Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Một số đặc điểm miễn dịch tế bào trong nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị.

3 Một số đặc điểm miễn dịch tế bào trong nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị.

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



(1997), tỷ lệ CD34 dương tính là 58% [59]. Một nghiên cứu khác cũng cho

thấy, CD34 dương tính trong 70% các trường hợp [60],[61]. Dấu ấn CD10

dương tính trong hầu hết các trườn hợp, có 10,42% các bệnh nhi âm tính với

dấu ấn CD38 và dấu ấn CD34 âm tính trong 33,33% số trường hợp. Từ đó

chúng tơi thấy rằng một quần thể tế bào non ác tính khơng nhất thiết phải có

đủ các dấu ấn non, hay nói một cách khác một tế bào non ác tính có thể mang

một hoặc nhiều dấu ấn non. Trong số các dấu ấn đặc trưng dòng lympho B

được khảo sát 100% dấu ấn CD19 có biểu hiện dương tính và mức độ biểu

hiện phần lớn ở mức bình thường (87,5%), có 12,5% có biểu hiện quá mức.

Như vậy ta thấy dấu ấn CD19 là một dấu ấn rất đặc trưng cho tế bào dòng

lympho nói chung và tế bào ác tính dòng lympho nói riêng, đây là dấu ấn rất

tốt để chúng tơi sử dụng để “khoanh vùng” tế bào dòng lympho trong q

trình xác định MRD. Khi phân tích mức độ biểu hiện của dấu ấn non dòng

lympho B là CD10 chúng tơi cũng thấy 95,8% các trường hợp dương tính của

CD10 thì đa số các trường hợp có biểu hiện quá mức chiếm 77,08%, có 9/47

trường hợp có biểu hiện ở mức bình thường, kết quả này phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hà và cs (2014)[45]. Cũng tương tự như dấu

