Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Một số đặc điểm tế bào máu và tủy xương trước và sau điều trị tấn công.

2 Một số đặc điểm tế bào máu và tủy xương trước và sau điều trị tấn công.

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



Nhận xét chung trung bình về các chỉ số huyết học trước điều trị chúng

tơi thấy nhóm bệnh nhân nghiên cứu có biểu hiện thiếu máu mức độ vừa, số

lượng bạch cầu tăng, số lượng tiểu cầu giảm. Tuy nhiên số lượng bạch cầu có

giải phân bố khá rộng (SLBC trung bình 15,98 ± 23,94 x109/l), dao động

trong khoảng 1,0 - 126,78 x109/l, tương tự số lượng tiểu cầu trung bình giảm

ở mức nhẹ ( 96,27 ± 99,53 x10 9/l) và khoảng dao động từ 7 - 459 x10 9/l, tỷ lệ

tế bào non ác tính ra máu ngoại vi dao động từ 0 - 90%. Số lượng tế bào tủy

tăng cao và dòng hạt máu ngoại vi và trong tủy xương đều giảm. Kết quả này

tương đồng với kết quả của một số nghiên cứu trước và cũng phù hợp với

hình ảnh lâm sàng của bệnh. Tuy nhiên khi phân tích chi tiết từng chỉ số huyết

học chúng tơi thấy vẫn có một số điều cần lưu ý. Nghiên cứu về chỉ số bạch

cầu máu ngoại vi chúng tôi thấy khi chẩn đốn số bệnh nhi có số lượng bạch

cầu tăng cao (>50x109/l) và tăng trung bình (>10-50 x10 9/l) chỉ chiếm 7,3%

và 23,6%, đa số bệnh nhi có số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường

(chiếm 63,6%) và chủ yếu gặp trong nhóm tuổi bênh nhi 1-5 tuổi. Bệnh LXM

cấp là bệnh lý ác tính dòng bạch cầu với đặc trưng là sự tăng sinh và lấn át

của các tế bào đầu dòng trong tủy xương, Tuy nhiên ta thấy rằng số lượng

bạch cầu ở máu ngoại vi không hẳn đã tăng cao cùng với sự tăng số lượng

bạch cầu trong tủy. Trong nghiên cứu này chúng tơi thấy đa phần số bệnh

nhân có số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường. Cũng như đặc điểm số

lượng bạch cầu ngoại vi trong nhóm nghiên cứu, số lượng bạch cầu hạt trung

tính còn ≥0,5x 109/l chiếm tỷ lệ cao (54,5%), số bệnh nhân có SLBC trung

tính ngoại vi giảm rất nặng (<0,2x 109/l) chỉ chiếm (16,4%).Tỷ lệ bệnh nhi

có số lượng bạch cầu tăng cao và số lượng bạch cầu hạt trung tính giảm nặng



59



ở máu ngoại vi trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn sơ với nghiên cứu

của một số tác giả trước đó : nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hà năm 2004 cho

thấy tỷ lệ bạch cầu cao > 50 x109/l chiếm 31,68%, tỷ lệ bạch cầu trung tính

ngoại vi <0,2x109/l chiếm 27,95%; nghiên cứu của David G. Poplack (1993) ,

Berg S.L (2000) cho thấy SLBC cao >10x10 9/l khoảng 50%, tỷ lệ SLBC tăng

rất cao chiếm khoảng 20-25%. Tỷ lệ thấp hơn trong nghiên cứu này so với các

tác giả trước đó phải chăng bệnh đã có sự thay đổi hay do nhờ vào nhiều kỹ

thuật tiên tiến các bệnh nhi đã được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm hơn. Sau

điều trị đa số bênh nhi có số lượng bạch cầu trở về bình thường, khơng còn

bệnh nhi nào có số lượng bạch cầu tăng >50x10 9/l, gần 100% bệnh nhân có số

lượng bạch cầu trung tính > 0,5x109/l.

