Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phẫu thuật gây ra stress đối với cơ thể. Phẫu thuật ảnh hưởng đến TTDD của bệnh nhân bởi nhiều yếu tố: Do nhịn ăn trước phẫu thuật và nhịn ăn sau phẫu thuật, tăng năng lượng chuyển hóa. Ngoài ra các biến chứng sau mổ cũng có tác động đến dinh dưỡng của bệ

Phẫu thuật gây ra stress đối với cơ thể. Phẫu thuật ảnh hưởng đến TTDD của bệnh nhân bởi nhiều yếu tố: Do nhịn ăn trước phẫu thuật và nhịn ăn sau phẫu thuật, tăng năng lượng chuyển hóa. Ngoài ra các biến chứng sau mổ cũng có tác động đến dinh dưỡng của bệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



1.2.5. Suy mòn trong ung thư hạ họng – thanh quản.

Ung thư gây tác động lên dinh dưỡng theo nhiều cơ chế khác nhau. Tình

trạng SDD thường gặp trong ung thư, hậu quả cuối cùng có thể dẫn tới suy mòn

[20]. Xây dựng sơ đồ dưới đây giải thích cơ chế gây suy mòn trong ung thư

Ung thư



Các điều trị

chống ung thư



Chán ăn



Tắc nghẽn cơ học



Giảm hoạt động

thể chất, các rối

loạn tâm lý



Đáp ứng của cơ thể, các

sản phẩm từ khối u.



Mất cân bằng năng lượng

và chuyển hóa P L G

Giảm lượng

ăn vào

Rối loạn chuyển hố

Rối loạn hấp thu

Suy mòn



Biểu đồ 1.1. Tác động của ung thư lên tình trạng dinh dưỡng

1.2.6. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân

1.2.6.1. Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI)

Công thức này luôn luôn được mô tả dưới dạng thể trọng theo chiều cao

và cho phép so sánh cho cả hai giới tính và hầu hết các nhóm tuổi dựa vào

một giới hạn tiêu chuẩn nhất định.



13



BMI =

Có nhiều quan niệm khác nhau về giới hạn giữa tình trạng dinh dưỡng

bình thường và suy dinh dưỡng, tuy nhiên, giới hạn được chấp nhận ở hầu hết

các nước là BMI từ 18,5 đến 20 kg/m2. Theo một nghiên cứu ở Anh, có

khoảng 5% dân số thiếu cân (BMI< 20 kg/m2) [40], nghiên cứu ở một số

nước Châu Âu khác cho kết quả tương tự. Dù dùng BMI < 20 kg/m2 là tiêu

chuẩn thiếu cân nhưng những người “khơng thiếu cân” cũng có thể suy dinh

dưỡng khi sụt cân không chủ định (sụt cân từ 10% cân nặng trở lên trong 3-6

tháng). Cũng vậy, người có cân nặng ổn định với BMI <20 kg/m2 đặc biệt là

ở người trẻ vẫn có thể khỏe mạnh bình thường.

Nghiên cứu này sử dụng phân loại chỉ số BMI theo WHO (2000) [21].

- Béo phì: > 30 kg/m2

- Thừa cân: 25- 30 kg/m2

- Bình thường: 18,5- < 25 kg/m2

- Suy dinh dưỡng: < 18,5 kg/m2

- Suy dinh dưỡng nặng: < 16 kg/m2

Những giá trị BMI dưới 20 thường có liên quan đến tỉ lệ tử vong và hiệu

quả điều trị. Đối với người cao tuổi thì mức giới hạn tăng lên, do đó, một giá

trị BMI dưới 22 cũng báo hiệu sự suy dinh dưỡng. Đối với bệnh nhân nằm

viện chỉ số này khơng còn chính xác ở những trường hợp mất nước hay phù,

báng bụng.