ấn CD10, dấu ấn CD79a dương tính hầu hết trong các quần thể tế bào ác tính

nghiên cứu chiếm 97.92%. Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài

nước cũng cho tỷ lệ dương tính cao, điều này cũng dễ hiểu bởi các dấu ấn này

xuất hiện trong hầu hết các giai đoạn phát triển và biệt hóa của tế bào dòng

lymphoB. Phân tích mức độ biểu hiện của dấu ấn tế bào gốc CD34 chúng tôi

cũng thấy tỷ lệ cao số các trường hợp dương tính của CD34 có biểu hiện q

mức (58,3%), số trường hợp có mức độ biểu hiện bình thường chỉ chiếm



63



8,3%. Dấu ấn biểu hiện sự biệt hóa hơn của tế bào dòng lympho trong q

trình phát triển và biệt hóa là dấu ấn CD20, trong nghiên cứu này chúng tơi

thấy có 16 trường hợp có biểu hiện của dấu ấn CD20, trong đó có 7 trường

hợp có biểu hiện mức bình thường chiếm 14,6% trong nhóm nghiên cứu, 9

trường hợp có biểu hiện quá mức chiếm 18,8%. Dấu ấn biệt hóa tiếp theo là

dấu ấn CD22 có 21 số trường hợp có biểu hiện dương tính chiếm 43,75%, kết

quả này tương đối phù hợp với kết quả của Supriyadi E và cs (2011) và cao

hơn kết quả của Hồng Chí Cương (2014) [57],[58]. Ngồi ra dòng lymphoB

còn có dấu ấn CD38, CD123, hai dấu ấn này hiện nay đã được ứng dụng khá

nhiều trong việc theo dõi tồn lưu bệnh thơng qua chỉ số MRD, dấu ấn CD38

có biểu hiện trong hầu hết các trường hợp nghiên cứu, tỷ lệ cao các trường

hợp có biểu hiện dưới mức, có 6 trường hợp có biểu hiện ở mức bình thường,

5 trường hợp có biểu hiện âm tính với dấu ấn CD38. Dấu ấn CD123 có 29

trường hợp có biểu hiện và đa số biểu hiện ở mức bình thường (chiếm

45,8%), ngày nay người ta nhận thấy rằng dấu ấn CD123 là dấu ấn có sự biểu

hiện tương đối ổn đinh khi chẩn đốn và trong q trình điều trị hóa trị liệu

do đó nó là dấu ấn rất tốt ứng dụng để theo dõi chỉ số MRD. Ngoài ra trong

nhóm nghiên cứu chúng tơi thấy có 4 trường hợp có biểu hiện dấu ấn dị dòng

trong đó 2 trường hợp có biểu hiện thêm dấu ấn dòng tủy (CD33, CD13), 2

trường hợp biểu hiện dấu ấn dòng T lympho: 1 trường hợp có CD3, 1 trường

hợp có CD5 tuy nhiên mức độ biểu hiện của các dấu ấn dị dòng này khơng

cao. Kết quả xuất hiện dấu ấn dị dòng trong nghiên cứu này tương đương với

kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hà và cộng sự (2014)[45], thấp hơn rất

nhiều so với kết quả của tác giả trước đây, theo Trần Quốc Dũng (2002),



64



Nguyễn Phương Liên (2011) cho thấy sự hiện diện của các dấu ấn dị dòng là

trên 50% với các bệnh LXM cấp nói chung và khoảng 65% trong số đó là

LXM cấp dòng lympho B với sự hiện diện của CD13, CD33, CD15.[64]. Dấu

ấn CD45 khơng phải là dấu ấn đặc trưng dòng hay dấu ấn non, nhưng dấu ấn

CD45 được đánh giá là dấu ân hết sức quan trọng ứng dụng trong chẩn đoán

cũng như trong đánh giá MRD bằng flow cytometry. Người ta thấy rằng tế

bào bạch cầu bình thường trong tủy có CD45(+), do đó khi xuất hiện những tế

bào non có biểu hiện âm tính hoặc dương tính yếu với CD45 trên biểu đồ

SSC/CD45 sẽ xuất hiện một quần thể bất thường trong “vùng trống” và đây là

một trong những đặc điểm của LAIP [54]. Trong nghiên cứu chúng tôi thấy có

91,66% (77,08% + 14,58%) các trường hợp có biểu hiện CD45 âm tính hoặc

dim. Từ phân tích mức độ biểu hiện của các dấu ấn và sự biểu hiện không

đồng bộ của chúng trên quần thể tế bào ác tính chúng tơi đã tìm ra được các

LAIP ứng dụng để đánh giá MRD, theo tổng kết ở bảng 3.21 dấu ấn có biểu

hiện quá mức chiếm tỷ lệ cao là CD10, CD34, biểu hiện dưới mức chiếm tỷ lệ

cao là CD45, không biểu hiện là CD45, sự biểu hiện không đồng bộ giữa các

dấu ấn: CD34/CD45, CD10/CD20, CD34/CD20, CD123/CD34.

4.3.2 Đặc điểm một số dấu ấn miễn dịch tế bào sau giai đoạn điều trị tấn công.