Phân tích biểu hiện mức độ thiếu máu dựa vào chỉ số Hb trong nghiên

cứu này chúng tơi thấy hầu hết có biểu hiện thiếu máu, nhưng chỉ ở mức độ

vừa phải (60-100 g/l) chiếm 65,5%, thiếu máu nặng (Hb< 60g/l) chỉ chiếm

7,3%. SLTC giảm giảm chiếm khoảng 2/3 số trường hợp, trong đó tiểu cầu

giảm nặng chiếm đa số, có 5 bệnh nhi SLTC chỉ còn < 20x10 9/l. Tuy nhiên

vẫn có đến 34,5% số bệnh nhi có SLTC trong giới hạn bình thường. Sau điều

trị hầu hết số bệnh nhi có SLTC trở về mức bình thường, thậm chí có nhiều

bệnh nhi có SLTC cao > 500 x10 9/l. Khơng còn bệnh nhi nào có biểu hiện

thiếu máu nặng, tỷ lệ Hb >100g/l lên đến 47,3%. Tỷ lệ tế bào ác tính là một

yếu tố quan trọng để có thể chẩn đoán LXM cấp. Theo bảng 3.5 tỷ lệ tế bào ác

tính máu ngoại vi < 25% trong cơng thức phân loại bạch cầu là chủ yếu

(chiếm 78,2%), tỷ lệ bệnh nhi có % tế bào ác tính > 75% chiếm tỷ lệ thấp

(5,5%), trong nhóm có tỷ lệ tế bào ác tính < 25% có đến 2/3 trong số đó



60



khơng xuất hiện tế bào ác tính trong máu ngoại vi. Trong nghiên cứu này ta

thấy có một tỷ lệ khá cao số bệnh nhi có biểu hiện máu ngoại vi SLBC trong

giới hạn bình thường hoặc SLTC bình thường, thiếu máu nhẹ hoặc khơng

thiếu máu và khơng có tế bào ác tính nhưng vẫn được chẩn đốn là LXM cấp.

Bệnh LXM cấp là một bệnh có biểu hiện khơng đồng nhất về các chỉ số máu

ngoại vi do đó cần hết sức thận trọng trong chẩn đoán để tránh bỏ sót bệnh.

4.2.2 Một số đặc điểm tế bào tủy xương trước và sau điều trị.

Xét nghiệm tủy đồ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chẩn đoán cũng

như trong theo dõi tiến triển của bệnh trong quá trình điều trị. Với đặc trưng

của bệnh là sự tăng sinh quá mức của các tế bào đầu dòng trong tủy xương

như vậy sự rối loạn về số lượng tế bào tủy sẽ xảy ra, mức độ rối loạn có khác

nhau trên các bệnh nhi, nghiên cứu này chúng tơi thấy có đến 2/3 trường hợp

có rối loạn về số lượng tế bào trong tủy, trong đó chủ yếu là tăng rất cao

(>200x109/l) chiếm 34,5%, chỉ có 7,3% số ca có sự giảm số lượng tế bào tủy

(<30x109/l). Nghiên cứu cho thấy rằng có tỷ lệ cao tế bào ác tính trong tủy, có

đến 67,3% số trường hợp có tế bào ác tính >75%, theo bảng 3.9 cho thấy

trong nhóm có tỷ lệ tế bào ác tính máu ngoại vi < 25% (43 trường hợp) có đến

28/43 số trường hợp (chiếm 65,1%) ở tủy xương có tế bào ác tính > 75%,

trong nghiên cứu này chúng tơi chưa xét được tính tương quan giữa của hai

chỉ số này có thể do số lượng mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn nhưng ta thấy

chúng cũng khơng có sự tương đồng khi nhận định sơ bộ. Các tế bào ác tính

này lấn át các dòng tế bào khác trong tủy như dòng bạch cầu hạt, dòng hồng

cầu và dòng tiểu cầu. Dòng hạt tủy xương bị lấn át mạnh, dòng hạt chỉ còn 0



61



-20% trong nghiên cứu này chiếm tới 94,5%, chỉ còn 1 trường hợp có dòng

hạt trong giới hạn bình thường (chiếm 2,1%). Sự lấn át dòng hồng cầu và tiểu

cầu biểu hiện là tỷ lệ bệnh nhân có thiếu máu dựa trên Hb là 72,7%, tỷ lệ bênh

nhân có giảm tiểu cầu ngoại vi là 62,5%. Kết quả này tương đối phù hợp với

nhận xét của các tác giả Trần Thị Hồng Hà (2004), Leblanc T.(2000) [62],[53]