1.2.6.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp tổng thể chủ

quan (Subjective Global Assessment – SGA)

Phương pháp SGA được Destky, trường đại học Toronto (Canada) xây

dựng và công bốnăm 1985 [22]. Cho đến nay, phương pháp SGA là một trong

những công cụ sàng lọc và đánh giá TTDD trong thực hành lâm sàng được áp



14



dụng tại nhiều nơi trên thế giới như Ấn Độ. SGA được coi như một công cụ

vừa sàng lọc vừa đánh giá tình trạng dinh dưỡng đơn giản, khơng lấy máu, chi

phí thấp, có giá trị tiên lượng tốt với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả

nhanh sau 15 đến 30 phút tùy kỹ năng chuyên môn của nhân viên đánh giá.

Các nghiên cứu tổng quan cho thấy SGA có thể sử dụng trên nhiều nhóm đối

tượng bệnh nhân khác nhau cả ngoại khoa và nội khoa bao gồm: Phẫu thuật

đường tiêu hóa. Theo một nghiên cứu của Bei-Wen Wu và cộng sự năm 2009

của bệnh viện đại học Y Thượng Hải, Trung Quốc trên 751 bệnh nhân ung thư

đường tiêu hóa, giá trị dự đốn của nhóm có nguy cơ SDD từ vừa đến caotheo

SGA tương ứng với thời gian nằm viện tăng từ 8 đến 13 ngày, biến chứng sau

phẫu thuật tăng từ 14% đến 50% (p= 0,01). và có tương quan chặt chẽ với kết

quả Albumin huyết thanh thấp thậm chí còn giá trị hơn cả đánh giá bằng

Albumin huyết thanh (p = 0,04). Có nghiên cứu còn coi SGA như một tiêu

chuẩn vàng do tính giá trị mà nó mang lại. Năm 2011, theo đánh giá của Hiệp

Hội Dinh dưỡng đường miệng và đường tĩnh mạch của Mỹ (ASPEN), SGA là

công cụ hàng đầu trong số các công cụ được lựa chọn dùng để đánh giá tình

trạng dinh dưỡng [22].

* Ưu điểm và hạn chế của phương pháp SGA

 Ưu điểm

SGA là bộ công cụ có thể vừa sàng lọc vừa đánh giá TTDD, là phương

pháp đánh giá đối tượng tổng thể trên lâm sàng bao gồm cả yếu tố khách quan

và chủ quan có độ nhạy độ đặc hiệu cao. Có thể sử dụng để sàng lọc hoặc

đánh giá TTDD để xác định các đối tượng có nguy cơ. Hiệu quả khi lượng

Protein lưu hành trong máu không đáng tin cậy (quá cao). Có hiệu quả đối với

các bệnh nhân ngoại khoa phẫu thuật đường tiêu hóa. Sử dụng cơng cụ sàng

lọc và đánh giá bằng SGA có chi phí thấp, khơng lấy máu, kỹ thuật đánh giá

khơng q khó, cho kết quả nhanh, dụng cụ đơn giản, tiết kiệm được chi phí

cho người bệnh.



15



Hạn chế

SGA là phương pháp đánh giá tổng thể nhưng phần nhiều mang tính chủ

quan, định tính nhiều hơn định lượng và phụ thuộc nhiều vào bệnh án và báo

cáo của bệnh nhân. Để hạn chế nhược điểm chủ quan của SGA, những nhân

viên đánh giá cần phải được tập huấn. Phần hỏi tiền sử người bệnh cần có

thơng tin chính xác và cần tính tốn nên kỹ năng và tính chuyên nghiệp của

nhân viên đánh giá là rất quan trọng. Khi có kết quả phân loại TTDD, SGA

chưa đưa ra được kế hoạch can thiệp cụ thể.

