Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Các trường hợp điện di trong 55 phút cho hình ảnh đủ băng điện di đều cho phản ứng lai thành công.

Nhận xét: Các trường hợp điện di trong 55 phút cho hình ảnh đủ băng điện di đều cho phản ứng lai thành công.

Tải bản đầy đủ - 0trang

38



MTHFR C677T

16(22,2%) 1(1,4%) 17 (23,6%)

MTHFR A1298C 27(37,5%) 9 (12,5%) 36 (50%)

FXIII Val34Leu

0

0

0

PAI-1 4G/5G

38(52,8%) 27(37,5%) 65 (90,3%)



55 (76,4%)

36 (50%)

72 (100%)

7 (9,7%)



Nhận xét: Tỷ lệ đột biến gen MTHFR C677T và A1298C gặp khá cao, lần

lượt là 23,6% và 50%, trong đó tỷ lệ gặp đột biến đồng hợp MTHFR A1298C

cao hơn so với C677T (9 trường hợp so với 1 trường hợp). Tỷ lệ gặp đột biến

gen PAI-1 4G/5G và 4G/4G cao, tương ứng là 52,8% và 37,5%. Ngồi ra, có

5 trường hợp bệnh nhân mang đột biến yếu tố V H1299R (HR2), chiếm 6,9%.

Không gặp các đột biến gen của yếu tố V Leiden, yếu tố II G20210A và yếu

tố XIII Val34Leu.

Bảng 3.7. Tần số đột biến gen MTHFR C677T và A1298C

677CC

677CT

677TT

Kiểu gen

(Bình thường)

(Dị hợp)

(Đồng hợp)

1298AA

22 (30,1%)

13 (18,1%)

1 (1,4%)

(Bình thường)

1298AC

24 (33,3%)

3 (4,2%)

0 (0%)

(Dị hợp)

1298CC

9 (12,5%)

0 (0%)

0 (0%)

(Đồng hợp)

Nhận xét: Tần số dị hợp tử kép MTHFR A1298C và C677T không cao, chỉ

chiếm 4,2%. Số trường hợp dị hợp tử đơn 1298AC gặp nhiều hơn so với

677CT, lần lượt là 24 (33,3%) và 13 (18,1%) trường hợp. Khơng có trường

hợp đồng hợp tử kép và đồng hợp một đột biến kết hợp với dị hợp tử đột biến

còn lại.

Bảng 3.7. Tỷ lệ các dạng đột biến kép

STT



Đột biến gen



Số BN



Tỷ lệ % (n=55)



1



Dị hợp kép: HR2 và MTHFR C677T



01



1,8



2



Dị hợp kép: HR2 và MTHFR A1298C



03



5,5



3



Dị hợp kép: HR2 và PAI-1 4G/5G



02



3,6



4



Dị hợp HR2 và PAI-1 4G/4G



02



3,6



39



5



Dị hợp kép: PAI-1 4G/5G và C677T



11



20



6



Dị hợp kép: PAI-1 4G/5G và A1298C



11



20



7



PAI-1 4G/5G và đồng hợp MTHFR C677T



01



1,8



8



PAI-1 4G/5G & đồng hợp MTHFR A1298C



03



5,5



9



Dị hợp MTHFR C677T và PAI-1 4G/4G



03



5,5



10



Dị hợp MTHFR A1298C và PAI-1 4G/4G



12



21,8



11



Đồng hợp MTHFR A1298C & PAI-1 4G/4G



06



10,9



55



100%



Tổng số



Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân mang đột biến kép là 55/72 trường hợp, tương

đương 76,4%. Trong số 11 dạng đột biến kép gặp trong nghiên cứu thì dạng dị

hợp tử kép của MTHFR (C677T hoặc A1298C) với PAI-1 4G/5G và dạng đột

biến kép MTHFR A1298C với PAI-1 4G/4G là hay gặp nhất, tỷ lệ gặp lần

lượt là 20% và 21,8%. Ngoài ra, dạng đồng hợp tử kép MTHFR A1298C và

PAI-1 4G/4G gặp với tỷ lệ đáng kể là 10,9%.