Trong điều trị LXM cấp nói chung giai đoạn điều trị tấn cơng là giai

đoạn hết sức quan trọng, với sự phối hợp của các loại hóa chất với mục tiêu

loại trừ tối đa tế bào ác tính để đạt tình trạng lui bệnh hồn tồn, ở giai đoạn

này có nhiều thay đổi về các chỉ số huyết học ở máu ngoại vi và tủy xương,

về miễn dịch tế bào đặc biệt các dấu ấn miễn dịch trên tế bào ác tính đó cũng



65



sẽ có những thay đổi. Phân tích kết quả miễn dịch trên nhóm bệnh nhân

nghiên cứu sau giai đoạn điều trị tấn cơng bằng hóa trị liệu chúng tơi thấy có

những thay đổi sau: Hầu hết các trường hợp đều có số lượng tế bào trong

quần thể tế bào ác tính trước đó giảm rõ rệt kể cả các trường hợp có chỉ số

MRD còn ở mức cao, mức độ biểu hiện của các dấu ấn cũng thay đổi, các dấu

ấn non như dấu ấn CD34 trước điều trị tỷ lệ quần thể có biểu hiện quá mức

chiếm tỷ lệ cao (58,3%) sau điều trị con số này giảm xuống còn 20,8%, trước

điều trị có 33,3% trường hợp có biểu hiện âm tính của CD34 sau điều trị tăng

lên 70,8%. Cùng với sự thay đổi của CD34 dấu ấn CD10 cũng có thay đổi

tương tự tuy nhiên khơng q nhiều như CD34, trước điều trị tỷ lệ biểu hiện

quá mức là 77,08% sau điều trị còn 58,33%, trước điều trị chỉ có 2 trường hợp

có biểu hiện âm tính thì sau điều trị con số này đã lên 15 chiếm 31,2%. Lý

giải cho sự thay đổi mức độ biểu hiện của CD34 và CD10 phải chăng dưới tác

dụng của hóa chất điều trị trong giai đoạn này đã có tác động lên các tế bào ác

tính một phần nào đó làm biệt hóa hơn các tế bào này và theo đó mức độ biểu

hiện của chúng cũng thay đổi thuận theo chiều hướng biệt hóa đó. Khơng

giống như CD34 và CD10, dấu ấn CD19 lại có sự thay đổi rất ít, vẫn như

trước điều trị sau điều trị vẫn đa số quần thể có biểu hiện CD19 ở mức bình

thường (chiếm 79,2%), đây là điểm rất có giá trị để có thể sử dụng nó trong

việc đánh giá tồn lưu tế bào ác tính sau điều trị tấn cơng. Đối với dấu ấn

CD45 nhận thấy có sự thay đổi đáng kể, trước điều trị tỷ lệ cao số bệnh nhân

có CD45 biểu hiện âm tính hoặc dương tính yếu, sau điều trị tỷ lệ âm tính với

CD45 tăng lên 47,92%, số bệnh nhân có biểu hiện dương tính yếu (dưới mức)

giảm xuống còn 45,83%. Dấu ấn có ứng dụng khá nhiều trong đánh giá MRD



66



những năm gần đây là dấu ấn CD123, nhiều nghiên cứu nhận thấy dấu ấn

CD123 có biểu hiện khác biệt rõ rệt giữa tế bào bình thường và tế bào LXM,

những tế bào bình thường có biểu hiện trái ngược nhau giữa CD34 và CD123,

những tế bào chưa trưởng thành có CD34(+) lại khơng có biểu hiện CD123

ngược lại những tế bào trưởng thành lại có CD123(+) và CD34(-), trong khi

đó những tế bào LXM cùng lúc có CD34(+)/CD123(+) và biểu hiện này duy

trì bền vững trong q trình hóa trị liệu [55],[56]. Phân tích sự thay đổi mức

độ biểu hiện của dấu ấn CD123 chúng tôi cũng nhận thấy trước và sau điều trị

dấu ấn này khá ổn định, trước điều trị có 39,6% âm tính với CD123 sau điều

trị là 45,8%, trước điều trị có 22/48 bệnh nhi có biểu hiện CD123 ở mức bình

thường, sau điều trị có 19/48 số bệnh nhi, số bệnh nhi có biểu hiện dưới mức

sau điều trị vẫn giữ nguyên so với trước khi điều trị (14,6%). Cũng tương tự

như dấu ấn CD123, dấu ấn CD38 cũng được ứng dụng khá nhiều trong chẩn

đoán cũng như theo dõi MRD, các tế bào dòng lympho bình thường có biểu

hiện CD38 mạnh còn tế bào LXM có dấu ấn CD38 thấp như vậy sẽ xuất hiện

“khoảng trống” và đặc biệt là tính ổn định của dấu ấn này trong q trình điều

trị bằng hóa chất, đây là một trong những LAIP được ứng dụng để xác định

bệnh tồn lưu tối thiểu[43]. Sau điều trị đa số các quần thể tế bào ác tính

nghiên cứu có biểu hiện dưới mức (chiếm 70,83%) , có 25% số trường hợp có

biểu hiện âm tính. Trong 4 trường hợp có dấu ấn dị dòng xuất hiện trong

LXM cấp dòng lympho B khi chẩn đốn, sau điều trị thấy có 1 trường hợp có

dấu ấn dòng tủy (CD13, CD33) có chỉ số MRD < 0,01% , có 2 trường hợp (1

trường hợp có CD33 và CD13; 1 trường hợp có CD5) rơi vào nhóm có nguy

cơ tái phát thấp, 1 trường hợp có CD3 thuộc nhóm có nguy cơ tái phát cao.