1.2.6.3. Tỷ lệ % mỡ cơ thể (Body Fat Percentage – BFP)

Thừa cân và béo phì được định nghĩa là sự tích lũy bất thường hoặc quá

nhiều mỡ vào cơ thể mà có thể gây hại cho sức khỏe. Thừa cân béo phì là yếu

tố nguy cơ của nhiều loại ung thư, trong đó có UTĐTT. Trong khi BMI chỉ có

ý nghĩa ước đốn lượng mỡ trong cơ thể, mang tính định hướng xác định thừa

cân béo phì thì tỉ lệ % mỡ cơ thể đưa ra con số cụ thể về thành phần mỡ của

cơ thể. Bởi vậy BFP giúp phân loại chính xác thừa cân béo phì cho từng các

thể. Tỉ lệ % mỡ cơ thể được định nghĩa là tỉ lệ phần trăm khối lượng mỡ của

cơ thể chia cho khối lượng của cơ thể. BFP được đo bằng nhiều phương pháp.

Các phương pháp hiện nay sử dụng để tính BFP gồm [23]:

+ Đo hấp phụ năng lượng tia X kép (Dual Energy Xray Absorptionetry DEXA)

+ Đo độ xuyên của ánh sáng qua cơ thể

+ Đo đồng vị pha lỗng

+ Cộng hưởng từ

+ Phân tích kháng trở điện sinh học (Bioelectrical Impedance Analysis - BIA)

+ Đo độ dày lớp mỡ dưới da



16



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1. Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định UTHH-TQ có chỉ định phẫu thuật

tại khoa B1 Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

2.2. Cỡ mẫu

Cơng thức tính cỡ mẫu “Ước lượng tỷ lệ quần thể với độ chính xác

tương đối” [24].



n = Z (21−α / 2 )



(1 − p)

ε2p



Với α=0,05; Z=1,96; p=0,4; ε = 0,25 (p, ε được lấy dựa vào một nghiên

cứu của Ấn Độ) [6]. Thay vào công thức, cỡ mẫu nghiên cứu 92 bệnh nhân +

10% bệnh nhân bỏ cuộc là n = 100 bệnh nhân.

Cách chọn mẫu: Chọn mẫu chủ đích đến khi đủ số mẫu nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu tiến cứu mơ tả cắt ngang

2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch, nhập bằng phần mềm Epidata

3.1 và phân tích bằng phần mềm STATA 12.0

2.3.3. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng:

* Đánh giá bằng chỉ số nhân trắc (BMI, BFP).

* Chỉ số hóa sinh (hemoglobin).

* Phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan.



17



2.4. Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin

2.4.1. Cân trọng lượng cơ thể

Công cụ: cân Tanita Nhật Bản với độ nhạy 100g. Cân được đặt ở vị trí

bằng phẳng và ổn định, chỉnh cân về số 0.0 kg. Trước khi cân, kiểm tra cân để

kiểm sốt độ chính xác và độ nhạy của cân.

- Kết quả được ghi theo đơn vị kilogram với 1 số lẻ sau dấu thập phân.

2.4.2. Đo chiều cao

- Sử dụng thước Microtoise của Pháp (độ chính xác 0,1 cm). Thước được

đóng trên mặt phẳng tường vng góc với mặt phẳng sàn nhà.

2.4.3. Tính chỉ số khối cơ thể - BMI

Sau khi đo cân nặng và chiều cao của bệnh nhân, tính BMI dựa theo

cơng thức:

BMI =

TTDD được phân loại theo bảng sau:

Bảng 2.1. Bảng phân loại BMI theo WHO năm 2000 [30]

Phân loại



BMI(kg/m2)



Thiếu năng lượng trường diễn (CED)



< 18,5



CED độ III (nghiêm trọng)



< 16,00



CED độ II (trung bình)



16,00- 16,99



CED độ I (nhẹ)