Bảng 3.8. Tần số tổ hợp gen (haplotype) EPCR: A4600G và A4678G

STT

1

2

3

4

5

6



Kiểu gen EPCR

A1/A1 (haplotype A1)

A2/A2 (wild type)

A3/A3 (haplotype A3)

A1/A2

A1/A3

A2/A3

Tổng số



N (%)

24 (33,3%)

2 (2,8%)

1 (1,4%)

26 (36,1%)

14 (19,4%)

5 (6,9%)

72 (100%)



Nhận xét: Tổ hợp gen (haplotype) EPCR A1/A1 (A1) và A1/A2 gặp tỷ lệ cao

nhất trong số 6 tổ hợp gen EPCR, lần lượt là 33,3% và 36,1%. Haplotype A2

và A3 gặp tỷ lệ thấp nhất, lần lượt là 2,8% và 1,4%.

3.3.2. Mối liên quan giữa một số đột biến gen và tiền sử sản khoa

Bảng 3.9. Tỷ lệ đột biến gen MTHFR và PAI-1 4G/5G ở hai nhóm bệnh

nhân RPL quý 1 và quý 2 của thai kì

RPL



Số bệnh nhân



p



40



Gen

MTHFR C677T

MTHFR A1298C

PAI-1 4G/5G



Khơng đột biến

Có đột biến



Q 1

34

08



Q 2

13

6



Khơng đột biến

Có đột biến

Khơng đột biến

Có đột biến



20

22

05

37



10

09

02

17



0,332

0,717

0,624



Nhận xét: Tỷ lệ đột biến MTHFR C677T, MTHFR A1298C và PAI-1 4G/5G

(cả dạng đồng hợp và dị hợp) khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm

phụ nữ có tiền sử RPL xảy ra ở quý 1 và quý 2 của thai kì.

Bảng 3.10. Tỷ lệ đột biến gen MTHFR và PAI-1 4G/5G ở hai nhóm bệnh

nhân RPL chưa có con và đã có một con

RPL

Gen

MTHFR C677T

MTHFR A1298C

PAI-1 4G/5G



Số con hiện có

0

1



Khơng đột biến

Có đột biến



48

16



07

01



Khơng đột biến

Có đột biến

Khơng đột biến

Có đột biến



31

33

06

58



05

03

01

07



p

0,671

0,710

0,578



Nhận xét: Tỷ lệ đột biến MTHFR C677T, MTHFR A1298C và PAI-1 4G/5G

(cả dạng đồng hợp và dị hợp) khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm

phụ nữ RPL chưa có con và đã có một con.

Bảng 3.11. Mối liên quan giữa số lần RPL với một số đột biến

Số lần RPL

Gen

MTHFR C677T

MTHFR A1298C

PAI-1 4G/5G



Khơng đột biến

Có đột biến

Khơng đột biến

Có đột biến

Khơng đột biến



2



≥3



12

03

05

10

03



43

14

31

26

04



p

0,503

0,147

0,153



41



Có đột biến



12



53



Nhận xét: Tỷ lệ đột biến MTHFR C677T, MTHFR A1298C và PAI-1 4G/5G

(cả dạng đồng hợp và dị hợp) khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm

phụ nữ có tiền sử sẩy thai, thai chết lưu 2 lần và từ 3 lần trở lên.