67



4.3.3 Đánh giá bệnh tồn lưu tối thiểu sau khi kết thúc giai đoạn điều trị tấn

cơng bằng hóa trị liệu.



68



Trong tổng số 55 bệnh nhân nghiên cứu có 48 bệnh nhân xác định được

các LAIPs và được đánh giá MRD bằng flow cytometry. Kết quả cho thấy.

Tất cả các bệnh nhân được thực hiện đánh giá MRD đều có kết quả lui bệnh

hồn tồn về phương diện hình thái học (tế bào LXM trong tủy < 5%), tuy

nhiên kết quả đánh giá MRD dựa vào các dấu ấn miễn dịch tế bào cho thấy

vẫn còn tỷ lệ khơng nhỏ các bệnh nhi có vẫn còn quần thể tế bào ác tính trong

tủy ở mức > 0,1% (chiếm 14,58%), ở mức 0,01% - < 0,1% chiếm 14,6%, như

vậy có đến 14,6% số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có nguy cơ tái phát

bệnh cao. Đánh giá mức độ nguy cơ của bệnh khi chẩn đoán dựa vào tuổi và

số lượng bạch cầu máu ngoại vi cũng cho tỷ lệ 14,58% số trường hợp có nguy

cơ cao. Tuy nhiên các đối tượng bệnh nhi trong các nhóm đánh giá nguy cơ

trước và sau là khác nhau. Trong số 34 bệnh nhi được đánh giá có nguy cơ rất

thấp sau điều trị theo chỉ số MRD có đến 5 bệnh nhi thuộc nhóm nguy cơ cao

khi chẩn đốn dựa vào số lượng bạch cầu hoặc tuổi, có 2/7 bệnh nhi trong

nhóm nguy cơ thấp được đánh giá qua chỉ số MRD sau điều trị thuộc nhóm

được đánh giá nguy cơ cao khi chẩn đoán, 7/7 bệnh nhi thuộc nhóm nguy cơ

cao theo chỉ số MRD đều thuộc nhóm được đánh giá có nguy cơ thấp khi

chẩn đốn. Từ đây ta thấy thông qua đánh giá mức độ nguy cơ dựa vào chỉ số

MRD sau giai đoạn điều trị tấn công sẽ giúp các bác sỹ lâm sàng có cơ sở cân

nhắc thay đổi và điều chỉnh phác đồ điều trị với những bệnh nhi này. Xét mối

tương quan giữa chỉ số MRD với một số chỉ số huyết học và miễn dịch tế bào

chúng tôi nhận thấy: giữa mức độ nguy cơ theo chỉ số MRD với số lượng

bạch cầu máu ngoại vi, nhóm bệnh nhi có SLBC tăng cao ≥ 50 x10 9/l khơng

có bệnh nhi nào nằm trong nhóm có nguy cơ cao, những bệnh nhi có nguy cơ



69



cao theo chỉ số MRD chủ yếu nằm trong nhóm có số lượng bạch cầu bình

thường và tăng vừa, nhóm nguy cơ thấp nằm trong các phân nhóm của số

lượng bạch cầu ngoại vi. Tương quan giữa mức nguy cơ theo chỉ số MRD với

tỷ lệ tế bào ác tính trong tủy xương chúng tơi thấy nhóm bệnh nhi có tỷ lệ tế

bào ác tính trong tủy cao (>75%) nằm nhiều trong nhóm có nguy cơ tái phát

thấp (chiếm 76,5%), nhóm có nguy cơ tái phát cao đều có ở các phân nhóm tế

bào ác tính trong tủy. Cùng với nhận xét từ trước bệnh LXM cấp là bệnh có

biểu hiện khơng đồng nhất và những kết quả nghiên cứu của chúng tơi cũng

cho thấy điều đó, phân mức nặng nhẹ của bệnh khơng phải chỉ nhìn vào số

lượng bạch cầu máu ngoại vi hay tỷ lệ phần trăm tế bào ác tính máu và tủy

xương mà có thể đánh giá được. Đánh giá mức độ nguy cơ của bệnh khi chẩn

đoán dựa vào chỉ số bạch cầu ngoại vi hoặc tuổi mắc bệnh, tuy nhiên sau giai

đoạn điều trị tấn cơng bằng hóa trị liệu chỉ số để đánh giá mức độ nguy cơ đã

thay đổi, chỉ số MRD được lựa chọn để đánh giá mức độ nguy cơ sau từng

giai đoạn điều trị và đánh giá MRD bằng flow cytometry đối với những bệnh

nhân LXM cấp dòng lympho B là phương pháp được lựa chọn đầu tiên bởi

những ưu điểm của nó về tính đặc hiệu, độ nhạy, thời gian cho kết quả và giá

thành thực hiện xét nghiệm.