17,00- 18,49



Bình thường



18,50- 24,99



Thừa cân

Tiền béo phì

Béo phì



≥ 25,00

25,00- 29,99

≥ 30,00



Béo phì độ I



30,00- 34,99



Béo phì độ II



35,00- 39,99



Béo phì độ III



≥ 40,00



18



2.4.4. Tỉ lệ % sụt cân

Tỉ lệ % sụt cân được tính theo cơng thức:

x 100%

Phân loại mức độ sụt cân theo tỉ lệ % sụt cân theo bảng sau:

Bảng 2.2. Bảng phân loại mức độ sụt cân [25]

Thời gian



Sụt cân đáng kể



Sụt cân nghiêm trọng



1 tuần



1-2%



> 2%



1 tháng



5%



>5%



3 tháng



7.5%



>7.5%



6 tháng



10%



>10%



2.4.5. Đo tỉ lệ % mỡ cơ thể (BFP)



NỮ



Giá trị tham khảo của tỷ lệ % mỡ cơ thể [31].



NAM



Tuổi



Gầy



%

Tuổi 40%Gầy



Khỏe mạnh



Béo



10%



Béo phì



20%

Khỏe mạnh



Béo



30%



Béo phì



Biểu đồ 2.1.Biểu đồ phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BFP

- Cơng cụ: cân Tanita Nhật Bản.

% 10%

%0% 10% 20%30%



20%



30%



40%



19



2.4.6. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp SGA

- Đối tượng được phỏng vấn lúc nhập viện.

- Kỹ thuật: SGA là phương pháp đáng tin cậy để đánh giá TTDD của

bệnh nhân nhập viện phẫu thuật. Phương pháp SGA gồm có hai phần là: khai

thác bệnh sử và khám lâm sàng.

Bảng 2.3. Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo SGA

Phân loại SGA



Ý nghĩa



SGA - A



Dinh dưỡng tốt



SGA - B



SDD hoặc nguy cơ SDD mức độ trung bình



SGA - C



SDD mức độ nặng



Lưu ý: Cách đánh giá này là đánh giá chủ quan, khơng cần tính tốn.

Quan trọng nhất là giảm cân, khẩu phần ăn, sụt cân/ dự trữ mỡ.Khi do dự giữa

điểm A hoặc B, chọn B; khi do dự giữa B và C, chọn B.

2.4.7. Phỏng vấn và ghi chép khẩu phần 24h

Điều tra khẩu phần 24h dùng để đánh giá khẩu phần 24h của đối tượng

một ngày trước mổ và bẩy ngày sau mổ liên tiếp.

2.4.8. Khai thác hồ sơ bệnh án

2.5. Quản lý và phân tích số liệu

- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, số liệu được nhập 2 lần

để kiểm soát sai số. Sau đó, số liệu sẽ được làm sạch và đưa vào phân tích

bằng phần mềm STATA 13.



20



CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=100)

Thông tin chung

Tuổi



n



%



18 - 59 tuổi



53



53,0



≥ 60 tuổi



47



47,0



Trung bình (thấp nhất – cao nhất)

Giới



58,0 ± 10,0 (22-78)



Nam



97



97,0



Nữ



3



3,0



Nhận xét:

Trong số 100 bệnh nhân ung thư hạ họng – thanh quản đủ tiêu chuẩn tham

gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình 58,0; bệnh nhân nam chiếm đa số với 97%.

Bảng 3.2. Đặc điểm tiền sử bệnh tật(n=100)

Tiền sử bệnh tật

Vị trí K

Tiền sử phẫu thuật

Tiền sử xạ trị

Tiếp xúc chất độc hại

Tiền sử hút thuốc

Tiền sử uống rượu



n



%



Hạ họng



26



26,0



Thanh quản



74



74,0







5



5,0



Khơng



95



95,0







1



1,0



Khơng



99



99,0







34



34,0



Khơng



66



66,0







80



80,0



Khơng



20



20,0







80



80,0



Khơng



20



20,0



21



Nhận xét:

Trong thời gian nghiên cứu, có 74% bệnh nhân bị ung thư thanh quản và

26% bệnh nhân ung thư hạ họng. Đa số bệnh nhân phẫu thuật lần đầu.Có 1

bệnh nhân có tiền sử xạ trị. 34% bệnh nhân có tiếp xúc với các hóa chất độc

hại. 80% bệnh nhân có tiền sử hút thuốc và uống rượu. 37% bệnh nhân có

mắc thêm 1 số bệnh khác như: Loét dạ dày, gan nhiễm mỡ, đái tháo đường…

Bảng 3.3. Đặc điểm nhân trắc của bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Giới tính Nam (n=97)

Số đo

nhân trắc



Nữ (n=3)



Tổng (n=100)

p



TB ± SD



Cân nặng (kg)



56,8 ± 8,7



49 ± 1,0



56,6 ± 8,7



>0,05*



Chiều cao (cm)



164 ± 5,0



158 ± 8,0



163,6 ± 5,4



>0,05**



BMI (kg/m2)



21,1 ± 2,7



19,7 ± 2,2



21,1 ± 2,7



>0,05*



*



ttest; **Man-Whitney test



Nhận xét:

Cân nặng trung bình của 100 bệnh nhân ung thư hạ họng thanh quản là

56,6 ± 8,7 kg, nam giới có cân nặng trung bình cao hơn nữ (56,8 ± 8,7 kg so

với 49 ± 1,0 kg) song sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

Số đo BMI trung bình của 100 bệnh nhân ung thư là 21,1 ± 2,7 kg/m2, nữ

có BMI trung bình thấp hơn nam là 19,7 ± 2,2 kg/m2 so với nam là 21,1 ± 2,7

kg/m2 song sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo vị trí ung thư và nhóm tuổi

Nhóm tuổi



UT Hạ họng

(n=26)



UT Thanh quản

(n=74)



n



%



n



%



18 - 59 tuổi



16



61,5



37



50,0



≥ 60 tuổi



10



38,5



37



50,0



*Fisher’s exact test



P



>0,05



22



Nhận xét:

Đa số các bệnh nhân ung thư hạ họng thuộc nhóm tuổi từ 18 - 59 tuổi

(53,8%). Đối với ung thư thanh quản tỷ lệ bệnh nhân theo 2 nhóm tuổi là

ngang nhau.

Bảng 3.5. Phân bố bệnh nhân theo giai đoạn bệnh

UT Hạhọng



UT Thanhquản



Tổng số



(n=26)



(n=74)



(n=100)



Giai đoạn

n



%



n



%



n



%



Giai đoạn I



7



26,9



23



31,1



30



30,0



Giai đoạn II



13



50,0



37



50,0



50



50,0



Giai đoạn III và IV



6



23,1



14



18,9



20



20,0



Nhận xét:

50% bệnh nhân tham gia nghiên cứu đang nằm trong giai đoạn II của bệnh.

30% bệnh nhân giai đoạn I và có 20% bệnh nhân thuộc giai đoạn III và IV.

3.2. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư hạ họng – thanh quản

trước và sau phẫu thuật

3.2.1. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư theo BMI

Bảng 3.6. Tình trạng dinh dưỡng theo BMI

Phân loại BMI (kg/m2)



Trước phẫu thuật



Sau phẫu thuật



N



%



n



%



<16,0



1



1,0



9



9,0



16,0 – 16,99



5



5,0



8



8,0



17,0 - 18,49



13



13,0



14



14,0



Bình thường 18,5 – 24,99



72



72,0



65



65,0



Thừa cân



9



9,0



4



4,0



SDD



≥ 25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phẫu thuật gây ra stress đối với cơ thể. Phẫu thuật ảnh hưởng đến TTDD của bệnh nhân bởi nhiều yếu tố: Do nhịn ăn trước phẫu thuật và nhịn ăn sau phẫu thuật, tăng năng lượng chuyển hóa. Ngoài ra các biến chứng sau mổ cũng có tác động đến dinh dưỡng của bệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×