42



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu nằm trong độ tuổi sinh sản từ 25 34, chiếm tổng cộng 69,5%. Tuổi thấp nhất là 21 và cao nhất là 45, tuổi trung

bình trong nghiên cứu là 30,9 ± 5,7, tương tự với đối tượng của một số nghiên

cứu về mối liên quan giữa các đột biến gen của chứng ưa huyết khối di truyền

với RPL . Đây là độ tuổi sinh đẻ, nếu tìm được nguyên nhân và yếu tố nguy

cơ có thể thực hiện việc can thiệp, hỗ trợ sớm nhằm có được kết quả tốt cho

thai kì lần sau. Hầu hết (88,9%) đối tượng nghiên cứu chưa có con, chỉ có

11,1% đã có một con, trong số này đều gặp các đột biến có ở nhóm phụ nữ

RPL chưa có con với tỷ lệ khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê, như đột biến

yếu tố V R2 (1/8 trường hợp), đột biến MTHFR C677T và A1298C, PAI -1

4G/5G. Đa số đối tượng nghiên cứu có tiền sử sẩy thai, thai chết lưu 2 và 3

lần liên tiếp, tương ứng là 20,8% và 31,9%. Số phụ nữ có tiền sử 4 lần mất

thai tái diễn cũng chiếm tỷ lệ đáng kể là 19,4%. Tổng số lần sẩy thai, thai chết

lưu là 275, trong đó phần lớn RPL xảy ra trong quý 1 thai kì, chiếm tỷ lệ

76,7%, tỷ lệ mất thai ở quý đầu cũng chiếm đa số trong nhiều nghiên cứu về

IT và RPL . Bên cạnh đó, tỷ lệ RPL xảy ra trong quý 2 và quý 3 chiếm lần

lượt là 21,8% và 1,5%. Khơng có bệnh nhân nào có tiền sử bản thân và gia

đình về các bệnh lý tắc mạch như thuyên tắc động, tĩnh mạch, nhồi máu cơ

tim, nhồi máu não lúc trẻ tuổi.



43



4.2. Hồn thiện quy trình phát hiện một số đột biến gen liên quan đến

chứng ưa huyết khối di truyền bằng bộ kit CVD-T StripAssay

(ViennaLab)

So với thời gian điện di 45 phút và 65 phút thì thời gian điện di 55 phút

cho tỷ lệ hình ảnh điện di đạt cao hơn có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 (các

băng phân tách tốt và rõ nét hơn). Như vậy, thời gian điện di để đánh giá sản

phẩm PCR tốt nhất là 55 phút. Trong nghiên cứu này, ghi nhận một trường

hợp lai không thành công. Trên thanh lai có hiển thị “Green marker line”

nhưng khơng hiện đủ các băng màu wide type của các đột biến được khảo sát,

điều này chứng tỏ sản phẩm PCR không đạt. Bên cạnh đó, hình ảnh điện di

sản phẩm PCR khơng lên các băng. Tiến hành điện di lại sản phẩm PCR của

mẫu này trong 55 phút vẫn cho hình ảnh không hiển thị băng DNA của các

đoạn gen được phản ứng PCR nhân lên. Do đó, chúng tơi thực hiện lại phản

ứng PCR và điện di 55 phút, kết quả cho hình ảnh điện di với đầy đủ các

băng, phản ứng lai sau đó cho kết quả tốt. Như vậy, trường hợp điện di không

đạt (không hiển thị băng hoặc không đủ băng hoặc phân tách không rõ), cần

thực hiện điện di lại trong các điều kiện chuẩn (kiểm tra lại buffer điện di,

thạch điện di, điện thế và thời gian điện di). Nếu điện di lại vẫn không đạt thì

cần thực hiện lại phản ứng PCR. Trường hợp khơng điện di sản phẩm PCR sẽ

không đánh giá trực quan được sản phẩm PCR và dẫn tới khả năng lai khơng

thành cơng. Với kết quả điện di đủ băng thì phản ứng lai đạt 100%. Do giá

thành của thanh lai cao và chi phí của bước điện di thấp nên việc điện di với

thạch Agarose 3% trong 55 phút để đánh giá sản phẩm PCR là cần thiết, trước

khi quyết định có thực hiện hay khơng phản ứng lai tiếp theo.