thấy rằng ở tủy xương thường thấy tỷ lệ lymphoblast từ 70-100% khiến các

dòng tế bào bình thường bị lấn át nặng, thậm chí hồn tồn, trong nghiên cứu

này chúng tơi thấy có trường hợp khơng còn bạch cầu hạt trung tính trong

máu ngoại vi, nhiều trường hợp dòng hạt trong tủy xương chỉ còn < 5% thậm

chí khơng còn. Sau giai đoạn điều trị tấn cơng bằng hóa trị liệu khơng còn

bệnh nhân nào có số lượng tế bào tủy tăng, số trường hợp có số lượng tế bào

tủy trở về bình thường chiếm 60,0%, có đến 25,5% có số lượng tế bào tủy

giảm < 30 x109/l, số trường hợp có dòng hạt tủy xương trở về bình thường >

30% chiếm đa số (69,1%), vẫn còn 12,7% số trường hợp có giảm dòng hạt tủy

< 20% đa số những trường hợp này có tỷ lệ tế bào ác tính trong tủy tăng rất

cao ( % tế bào ác tính trong tủy >85%)

4.3 Một số đặc điểm miễn dịch tế bào trong nhóm nghiên cứu trước và

sau điều trị.

4.3.1 Đặc điểm miễn dịch tế bào của nhóm nghiên cứu khi chẩn đốn,

Nhận xét chung về các dấu ấn miễn dịch được nghiên cứu chúng tôi thấy

tế bào non ác tính trong LXM cấp dòng lympho biểu hiện dương tính với các

dấu ấn non CD10,CD38 và CD34 với tỷ lệ rất cao lần lượt là 95,83%, 89,58%

và 66,67%, kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của Ludwig WD và cs



62



(1997), tỷ lệ CD34 dương tính là 58% [59]. Một nghiên cứu khác cũng cho

thấy, CD34 dương tính trong 70% các trường hợp [60],[61]. Dấu ấn CD10

dương tính trong hầu hết các trườn hợp, có 10,42% các bệnh nhi âm tính với

dấu ấn CD38 và dấu ấn CD34 âm tính trong 33,33% số trường hợp. Từ đó

chúng tôi thấy rằng một quần thể tế bào non ác tính khơng nhất thiết phải có

đủ các dấu ấn non, hay nói một cách khác một tế bào non ác tính có thể mang

một hoặc nhiều dấu ấn non. Trong số các dấu ấn đặc trưng dòng lympho B

được khảo sát 100% dấu ấn CD19 có biểu hiện dương tính và mức độ biểu

hiện phần lớn ở mức bình thường (87,5%), có 12,5% có biểu hiện quá mức.

Như vậy ta thấy dấu ấn CD19 là một dấu ấn rất đặc trưng cho tế bào dòng

lympho nói chung và tế bào ác tính dòng lympho nói riêng, đây là dấu ấn rất

tốt để chúng tôi sử dụng để “khoanh vùng” tế bào dòng lympho trong q

trình xác định MRD. Khi phân tích mức độ biểu hiện của dấu ấn non dòng

lympho B là CD10 chúng tôi cũng thấy 95,8% các trường hợp dương tính của

CD10 thì đa số các trường hợp có biểu hiện quá mức chiếm 77,08%, có 9/47

trường hợp có biểu hiện ở mức bình thường, kết quả này phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hà và cs (2014)[45]. Cũng tương tự như dấu

ấn CD10, dấu ấn CD79a dương tính hầu hết trong các quần thể tế bào ác tính

nghiên cứu chiếm 97.92%. Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài

nước cũng cho tỷ lệ dương tính cao, điều này cũng dễ hiểu bởi các dấu ấn này

xuất hiện trong hầu hết các giai đoạn phát triển và biệt hóa của tế bào dòng

lymphoB. Phân tích mức độ biểu hiện của dấu ấn tế bào gốc CD34 chúng tôi

cũng thấy tỷ lệ cao số các trường hợp dương tính của CD34 có biểu hiện quá

mức (58,3%), số trường hợp có mức độ biểu hiện bình thường chỉ chiếm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Một số đặc điểm tế bào máu và tủy xương trước và sau điều trị tấn công.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×