70



KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu 55 bệnh nhi cho mục tiêu 1 và 48 bệnh nhi cho mục

tiêu 2 được chẩn đoán và điều trị LXM cấp dòng lympho B tại bệnh viện Nhi

trung ương từ năm 2016 đến tháng 8 năm 2017 cho thấy đặc điểm một số chỉ

số tế bào máu và tủy xương trước và sau giai đoạn điều trị tấn cơng bằng hóa

trị liệu như sau:

- Hầu hết các bệnh nhi nằm ở lứa tuổi 2-8 tuổi, tỷ lệ nam mắc bệnh

nhiều hơn nữ.

- Đặc điểm một số chỉ số máu ngoại vi trước và sau điều trị: Đa số các

bệnh nhi có biểu hiện thiếu máu mức độ vừa, tỷ lệ cao số bệnh nhi có

giảm số lượng tiểu cầu ở mức độ vừa. Sau điều trị hầu hết các bệnh nhi

có số lượng bạch cầu và tiểu cầu trở về giới hạn bình thường, số lượng

bạch cầu hạt trung tính tăng > 0,5 x109/l, khơng còn trường hợp nào có

thiếu máu nặng.

-



Đặc điểm một số chỉ số trong tủy xương: Số lượng tế bào tủy tăng



khá cao, tỷ lệ bạch cầu dòng hạt trong tủy lại giảm rất thấp, phần trăm

bạch cầu ác tính trong tủy tăng cao > 75% là chủ yếu. Sau kết thúc giai

đoạn điều trị tấn công 100% số bệnh nhi đạt lui bệnh hoàn toàn về mặt

hình thái học, đa số các trường hợp có số lượng tế bào tủy ở mức bình

thường, tỷ lệ bạch cầu dòng hạt tủy xương tăng rõ rệt.



71



- Đặc điểm miễn dịch tế bào chúng tôi thấy: 100% số bệnh nhi có biểu

hiện dương tính với CD19, dấu ấn CD79a, CD38 xuất hiện hầu hết các trường

hợp, CD20(+), CD22(+) biểu hiện ít hơn. Có tỷ lệ cao các trường hợp dấu ấn

CD10 dương tính mạnh, đa phần các trường hợp có biểu hiện CD19 ở mức

trung bình. Dấu ấn CD34 có tỷ lệ dương tính mạnh khá cao, tỷ lệ cao số

trường hợp có dấu ấn CD123 và dấu ấn CD38 dương tính. Dấu ấn CD45 chủ

yếu có biểu hiện âm tính hoặc dương tính yếu.

Sau điều trị 100% bệnh nhi có lui bệnh hồn tồn theo kết quả xét

nghiệm tủy đồ, theo đánh giá chỉ số MRD bằng Flow cytometry tỷ lệ đạt

MRD < 0,01% chiếm 70,8%, vẫn còn 7 trường hợp chiếm 14,58% có chỉ số

MRD > 0,1% và 7 trường hợp có MRD trong khoảng 0,01 – < 0,1%. Về đánh

giá mức độ biểu hiện của các dấu ấn được theo dõi chúng tơi thấy nhóm

dấu ấn non (CD10, CD34) trước và sau điều trị có sự thay đổi rõ hơn về

mức độ biểu hiện, sau điều trị các dấu ấn có mức độ biểu hiện thấp hơn so

với trước điều trị. Nhóm các dấu ấn đặc trưng dòng như CD19 ít có sự

thay đổi, đặc biệt chúng tôi thấy dấu ấn CD123 và CD38 tương đối ổn

định trong quá trình điều trị.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Một số đặc điểm miễn dịch tế bào trong nhóm nghiên cứu trước và sau điều trị.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×