44



4.3. Mô tả một số đột biến gen liên quan đến chứng ưa huyết khối di

truyền ở phụ nữ sẩy thai, thai chết lưu liên tiếp

4.3.1. Đột biến yếu tố V Leiden và đột biến yếu tố V R2

Trong nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện trường hợp nào mang

đột biến gen FVL (cả kiểu gen dị hợp và đồng hợp), kết quả này cũng thống

nhất với nghiên cứu của Rees và cộng sự về phân bố của gen FVL trên thế

giới (năm 1995), FVL hầu như chỉ gặp ở người da trắng và ít gặp ở các chủng

tộc khác . Tần số dị hợp FVL thay đổi rất nhiều giữa các quốc gia khác nhau,

tỷ lệ cao nhất được xác định là ở những nước vùng Địa Trung Hải, như

Lebanon (14,4%), Cộng hòa Síp (12,1%) và Jorrdan (12,3%). Không phát

hiện đột biến này ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, các nước châu Phi

và người Mỹ bản địa . Nghiên cứu hồi cứu trên 1507 bệnh nhân RPL ở Thổ

Nhĩ Kỳ năm 2014 thì tỷ lệ đồng hợp và dị hợp gen FVL lần lượt là 0,2% và

5,51% . Nghiên cứu ở Bắc Ấn Độ 2009, tỷ lệ FVL là 4,76% (4/84) ở những

phụ nữ RPL từ hai lần trở lên . Trong khi nghiên cứu ở Hy Lạp năm 2007, Mỹ

năm 2005, tỷ lệ FVL dị hợp lần lượt là 1% và 3,7% . Sự khác nhau về tỷ lệ

FVL này có thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ và các nghiên cứu được

thực hiện trên những chủng tộc người và vùng địa lý khác nhau. FVL có mối

liên quan chặt chẽ với sẩy thai, thai chết lưu nhiều lần , đặc biệt là RPL trong

ba tháng đầu và được khuyến cáo sàng lọc ở phụ nữ RPL . Tuy nhiên, cần có

thêm nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá sự phân bố đột biến FVL ở

cả đối tượng bệnh (RPL) và chứng, từ đó đưa ra kết luận có cần thiết hay

không việc sàng lọc đột biến này ở những bệnh nhân RPL tại Việt Nam.

Có năm trường hợp (chiếm 6,9%) mang kiểu gen dị hợp FVR2, kết quả

này cũng tương tự với nghiên cứu Arabkhazaeli tại Iran trên 100 phụ nữ RPL,

với tỷ lệ dị hợp FVR2 là 5% và của Ahmad năm 2013 là 4,49% . Theo một số



45



nghiên cứu, việc mang gen FVR2 làm gia tăng sự kháng protein C hoạt hóa

hay nói cách khác là làm gia tăng nguy cơ huyết khối mạch máu, đặc biệt ở

những bệnh nhân mang đột biến gen FVL .

4.3.2. Đột biến prothrombin G20210A

Trong nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện trường hợp nào mang

đột biến gen prothrombin G20210A. Kết quả này cũng tương tự với nghiên

cứu của Incebiyik và cộng sự tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2014 ở phụ nữ RPL, khi

không phát hiện trường hợp đột biến đồng hợp G20210A nào, tỷ lệ dị hợp là

4,05% và Fatemed Keify và cộng sự năm 2014 tại Iran, với tỷ lệ đột biến

đồng hợp là 0% và dị hợp là 1,91% (4/209). Tỷ lệ đột biến gen này cũng thấp,

trong nghiên cứu ở Hy Lạp là 2/396 trường hợp, chiếm 0,5% , nghiên cứu của

Thổ Nhĩ Kỳ năm 2014 tỷ lệ này là 3% . G20210A được xác định vào những

năm 1990 và hầu như chỉ gặp ở người da trắng. Tỷ lệ đột biến G20210A thay

đổi tử 0 – 15,9% giữa các nhóm chủng tộc, với tỷ lệ cao hơn ở các nghiên cứu

trên đối tượng bị ảnh hưởng bởi tắc mạch . Đột biến này làm tăng nguy cơ

RPL và cũng được khuyến cáo nên sàng lọc ở đối tượng RPL . Tuy nhiên,

cũng tương tự như đột biến FVL, cần có đánh giá đầy đủ hơn về phân bố đột

biến gen này ở Việt Nam, đặc biệt là ở đối tượng RPL và bệnh nhân thuyên

tắc mạch, từ đó đưa ra khuyến cáo về sự cần thiết sàng lọc mang gen này.



