lao trẻ em: Thang điểm này

ra đời 1996 do Keith Edwards giảng viên trường đại học Papua Niughim xây

dựng để chẩn đoán lao trẻ em. Thang điểm này qua quá trình áp dụng đã được

chỉnh sửa nhiều lần cho phù hợp, được WHO công nhận và khuyến cáo sử

dụng. Chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn: Tiền sử, lâm sàng, test Mantoux,

hình ảnh X.quang/CT vẫn được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và cho rằng

nó rút ngắn thời gian chẩn đốn, dễ thực hiện và có giá trị không kém các

phương pháp chuẩn như nuôi cấy, soi kính, PCR và các test huyết thanh ,.

Có nhiều thang điểm được nghiên cứu như thang điểm của Stegen và

cộng sự (1969), thang điểm của Nair and Philip (1981) vv… Các thang điểm

khác nhau nói lên tầm quan trọng khác nhau của các chỉ số trong thang điểm.



16



Mặc dù giá trị của các thang điểm còn có giới hạn bởi thiếu tiêu chuẩn vàng,

nhưng thực tế các thang điểm đó đóng vai trò hết sức quan trọng trong chẩn

đốn lao trẻ em, thang điểm của Keith Edwards đã được xác nhận và ủng hộ

của WHO, khuyến cáo sử dụng ở Chương trình chống lao quốc gia của các

nước với độ nhạy và độ đặc hiệu (91%, 88%) theo Narayan S và cộng sự năm

2003, (84,9%; 78%) theo Sarkar S và cộng sự năm 2009. Koura H và cộng sự

nghiên cứu giá trị của thang điểm Keith Edwards có sửa đổi chỉ số cân nặng

tính theo chiều cao với độ nhạy (93,3%), độ đặc hiệu (95,0%). Một thang

điểm khác trước đó của Toledo A (1979) cũng được các nghiên cứu gần đây

đánh giá với độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao, tuy nhiên thang điểm này có quá

nhiều các chỉ số, khó áp dụng .

Bảng 1.1. Điểm Keith Edwards chẩn đốn lao trẻ em:

Điểm



0



1



2



3



4



<2

tuần

>80%



2–4 tuần



-



> 4 tuần



-



60–80%



-



<60%



-



Khơng

-



Nghi

ngờ

-



-



Tiêu chí

Thời gian mắc bệnh

Dinh dưỡng (cân nặng theo

tuổi)

Tiền sử lao gia đình

Test Tuberculin

Hạch to, sưng đau có hoặc

khơng dò hạch

Sốt khơng rõ ngun nhân

Dinh dưỡng không cải thiện

sau 4 tuần

Biến dạng cột sống

Sưng đau xương khớp hoặc

có ổ dò

Dịch màng bụng khơng sõ

ngun nhân

Thay đổi tri giác hoặc DNT

bất thường



- Được xác định



-



-



+

+



-



-



+

-



+



-



-



-



-



+



+

-



-



-



-



+



-



-



-



-



+



-



Tổng điểm ≥ 7 điểm- chấn đoán lao.



17



- Thời gian mắc bệnh: Được tính từ khi khởi bệnh đến thời điểm bệnh

nhân vào viện

- Dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi): Theo biểu đồ tăng trưởng của WHO

năm 2007

- Tiền sử lao gia đình: Những người sống cùng nhà với trẻ như: Ông, bà,

bố, mẹ, những người thân trong gia đình đã điều trị lao trong vòng 1 năm trở lại

- Test Tuberculin: Xác định mức độ dị ứng đối với Tuberculin của cơ thể

đã bị nhiễm lao hay mắc lao có ý nghĩa hỗ trợ trong chẩn đoán, nhất là chẩn

đoán lao ở trẻ em khi phản ứng dương tính mạnh (≥ 15 mm đường kính cục

phản ứng với Tuberculin).

- Hạch sưng có/ hoặc khơng có dò hạch: Thường gặp hạch ngoại biên

vùng cơ ức đòn chũm, nách…

Lâm sàng: Lúc đầu hạch chắc, riêng rẽ, di động tự do, sau đó các hạch

dính vào nhau và tổ chức dưới da, kém di động, chuyển thành áp xe, dò mủ

mạn tính và có thể khỏi và để lại sẹo xấu. Vị trí thường gặp nhất là hạch cổ,

điển hình là dọc cơ ức đòn chũm, nhưng cũng có thể ở các vị trí khác.

Chẩn đốn: Chọc hút hạch làm tiêu bản chẩn đốn tế bào học hoặc

nhuộm soi tìm AFB hoặc sinh thiết hạch (mơ bệnh học) cho chẩn đốn xác

định qua tìm thấy chất hoại tử bã đậu, tế bào bán liên hoặc nang lao.

- Sốt không rõ nguyên nhân: Lao, bệnh nhân thường sốt nhẹ hoặc trung

bình nhưng cũng có thể sốt cao về chiều, dai dẳng và không đáp ứng với

thuốc điều trị thông thường

- Dinh dưỡng không cải thiện sau 4 tuần: Bệnh lao trẻ thường có sốt và

sụt cân nếu không được điều trị đặc hiệu không thể cải thiện và kiểm soát

được cân nặng của bệnh nhân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

các trường hợp có kháng đa thuốc (MDR) và 40 nghìn trẻ có nhiễm HIV.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×