46



4.3.3. Đột biến MTHFR C677T và A1298C

Bảng 4.1. So sánh tỷ lệ các kiểu gen MTHFR C677T với các nghiên cứu

trên phụ nữ RPL

Nghiên cứu



Quốc gia



Đào Thị Trang

Incebiyik 2014

Yousefian 2014

Al-Achkar 2017

Cao, Y 2014

Abu-Asab 2011



Việt Nam

Thổ Nhĩ Kỳ

Iran

Syria

Trung Quốc

Palestin



Cỡ

mẫu

72

1507

204

100

82

329



Kiểu gen MTHFR C677T

CC

CT

TT

76,4%

22,2%

1,4%

51,1%

40,61% 8,29%

47,1%

44,1%

8,8%

41%

41%

18%

35,4%

52,4%

12,2%

43,1%

46,8%

9,7%



Nhìn vào bảng trên có thể thấy so với các nghiên cứu khác thì tỷ lệ đột

biến gen MTHFR C677T ở Việt Nam thấp hơn đáng kể, đặc biệt là kiểu gen

đồng hợp TT (chỉ gặp 1/72 bệnh nhân). Sự khác biệt này có thể một phần do

sự khác nhau về cỡ mẫu và có thể là đặc trưng riêng của nhóm bệnh nhân

RPL ở Việt Nam, cần có thêm nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để có đánh giá

đầy đủ về tỷ lệ đột biến gen này.

Tỷ lệ đột biến MTHFR A1298C đồng hợp là 12,5% và dị hợp là 37,5%,

kết quả cũng gần tương đồng với nghiên cứu của Yousefian tại Iran là 12,3%

và 39,7% và Al-Achkar tại Syria năm 2017, trên 100 bệnh nhân RPL với tỷ lệ

lần lượt là 8% và 44% , kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Cao Y

về tỷ lệ dị hợp A1298C là 37,8% và cao hơn ở kiểu gen đồng hợp, trong

nghiên cứu của Cao Y chỉ là 2,4% . Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ dị

hợp tử kép hai đột biến gen MTHFR là 4,2% (3/72 trường hợp), thấp hơn so

với nghiên cứu của Fatemed Keify tại Iran là 28,21% (77/273). Những bệnh

nhân mang dạng dị hợp tử kép này ước tính tăng nguy cơ mất thai lên 4,86 lần

so với những người có kiểu gen bình thường và có tỷ lệ gặp cao hơn đáng kể

ở nhóm bệnh nhân RPL so với nhóm chứng .



47



Dạng dị hợp và đồng hợp của đột biến C677T làm giảm tương ứng 40%

và trên 70% chức năng của enzym MTHFR. Còn đột biến MTHFR A1298C

làm giảm tương ứng 20% và 40% chức năng enzym. Một người mang đồng

thời dạng dị hợp của hai đột biến này (hoặc kiểu gen đồng hợp C677T) thì

hoạt động của enzyme MTHFR chỉ đạt 48% so với người bình thường và

người này có nồng độ folat thấp trong huyết tương và có nguy cơ cao mất

thai . Một số nghiên cứu khuyến cáo sử dụng dạng hoạt động 5-MTHF để bổ

sung cho những người mang đột biến gen MTHFR . Một nghiên cứu khác,

thử nghiệm sử dụng methylfolat (5mg/ngày), vitamin B6 (50mg/ngày) và

vitamin B12 (1mg/tuần) ở những phụ nữ RPL mang đột biến gen MTHFR

(đồng hợp C677T, đồng hợp A1298C hoặc dị hợp tử kép hai đột biến này) có

tăng homocystein huyết thanh và thu được kết quả tốt, một số phụ nữ sau một

năm đã mang thai thành công . Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa

hai đột biến này và RPL, trong đó sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so

sánh tỷ lệ gặp hai đột biến này giữa nhóm bệnh và nhóm chứng . Đột biến

C677T làm tăng nguy cơ RPL, ngoại trừ đối với người da trắng, thông qua

nghiên cứu phân tích gộp của Wu X và cộng sự năm 2012 và Rai V năm

2016 . Các nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa đột biến MTHFR

C677T và A1298C với RPL sớm không rõ nguyên nhân . Tuy nhiên, cũng có

một số nghiên cứu khơng tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so

sánh tỷ lệ gặp hai dạng đột biến này ở nhóm phụ nữ RPL và nhóm khơng bị

sẩy thai, thai chết lưu và có con bình thường .

4.3.4. Đột biến PAI - 1 4G/5G

Bảng 4.2. So sánh tỷ lệ các kiểu gen PAI-1 4G/5G với một số nghiên cứu

trên phụ nữ RPL

Nghiên cứu



Quốc gia Mẫu



5G/5G



Kiểu gen PAI-1

4G/5G



4G/4G



48



Đào Thị Trang Việt Nam

Valentina

Serbia

2014

Thổ Nhĩ

Ozdemir 2015

Kỳ

Coulam 2008

Hoa Kỳ

Bắc Ấn

Parveen 2013

Độ

Hàn

Kim 2014

Quốc

Trung

Guan 2005

Quốc



72



7 (9,7%)



38 (52,8%)



27 (37,5%)



112



31 (27,7%)



45 (40,2%)



36 (52,1%)



543



91 (16,8%)



331 (60,9%) 121 (22,3%)



550



115 (20,9%)



396 (72%)



39 (7,1%)



200



55 (27,5%)



100 (50%)



45 (22,5%)



227



31 (13,7%)



123 (54,2%)



73 (32,1%)



127



17 (13,4%)



52 (40,9%)



58 (45,7%)



Trong nghiên cứu này, đa số các trường hợp mang kiểu gen dị hợp PAI –

1 4G/5G, chiếm 52,8%, và kiểu gen đồng hợp 4G/4G cũng gặp với một tỷ lệ

cao là 37,5%, kết quả này cũng tương tự với các kết quả của các nghiên cứu

trên. Qua đó, cho thấy rằng khơng có sự khác nhau nhiều về phân bố các kiểu

gen PAI-1 4G/5G ở các quốc gia và chủng tộc. Kiểu gen PAI-1 4G/4G gặp

phổ biến ở bệnh nhân RPL, bệnh nhân IVF thất bại nhiều lần khi so sánh với

nhóm chứng và đột biến này có liên quan với việc tăng nguy cơ RPL và IVF

thất bại liên tiếp lên 2-4 lần . Đột biến gen PAI-1 4G/5G đóng vai trò quan

trọng trong RPL, sàng lọc đột biến gen này nên được thực hiện trong việc đi

tìm nguyên nhân RPL và những bệnh nhân này nên được điều trị chống đơng

trong q trình mang thai nếu cần .

4.3.5. Đột biến yếu tố XIII Val34Leu

Trong nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện trường hợp nào mang

alen 34Leu. So sánh với nghiên cứu ở một số nước trên thế giới thì thấy sự

khác biệt rõ ràng. Nghiên cứu của M. Bagheri và cộng sự năm 2011, tỷ lệ dị

hợp tử yếu tố XIII Val/Leu gặp 19/54 (35,19%) và dạng đồng hợp không phát

hiện trường hợp nào . Nghiên cứu của Dossenbach 2003 ở Áo, phát hiện tỷ lệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Các trường hợp điện di trong 55 phút cho hình ảnh đủ băng điện di đều cho phản ứng lai thành công.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×